Bài tổng quan
Thành môn: chính mã, tá mã và bảy tầng hiểu cho đúng
Một khoảnh đất bốn mặt có núi vây, chừa đúng một cửa khuyết cho khí và nước ra vào, người xưa gọi cửa ấy là thành môn. Có hướng được cả hai ô bên cạnh giúp sức, có hướng chẳng lấy nổi ô nào. Vì sao cùng là hướng vượng mà kết quả lại khác nhau đến vậy…
Thành môn: cánh cửa để khí vào huyệt
Thành môn là then chốt để khí đi vào huyệt. Đó là nơi ba dòng nước gặp nhau, hoặc chỗ có thế chiếu vào huyệt một cách hữu tình, mà lại hợp với phương vị ngũ hành sinh vượng. Phương vị sinh vượng ấy ở đâu? Là hai cung bên phải và bên trái của hướng. Hướng thuộc thiên nguyên và nhân nguyên, gặp vận tinh Nhất, Tam, Thất, Cửu bay tới cung lân cận thì hợp thành môn. Hướng thuộc địa nguyên, gặp Nhị, Tứ, Lục, Bát bay tới cung lân cận cũng vậy.
Phần lớn thành môn chỉ thuần lấy cách bay nghịch để thu vượng khí, cho nên trong trường hợp đồng nguyên nhất khí thì bỏ dương mà lấy âm. Ngũ của vận tinh nằm ở hướng bên cạnh, nếu có nước bay tới thì cũng luận là thành môn. Khi dùng đồng nguyên lại có phân biệt chính mã và tá mã, lấy cung vị của bàn nguyên đán làm chuẩn. Chẳng hạn cung Kiền của Khảm và cung Khảm của Kiền hợp số sinh thành, nên làm chính mã; những cung còn lại là tá mã, lực yếu hơn. Có khi lấy hướng kiêm ra khỏi cung làm tá mã, lấy quẻ thuần thanh làm chính mã, đây là thành môn chính cách.
Còn biến cách thì ví dụ sao Nhất bày đến vị trí Kiền, ngầm hợp số sinh thành với cung bên cạnh. Cách lấy cửa khuyết của cuộc đất bốn bề có núi bao quanh cũng suy theo đó. Nói chung, khi hướng suy mà có thành môn thì được một điều cát, đủ để bổ cứu; hướng vượng mà có thì càng hưng thịnh. Vì căn do khí ở trung cung không khác nhau, nên hai loại thành môn ấy giống như gấm thêu thêm hoa. Kinh nói:
Bí quyết thành môn rất tốt lành.
Nghĩa là bí quyết thành môn rất quan trọng, nhưng nếu sao suy tử lưu chuyển đến thành môn thì cũng khó tránh hung.
Bảy tầng hiểu về thành môn
Mới nghe thì tưởng chỉ là hai ô bên cạnh hướng, nhưng mỗi ô lại có luật đồng nguyên, âm dương và vận riêng.
Bạch Hạc Minh giải thích rằng thành môn là hai bên đầu hướng; ngoài việc thu khí cát, nó còn chia làm thành môn chính (chính mã) và thành môn phụ (tá mã). Bí quyết này khá phức tạp, người mới học khó nắm chắc, nên ông phân thành từng tầng.
Phép phụ trợ cho tọa sơn lập hướng
Làm nhà theo nguyên vận thì phải tìm cho được vượng sơn vượng hướng mới giúp gia nghiệp hưng vượng. Đã lập được vượng sơn vượng hướng mà còn có vượng khí hai bên hướng phụ trợ thì đã vượng lại càng vượng, như gấm thêm hoa. Nếu không phải vượng sơn vượng hướng, nhưng được vượng khí hai bên hướng giúp, thì tuy tọa hướng không đẹp vẫn có thể phát đạt, như đang gặp khó khăn mà nhận được sự giúp đỡ. Sức phụ trợ ấy là vượng khí của thành môn, tìm bằng bí quyết thành môn.
Vượng khí thành môn đến từ phương nào
Vượng khí thành môn đến từ hai quẻ ở hai bên hướng.
- Lập hướng Ly: vượng khí thành môn đến từ quẻ Khôn và quẻ Tốn.
- Lập hướng Khảm: đến từ quẻ Kiền và quẻ Cấn.
- Lập hướng Đoài: đến từ quẻ Kiền và quẻ Khôn.
- Lập hướng Chấn: đến từ quẻ Cấn và quẻ Tốn.
- Lập hướng Khôn: đến từ quẻ Ly và quẻ Đoài.
- Lập hướng Kiền: đến từ quẻ Khảm và quẻ Đoài.
- Lập hướng Tốn: đến từ quẻ Chấn và quẻ Ly.
Sở dĩ nó đến từ hai bên hướng là vì số sinh thành của tiên thiên bát quái. Lập hướng Ly thì hai quẻ Ly và Tốn hợp thành số Cửu Tứ; Tốn là thành môn chính cách (chính mã), còn nếu quẻ Khôn thu được vượng khí thì gọi là thành môn thiên cách (tá mã, "thiên" nghĩa là lệch). Lập hướng Khảm thì Khảm và Kiền hợp thành Nhất Lục, Kiền là thành môn chính, Cấn thu được vượng khí là thành môn thiên cách. Lập hướng Đoài thì Đoài và Khôn hợp thành Thất Nhị, Khôn là thành môn chính, Kiền là thành môn phụ. Lập hướng Chấn thì Chấn và Cấn hợp thành Tam Bát, Cấn là thành môn chính, Tốn là thành môn phụ. Lập hướng Cấn thì Cấn và Chấn hợp thành Bát Tam, Chấn là thành môn chính, Khảm là thành môn phụ. Lập hướng Khôn thì Khôn và Đoài hợp thành Nhị Thất, Đoài là thành môn chính, Ly là thành môn phụ. Lập hướng Kiền thì Kiền và Khảm hợp thành Lục Nhất, Khảm là thành môn chính, Đoài là thành môn phụ. Lập hướng Tốn thì Tốn và Ly hợp thành Tứ Cửu, Ly là thành môn chính, Chấn là thành môn phụ.
Gọi là "thành môn" vì hình dạng tượng trưng: ngày xưa mỗi phương của thành trì đều có một cổng để ra vào, bên ngoài có hào sâu bao quanh, khí của nước dưới hào cũng ra vào qua cổng ấy. Trong phong thủy nó còn được gọi là "thủy khẩu". Một khoảnh đất bốn mặt có núi vây, chừa một cửa khuyết cho khí bên ngoài vào ra và cho nước bên trong thoát ra, thì cửa đó gọi là thành môn hay thủy khẩu. Hai bên phương vị lập hướng mà có một cửa khuyết hợp yêu cầu thì cũng có thể gọi là thành môn.
Tám cung có tất cả hai mươi bốn sơn hướng, mỗi cung ba hướng, và mỗi hướng phải chọn vị trí hai bên làm thành môn. Hướng thuộc thiên nguyên long thì thành môn phải chọn ở vị trí cũng thuộc thiên nguyên long; hướng nhân nguyên thì thành môn cũng nhân nguyên; hướng địa nguyên thì thành môn cũng địa nguyên. Có vậy mới giữ được khí cùng nguồn, thuần thanh. Khí phải thuần nhất cùng nguồn mới có hiệu quả; nếu pha tạp là phạm bệnh âm dương khác biệt, dễ sinh hung họa. Danh sách thành môn chính và phụ của hai mươi bốn hướng như sau.
| Lập hướng | Thành môn chính | Thành môn phụ |
|---|---|---|
| Tý | Kiền | Cấn |
| Quý | Hợi | Dần |
| Nhâm | Tuất | Sửu |
| Kiền | Tý | Dậu |
| Hợi | Quý | Tân |
| Tuất | Nhâm | Canh |
| Dậu | Khôn | Kiền |
| Tân | Thân | Hợi |
| Canh | Mùi | Tuất |
| Khôn | Dậu | Ngọ |
| Thân | Tân | Đinh |
| Mùi | Canh | Bính |
| Ngọ | Tốn | Khôn |
| Đinh | Tỵ | Thân |
| Bính | Thìn | Mùi |
| Tốn | Ngọ | Mão |
| Tỵ | Đinh | Ất |
| Thìn | Bính | Giáp |
| Mão | Cấn | Tốn |
| Ất | Dần | Tỵ |
| Giáp | Sửu | Thìn |
| Cấn | Mão | Tý |
| Dần | Ất | Quý |
| Sửu | Giáp | Nhâm |
Không phải lúc nào cũng có thành môn để chọn
Về nguyên tắc, hai phương bên cạnh một hướng đã định đều có một thành môn chính và một thành môn phụ. Nhưng vì âm dương của tọa hướng khác nhau, và âm dương của hướng tinh thiên bàn bay đến hai phương bên cạnh cũng khác nhau, nên có ba tình huống: một là hai bên hướng có cả thành môn chính lẫn phụ; hai là chỉ một bên có, bên kia không; ba là cả hai bên đều không có gì để chọn.
Nguyên do thứ nhất là tam nguyên của hướng đã định: hướng là thiên nguyên long thì thành môn cũng phải thiên nguyên long, nhân nguyên đối với nhân nguyên, địa nguyên đối với địa nguyên, có vậy mới giữ được khí cùng nguồn. Nguyên do thứ hai là tính âm dương của bản cung hậu thiên bát quái và của phi tinh thiên bàn. Lấy ví dụ lập sơn Tuất hướng Thìn: thành môn của hướng Thìn là Giáp và Bính, cùng là địa nguyên long nên được khí đồng nguyên. Ở vận 1, phương Giáp có sao Bát, phương Bính có sao Ngũ. Bản cung hậu thiên của Bát là quẻ Cấn, địa nguyên long của Cấn là âm, nên Bát gặp âm bay nghịch, vượng tinh Nhất đến phương Giáp, nghĩa là Giáp có thể làm thành môn phụ của hướng Thìn. Còn Ngũ không có định vị trong hậu thiên, phải theo âm dương của phương Bính để định; phương Bính là dương, Ngũ gặp dương bay thuận nên Cửu đến Bính, không phải vượng tinh Nhất đến Bính, vì vậy Bính không làm được thành môn. Cho nên sơn Tuất hướng Thìn của vận 1 chỉ có thành môn phụ mà không có thành môn chính. Ba ví dụ cho thấy không phải hướng nào cũng có thành môn để chọn.
Ví dụ một: vận 4, sơn Tý hướng Ngọ. Hướng Ngọ thuộc thiên nguyên long, thành môn ở Tốn và Khôn. Vận 4 sao Tam tới Tốn, sao Nhất tới Khôn. Bản cung hậu thiên thiên nguyên long của Tam là âm, nên Tam âm nhập trung cung bay nghịch, vượng tinh Tứ đến Tốn, và Tốn là thành môn chính của hướng Ngọ. Bản cung thiên nguyên long của Nhất cũng là âm, nên Nhất nhập trung cung bay nghịch, vượng tinh Tứ đến Khôn, và Khôn là thành môn phụ của hướng Ngọ. Vì vậy hai bên của sơn Tý hướng Ngọ vận 4 đều có thành môn để chọn. Hai thành môn này bù được chỗ thiếu vượng tinh đáo hướng Ngọ: ở hướng, hướng tinh là Tam, sao thoái khí, không phải vượng tinh, nên phải chọn thành môn có vượng khí để bổ trợ. Cả chính lẫn phụ đều chọn được, khiến ngôi nhà không những không phá tài mà còn phát tài lớn.
Ví dụ hai: vận 7, sơn Dậu hướng Mão. Hướng Mão thuộc thiên nguyên long. Vận 7 sao Nhất đến Cấn, sao Lục đến Tốn. Bản cung hậu thiên thiên nguyên long của Nhất là âm, Nhất âm nhập trung cung bay nghịch nên vượng tinh Thất đến Cấn; Cấn là thành môn chính của hướng Mão. Bản cung thiên nguyên long của Lục là dương, Lục dương nhập trung cung bay thuận nên Ngũ đến Tốn chứ không phải vượng tinh Thất đến Tốn, do đó phương Tốn không có vượng khí thành môn. Vậy ngôi nhà này chỉ chọn được thành môn chính. Nhờ thành môn chính phụ trợ, phương Mão vốn là vượng khí lại càng thêm vượng; hướng tinh ở hướng là Thất, vượng khí đương nguyên.
Ví dụ ba: vận 1, sơn Ngọ hướng Tý. Hướng Tý thuộc thiên nguyên long, thành môn ở Kiền và Cấn. Vận 1 sao Nhị tới Kiền, sao Tứ tới Cấn. Bản cung hậu thiên thiên nguyên long của Nhị là dương, Nhị dương bay thuận, vượng tinh không đến Kiền; Tứ của phương Cấn nhập trung cung bay thuận, vượng tinh cũng không đến Cấn. Cho nên vận 1 không chọn được thành môn nào, sơn Ngọ hướng Tý vận 1 không có thành môn phụ trợ; hướng tinh ở hướng là Nhị, không phải vượng khí, hướng lại phạm thượng sơn nên phá tài.
Thành môn có nhiều loại
Hiểu theo Loan Đầu, với nhà ở thì thành môn là một trong những cảnh quanh nhà như: ngã tư đường, bến cảng, lối người ra vào nhộn nhịp, cửa khẩu nước vào ra, ngã ba sông, chỗ sông uốn lượn, điểm trung tâm của hồ đầm, ao hồ nằm hai bên trái phải (hình tròn mà quang đãng là tốt nhất), hồ chứa nước, đập ngăn nước, đỉnh núi tròn, nhọn mà đẹp.
Hai bên tọa sơn cũng có thể chọn thành môn để vượng thêm về người. Nếu hai bên tọa sơn có đỉnh núi xinh, tòa nhà cao vút, tháp truyền hình, lâu đài cổ, hợp với bí quyết thành môn, thì đều chọn làm thành môn được. Cách chọn là dựa vào danh sách thành môn chính phụ của hai mươi bốn hướng, nhưng đổi hướng thành sơn: ví dụ sơn Canh thì thành môn chính là Mùi, thành môn phụ là Tuất; các sơn còn lại cũng suy như vậy.
Thành môn ngầm
Loại này dùng trong ba tình huống. Một là vận bàn có Ngũ đến hai bên hướng tinh, lại hợp thành khí đồng nguyên. Chẳng hạn vận 6 sơn Tý hướng Ngọ, Ngũ đến Tốn; Ngọ là thiên nguyên long, âm nên bay nghịch, Lục đến Tốn tức là thành môn. Còn sơn Nhâm hướng Bính của vận 6, Bính là địa nguyên long, dương nên Ngũ bay thuận, Tứ đến Tốn, không làm thành môn được.
Hai là hai bên hướng tinh có phi tinh hợp với địa bàn thành số sinh thành: phi tinh Nhất hợp với Kiền của địa bàn, Nhị hợp với Đoài, Tam hợp với Cấn, Tứ hợp với Ly, Lục hợp với Khảm, Thất hợp với Khôn, Bát hợp với Chấn, Cửu hợp với Tốn thì có thể chọn làm thành môn. Ba là hai bên hướng tinh có sao của vận bàn hợp với địa bàn thành số sinh thành, cũng theo đúng những cặp số sinh thành ấy. Ví dụ sơn Mão hướng Dậu của vận 9, vận tinh phương Kiền là Nhất, Nhất hợp với Kiền của địa bàn thành Nhất Lục đồng tông; nếu phương này có ngã ba sông chiếu tới thì là thành môn.
Chỉ dùng trong vận, sang vận khác thì hết tác dụng
Thành môn hai bên đầu hướng có được là do vận tinh nhập trung cung bay nghịch, có vượng tinh đến. Khi thời vận chuyển, vượng tinh thành thoái tinh hay suy tinh thì thành môn lập cho vận trước không còn dùng được nữa; cứ dùng tiếp ắt vận nhà sa sút. Có hai cách giải quyết: một là chọn sơn hướng khác dựng nhà mới để khởi vận mới; hai là sau khi sang vận, nếu sơn hướng ban đầu vẫn gặp vượng sơn vượng hướng thì sửa nhà cũ thành mới.
Ví dụ vận 7 lập sơn Tốn hướng Kiền là phạm thượng sơn hạ thủy, phá tài tổn đinh. Nhưng may hai bên hướng Kiền có vượng khí của phương Tý và phương Dậu làm thành môn phụ trợ nên không suy bại. Qua vận 7, thành môn Tý và Dậu thành khí suy bại, dùng nó thì gia vận suy theo. Cho nên khi sang vận 8, sơn Tốn hướng Kiền gặp phương vượng hướng vượng thì nên sửa sang nhà ở thành mới để đón vượng khí nguyên vận và vượng khí thành môn ở phương Dậu.
Vì sao hai cung thành môn cũng gọi là chiếu thần
Đó là cách gọi phối hợp của chính thần và linh thần. Khi sơn vượng là chính thần, hướng suy là linh thần, nước giúp đỡ là chiếu thần, thì chiếu thần thực chất chính là thành môn.
- Vận 1: sơn Khảm là chính thần, hướng Ly là linh thần, phương Tốn và phương Khôn là chiếu thần, tức Tốn và Khôn là thành môn của Ly.
- Vận 2: sơn Khôn là chính thần, hướng Cấn là linh thần, phương Chấn và phương Khảm là chiếu thần, tức Chấn và Khảm là thành môn của Cấn.
- Vận 3: sơn Chấn là chính thần, hướng Đoài là linh thần, phương Khôn và phương Kiền là chiếu thần, tức Khôn và Kiền là thành môn của Đoài.
- Vận 4: sơn Tốn là chính thần, hướng Kiền là linh thần, phương Khảm và phương Đoài là chiếu thần, tức Khảm và Đoài là thành môn của Kiền.
- Vận 5 quy về hai phương Cấn và Khôn.
- Vận 6: sơn Kiền là chính thần, hướng Tốn là linh thần, phương Ly và phương Chấn là chiếu thần, tức Ly và Chấn là thành môn của Tốn.
- Vận 7: sơn Đoài là chính thần, hướng Chấn là linh thần, phương Cấn và phương Tốn là chiếu thần, tức Cấn và Tốn là thành môn của Chấn.
- Vận 8: sơn Cấn là chính thần, hướng Khôn là linh thần, phương Đoài và phương Ly là chiếu thần, tức Đoài và Ly là thành môn của Khôn.
- Vận 9: sơn Ly là chính thần, hướng Khảm là linh thần, phương Kiền và phương Cấn là chiếu thần, tức Kiền và Cấn là thành môn của Khảm.
Khi chính thần và linh thần không cố định mà đổi theo vận, vượng sơn là chính thần, vượng hướng là linh thần, hai bên vượng hướng là chiếu thần, tức thành môn. Thành môn cũng chỉ là chia thành hai loại: có thể chọn dùng và không thể chọn dùng.
Nguồn: Nguyễn Vũ Anh, Thẩm Thị Huyền Không Học – Phong Thủy Trong Bối Cảnh Kiến Trúc Hiện Đại.
