Bài tổng quan
Chiết thủy theo công vị, long ngàn dặm và chân thần
Hai mươi bốn ngọn núi chia thành bốn dòng long, mỗi dòng nuôi một phòng con cháu từ trưởng đến út. Nước đi theo thứ tự thuận hay đảo ngược quyết định phòng nào hiển vinh, phòng nào phải bỏ quê. Chỉ cần mất chỗ dựa vào quái đến là trộm cướp có thể vào nhà, vì sao vậy?
Mục lục · 8 phần
- 01Chiết thủy theo công vị: bốn dòng long, bốn phòng con cháu
- 02Long đến từ ngàn dặm phải xem núi tổ
- 03Hai quái đông tây và nước rời bản quái
- 04Núi nào hướng nấy: Càn, Mão, Ngọ, Khôn
- 05Ba ban quái và nước đi về mộ khố của thiên quái, địa quái
- 06Chức vị học đường, hãn môn, hoa biểu của nước chảy về tràng sinh
- 07Đường đi của chân thần: tí ngọ giao hội, nước không rời bản quái
- 08Biết hai đường âm dương, tiền kiêm hậu kiêm, linh thần và chính thần
Chiết thủy theo công vị: bốn dòng long, bốn phòng con cháu
Công vị đã nói ở trên; ở đây dùng thứ tự nhất, nhị, tam, tứ phối với các chữ mạnh, trọng, thúc, quý để bàn về cách cắt đặt dòng nước. Tí, Dần, Thìn, Càn, Bính, Ất làm nhất long, chủ về phòng trưởng. Ngọ, Thân, Tuất cùng Khôn, Nhâm, Tân làm nhị long, chủ về phòng thứ hai. Mão, Tị, Sửu cùng Cấn, Canh, Đinh làm tam long, chủ về phòng thứ ba. Dậu, Hợi, Mùi cùng Tốn, Quý, Giáp làm tứ long, chủ về phòng út. Đó là cách người xưa chiết thủy, tức là cắt đặt đường chảy của nước.
Phàm nước của thần can trong đường chiết long thì chủ hạnh phúc trong phòng; nước của thần chi trong đường chiết long thì chủ tai họa. Cần xét thiên quái, địa quái, và ngũ hành khởi chín sao để biết chỗ tiêu tán, chỗ kết tụ, có vậy mới nghiệm được nhất, nhị, tam, tứ long. Bốn kinh ngũ hành tam hợp đều chủ yếu dùng cách này. Cần nhớ rằng câu này dùng đường chiết của nước trước huyệt để bàn, không phải bàn theo công vị, nên chớ dùng lẫn lộn.
Long đến từ ngàn dặm phải xem núi tổ
Long đến ngàn dặm phải xem núi tổ tông. Nước chi đến đi là hung; chỉ có nước Dần, Thân, Tị, Hợi mới có sinh vượng, phúc đức vô cùng.
Phàm nước thì không nên dùng nước của các thần chi, vì nước đến nước đi của chúng đều hung. Chỉ có bốn đường nước Dần, Thân, Tị, Hợi hợp với ngũ hành, sinh ở vị quan vượng, dòng chảy xa thì chủ về phú quý. Song không phải bốn nước sinh này đều dùng như nhau, vì mỗi nước có sinh vượng riêng; cho nên còn phải xem núi tổ tông của chúng. Giáp, Canh, Bính, Nhâm cùng thuộc dương, đi thuận theo ngũ hành; Ất, Tân, Đinh, Quý cùng thuộc âm, đi nghịch theo ngũ hành. Âm dương thuận nghịch khác nhau thì phải tìm ở bên trong, chín sao khởi thư hùng không giống nhau, huyền quan có chỗ diệu dụng. Dùng tam hợp địa quái mà nói thì Giáp, Canh, Bính, Nhâm thuộc dương đều thuận với ngũ hành, Ất, Tân, Đinh, Quý thuộc âm đều nghịch với ngũ hành, nên đường đi của chúng khác nhau. Huyền quan là dương xoay sang trái, âm xoay sang phải; làm vỡ được huyền quan thì tận thiện tận mỹ.
Hai quái đông tây và nước rời bản quái
Hai quái đông tây thật kỳ diệu; phải biết bản quái hướng về nước, bản quái hướng về bốn thần của bản thủy, như thế mới đời đời làm quan.
Đây là hai cục âm dương hợp với hai quái đông tây của thiên và địa, lại phải hợp với quái cha mẹ. Bản quái hướng về quan vượng, nước chảy về mộ của bản quái, rồi rời ngự nhai ở tứ duy mà đi, thì phú quý đời đời bền vững. Ở đây tổng kết hai quái đông tây mà không bàn hai quái nam bắc, vì nam bắc cũng giống như đông tây.
Nước rời bản quái thì chỉ có một đời làm quan. Một khúc chiết là một đời làm quan hưởng bổng lộc; hai khúc chiết là hai đời hưởng phúc; ba khúc chiết thì cha mẹ cũng có phúc. Song sẽ nhanh chóng đón tai họa, vì nước đã rời bản quái.
Đây là lời tổng kết cách dùng ngũ hành chín sao. Nước rời bản quái nghĩa là nước đến chào đón quan vượng từ bản quái, rồi chảy ra ngoài quái.
Núi nào hướng nấy: Càn, Mão, Ngọ, Khôn
Núi Càn hướng Càn có nước đến thì xuất trạng nguyên; núi Mão hướng Mão đón nguồn nước thì giàu nhanh; núi Ngọ hướng Ngọ có nước đến mộ huyệt thì sinh đại tướng; núi Khôn hướng Khôn có nước đến thì phú quý lâu dài.
Câu này dùng Càn, Khôn, Chấn, Ly để chia hai cục âm dương; các cách còn lại đều chiếu theo đó. Núi Càn hướng lên, nước đến hướng Càn, thì ngọn núi Càn phải cao chọc trời mới sinh trạng nguyên; nhưng núi Càn hoàn toàn chẳng phải hướng Càn. Hướng dương Càn có nước chảy tới, hướng âm Mão có nước chảy tới hướng Mão, hướng dương Ngọ có nước Ngọ, hướng âm Khôn có nước đến. Cục âm thì nước đều chảy về mộ huyệt; cục dương thì nước đều đến từ đế vượng. Có người gọi đây là hồi long quay đầu nhìn tổ sơn, cách cục đầu tiên trên mặt đất; cách này cũng chỉ dựa vào cục âm dương để nói.
Phân biệt được hai đường âm dương, phân rõ ngũ hành, thì dù là con cá trạch cũng sẽ vượt sóng gió qua Long môn mà thành rồng.
Âm dương có chỗ khác nhau về thuận nghịch, ngũ hành cũng có đường đi khác nhau. Nếu biết nguồn cội và dùng được nó thì có thể biến hóa rất lớn.
Tốt nhất là chiếu theo tứ thần, như vậy phú quý bền vững; phải biết rõ tình hình bát quái trên mộ huyệt và sắp đặt ổn thỏa quái trong mộ.
Tứ thần là tứ duy. Nước tiến vào đất tứ kim mộ từ chỗ sinh vượng, như vậy mới giàu sang mãi; đó là tác dụng của quái trên mộ huyệt. Quái ở trên phải được sắp đặt rõ ràng và biết nguồn gốc của nó; nguồn gốc ấy chính là sinh vượng.
Ba ban quái và nước đi về mộ khố của thiên quái, địa quái
Muốn phú quý thì xem cát hung của ba ban quái. Nước rời quái thì nghèo hèn. Nước Dần, Thân, Tị, Hợi đến từ rất xa, ngũ hành ẩn trong hướng; Thìn, Tuất, Sửu, Mùi gọi là Kim long động, Kim long động thì nghèo mãi. Nếu mượn nước trở về trong mộ huyệt thì trước giàu sau nghèo.
Ba ban quái là thiên quái, địa quái và quái cha mẹ của âm dương. Thủy thần từ bản quái hợp với quan vượng mà đến thì chủ đại phú quý. Nếu thủy thần đến từ ngoài quái lại không hợp quan vượng thì nghèo túng mãi mãi. Nói từ mộ khố là nói nước hợp với hai quái thiên và địa. Nói tiếp mộ khố là nói nước trở về mộ khố của thiên quái mà không hợp với mộ khố của địa quái, thì đời trước giàu sang mà đời sau nghèo hèn. Nếu nước chảy về mộ khố của địa quái mà không hợp với mộ khố của thiên quái thì nơi sinh ra vương hầu có chỗ khuyết hãm. Nếu nước rời địa quái lại không hợp thiên quái thì nghèo hèn mãi mãi; vì vậy phải dùng phép chiết thủy để hóa giải mới có thể trọn vẹn.
Chức vị học đường, hãn môn, hoa biểu của nước chảy về tràng sinh
Đại đô tinh đều khởi từ một phương vị nhất định. Nếu ngũ hành khởi sinh vượng, hỏa tinh đối với cẩm bài khởi cao cương thì chức vụ ở học đường. Hãn môn, quan quốc, hoa biểu, nước đẹp núi lạ có thể sinh bậc đại quan.
Núi tràng sinh cùng đối diện với bài chính là sao khởi đại đô; nó hợp cục với nước đến thì chủ đại quý. Chỗ quan đới chính là học đường, chỗ suy là hãn môn, chỗ tử huyệt là quan quốc, chỗ mộ là hoa biểu. Long hướng Tham Lang, Cự Môn, Vũ Khúc mà nước nghênh đón núi thì chủ đại phú quý.
Khảm thủy, Ly hỏa đi qua từ giữa trời; ao rồng dịch chuyển về đế tòa; bảo cái, phụng các và tứ duy chào đón; bảo điện phát ra long lâu; la, kiếp, điếu, sát không nên phạm; kim chi ngọc diệp được xếp trong bốn vị mạnh; ngọc ấn giấu trong kim sương.
Phàm chiết nạp thiên tinh là lấy Tí làm đế tòa, Ngọ làm tướng tinh, Dậu làm hoa cái, Càn làm long lâu, Khôn làm bảo cái, Cấn làm phụng các, Tốn làm bảo điện, Tuất làm thiên kiếp, Sửu làm thiên điếu, Mùi làm thiên sát, Tị làm kim chi, Hợi làm ngọc diệp, Bính làm đế thích, Nhâm làm huyền vũ, Ất làm công tào, Tân làm trực phù, Đinh làm đế liên. Đường long đi của nó chiết thủy; được sao cát gặp sinh vượng thì quý hiển, hợp với hung sát gặp tử mộ thì nhiều tai họa. Điều tổng yếu của chiết thủy là phải biết rõ nguồn gốc.
Đế thích đặt ở châu phủ, nó cùng tử vi cùng tiến vào huyền vũ; núi cha mẹ đảo ngược nuôi dưỡng long thần thì phú quý lâu dài.
Đế thích là Bính, thường hướng về châu, phủ, huyện. Tử vi là Hợi, huyền vũ là Nhâm. Cha mẹ đảo ngược nghĩa là như long Hợi âm mộc lập hướng Bính, hợp với Dần, Giáp, Tốn quan vượng, nước cùng về Tuất, Càn, bao quanh bản quái của cha mẹ. Như vậy gọi là cha mẹ nuôi dưỡng long thần, chủ phú quý đời đời.
Đường đi của chân thần: tí ngọ giao hội, nước không rời bản quái
Biết được ba ban quái của cha mẹ chính là đường đi của chân thần. Bảy sao Bắc Đẩu đi trừ kiếp, cần hợp với cung Ly.
Thiên, địa, âm dương cùng đi một đường thì mới là chân thần. Đường đi của nó là núi Tí hướng Ngọ, thành Khảm Ly giao hội; hướng lên phải hợp với hướng của núi, dòng nước không rời bản quái mới là chân.
Lại có một sao phò tá tôn quý. Khôn là vị trí của kim thần; bốn long thần Giáp, Canh, Bính, Nhâm đều thuộc can dương; Cấn, Tốn với Càn, Khôn có hướng nước giống nhau thì phú quý thịnh vượng. Thìn, Tuất, Sửu, Mùi cùng đi một đường thì phú quý phát nhanh.
Khôn là sao phò tá cho quyền quý; thiên quái thuộc kim đóng ở vị trí quan vượng. Giáp, Canh, Bính, Nhâm thuộc dương, Càn, Khôn, Cấn, Tốn thuận theo hướng của dương, cùng thuận khởi ngũ hành mà sắp chín sao. Nếu hợp được với nước của quan vượng thì phú quý song toàn; nếu nước trở về tứ mộ, hợp với hai quái thiên và địa, vợ chồng cùng đi một đường thì phú quý phát nhanh. Ở đây nói về vị dương, vị âm cũng như vậy.
Căn cứ vào quái đến thì cát; mất căn cứ thì trộm cướp xuất hiện; không dựa vào phương vị thì hung.
Căn cứ vào quái đến là chiếu theo ba quái thiên, địa, huyền không để lập hướng và tiêu nạp nước thì mới tốt. Mất hướng của quái thì thành trộm cướp. Không chiếu theo ba quái cha mẹ, thiên, địa thì hung.
Ngoài ra bốn long sơn cương Tí, Ngọ, Mão, Dậu, nếu lấy chúng làm núi tổ thì gia sản sung túc; nước tiến xa trăm dặm có thể phò tá vua chúa, nước ngắn thì chủ tai họa.
Tí, Ngọ, Mão, Dậu là những ngũ hành luôn hướng về vị trí vượng của chính nó; long đến chiếu theo đó thì vượng về người và của. Ngô công nói: Tí, Ngọ là sao thiên kiếp, Mão là sao tướng, Dậu là sao hoa cái. Nếu nước của chúng đến từ sông ngòi khe rạch, dòng chảy xa, hợp với cung vị của bản quái, ứng với cục, long thần mạnh mẽ thì chủ sinh ra danh tướng. Nếu nước ngắn mang theo sát thì tổn hại phú quý. Nếu đi qua vị mộc dục thì nam nữ dâm loạn. Long suy nhược mà đại quái cương cường thì chủ tai họa do trộm cướp gây ra. Ý ở đây là phải hợp với địa quái.
Biết hai đường âm dương, tiền kiêm hậu kiêm, linh thần và chính thần
Biết rõ âm dương vận hành theo hai đường thì phú quý song toàn; bằng không tai họa giáng xuống.
Núi lập hướng phải phân rõ ngũ hành, âm dương, thuận nghịch, sinh tử thì mới có phú quý song toàn.
Tiền kiêm long thần, tiền kiêm hướng, không nên đặt liên tục; hậu kiêm long thần, hậu kiêm hướng, sắp đặt xong thì phải phân âm dương, linh thần và chính thần.
Tiền kiêm hậu kiêm là chỉ thiên quái là tiền kiêm hậu, địa quái là hậu kiêm tiền. Phàm định cát hung họa phúc theo ngũ hành, âm dương, thuận nghịch đều dựa vào điều ấy. Linh thần và chính thần là: chi mạch là chính thần, can mạch là linh thần. Núi hướng và đường chiết thủy phải tính từ ngũ hành của linh thần thì mới có phú quý cát lợi. Càn, Giáp, Đinh nối nhau chính là tiền kiêm hậu; Hợi, Mão, Mùi là hậu kiêm tiền. Biết vậy thì chín sao không ra khỏi tam hợp, thiên quái và địa quái.
Nguồn: Lưu Bá Ôn, Địa Lý Toàn Thư, tập 2.
