Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Khuyên Thiện

Bài tổng quan

Tính mệnh song tu và phép khảm điền ly trong nội đan

Đạo Học - Khuyên Thiện03/10/202611 phút đọc3 lượt đọc
Tính mệnh song tu và phép khảm điền ly trong nội đan

Người tu nội đan nói chuyện Khảm Ly, Càn Khôn như nói chuyện chính trong nhà mình. Hai chữ tính mệnh họ hay nhắc, hóa ra đã nằm sẵn trong Dịch từ rất xa. Và có một chiều đi ngược dòng khiến Khôn trở lại thành Càn...


Vì sao luyện đan trong phải mượn tiếng nói của Dịch

Từ khi Ngụy Bá Dương đời Đông Hán đem dịch lý dẫn vào thuật luyện đan, việc tu luyện nội đan của Đạo gia đã có một ngọn đèn soi đường. Trước đó người tu chỉ mò mẫm bằng kinh nghiệm. Sau đó họ có một khung lý luận chặt chẽ, vì quẻ Càn, quẻ Khôn, Khảm, Ly và cả sáu mươi bốn quẻ đều có thể gắn vào từng chặng của việc luyện. Không riêng Chu Dịch tham đồng khế, hầu như mọi bộ đan kinh về sau đều xây trên nền ấy: Âm phù kinh, Ngộ chân thiên, Tính mệnh khuê chỉ, Hoàng đình kinh, Thái bình kinh, Vô cực đồ. Hàng trăm đan thư khác chỗ nào cũng thấm nội dung của Dịch.

Các đan thư nói rất thẳng về điều đó. Có sách dặn người học đạo trước hết phải rõ ngũ hành, sau đó thông bốn tượng, biết phép đảo lộn âm dương, rồi mới dùng được phép của bảy báu, và mọi việc đều dựa vào tạng phủ, trong đó bát quái nằm ngay bên trong thân. Có sách dạy người đi tu phải trên biết thiên văn, dưới biết địa lý, thấu âm dương và quái tượng. Cũng có sách mô tả việc luyện bằng những hình ảnh rất Dịch: xoay vần âm dương như cánh quạt, đi hết ba trăm sáu mươi vòng, vượt qua bảy mươi hai tình huống, dựng cổng bát quái, khống chế long hổ, lấy Càn Khôn làm lò đỉnh. Chỉ cần nghe giọng văn ấy cũng đủ thấy dịch lý và đan đạo gắn với nhau như xương với thịt.

Nội luyện của Đạo gia có hai trụ cột. Một là song tu tính mệnh, hai là lý luận phản hoàn, đi kèm với phép điều hòa lửa. Cả ba đều có rễ trong Chu Dịch, và nối nhau thành một chuỗi: biết mình gồm những phần nào, đưa chúng quay về chỗ nào, và vận hành ra sao cho đúng nhịp.

Tính và mệnh: hai nửa của một con người

Hai chữ tính và mệnh được nói đến nhiều trong đạo thuật, nhưng ít ai biết chúng đã nằm sẵn trong Dịch từ rất xa.

Chu Dịch lấy Càn và Khôn làm lò luyện, lấy Khảm và Ly làm nguyên liệu, lấy Chấn và Tốn làm túi đựng. Rồi Dịch lại cho mười hai quẻ tiêu tức tương ứng với vòng đi của mặt trời và mặt trăng, nhờ đó mà nhịp biến hóa âm dương trong cơ thể người tu khớp với nhịp của trời đất. Tiểu vũ trụ trong thân hòa làm một với đại vũ trụ bên ngoài. Cái thang đo cao nhất của việc tu luyện chính là sự hòa hợp đó, và lý luận nội đan mọc lên từ đấy.

Còn về tính mệnh, Chu Dịch có hai đoạn chép rõ. Đoạn thứ nhất nói thánh nhân làm ra Dịch, thầm giúp thần minh mà sinh ra cỏ thi, lấy ba của trời hai của đất làm số, xét sự biến của âm dương để lập quẻ, phát huy sự cương nhu để sinh hào, hòa thuận với đạo đức mà lý lẽ hợp nghĩa, rồi cùng lý tận tính để tới mệnh. Đoạn thứ hai nói thánh nhân làm Dịch là để thuận theo lẽ của tính mệnh: lập đạo trời gọi là âm với dương, lập đạo đất gọi là nhu với cương, lập đạo người gọi là nhân với nghĩa.

Cùng lý tận tính dĩ chí ư mệnh.

Đọc hai đoạn ấy, người ta hiểu tính mệnh trong Dịch là gì. Nói rộng, đó là quy luật tự nhiên của vũ trụ và số phận của mọi sinh linh. Nói hẹp, đó là ý thức tinh thần của con người và năng lực sinh lý của thân thể. Ở trời thì gọi là mệnh, ở người thì gọi là tính. Hai thứ ấy không tách nhau được: không có mệnh thì tính không đứng vững, không có tính thì mệnh không còn lại. Trong hai thứ, tính là bên dẫn đường, vì năng lực sinh lý của người do ý thức tinh thần cai quản, còn số phận của sinh linh thì tùy vào quy luật biến hóa của trời đất. Thiên mệnh thì chẳng ai chống nổi, nhưng ngay trong đó vẫn có chỗ để thay đổi, và đó chính là phần tinh túy của việc tu tính mệnh.

Từ đấy mới thấy cái gọi là sống lâu trong đạo thuật không đơn giản là kéo dài số tuổi. Tu cho tính mệnh thuận là tu cho mình hợp với nhân nghĩa, tức là có một mệnh có nhân có đức, một mệnh có nghĩa, chứ không phải mệnh trơ trọi. Tại đây nhà Nho và nhà Đạo chạm vào nhau: Nho nói người có nhân thì thọ, Đạo thì nói tiên nhân, chân nhân là mục đích tối cao của song tu tính mệnh. Nói bằng ngôn ngữ khác, nhưng cùng chỉ vào chuyện phẩm hạnh có ảnh hưởng đến sức sống của thân.

Cũng cần nhìn lại bước đi của chính nội đan trong lịch sử. Thời Bắc Tống người ta lấy tu tính làm tôn chỉ. Thời Nam Tống người ta lại lấy tu mệnh làm việc chính, nhưng rồi chịu ảnh hưởng của lối tu tâm tính trong Thiền tông nhà Phật mà quay về lấy tu tính làm chủ. Đi qua mỗi thời, vị trí của hai chữ lại nhích một chút, nhưng nền của chúng vẫn nằm trong Dịch.

Điều thú vị là trong năm nghìn chữ của Lão Tử không hề xuất hiện hai chữ tính mệnh. Thế mà các đạo gia cho rằng tính mệnh thật ra chính là đạo đức: tính tức là đức, mệnh tức là đạo. Lão Tử nói Đạo pháp tự nhiên, vậy Đạo là quy luật tự nhiên của vũ trụ, tức tính. Còn Đức mà ông nói là cách nắm được muôn vật trong tự nhiên, trong đó có cả con người, tức cũng là tính. Cho nên tu tính mệnh chung quy là tu đạo đức, và đây là chỗ Dịch với Lão Tử gặp nhau. Dịch nhấn mạnh trời đất lấy sinh làm đức lớn, nhấn mạnh việc tích đức, giữ đức lâu dài, giữ đức khiêm. Lão Tử cũng nói Đạo sinh ra, Đức nuôi dưỡng, nên muôn vật không ai là không tôn Đạo mà quý Đức.

Vì vậy, khi nói tu tính, Chu Dịch muốn người ta đi cả hai con đường cùng lúc: tu đạo trời bằng cách nắm được quy luật cương nhu, âm dương, và tu đạo người bằng nhân nghĩa. Nhóm đạo gia về sau lấy đó làm tôn chỉ của song tu tính mệnh.

Phản hoàn: đưa Khôn trở về Càn

Nếu tính mệnh là câu hỏi mình là ai, thì phản hoàn là câu trả lời đi ngược dòng để trở về nơi mình đã đến.

Phép phản hoàn là nguyên lý then chốt của nội đan, vừa bắt nguồn từ lời Lão Tử về chuyện trở về như trẻ sơ sinh, trở về chỗ mộc mạc, vừa gắn chặt với Càn Khôn, Khảm Ly, bát quái tiên thiên và hậu thiên, cùng Hà Đồ Lạc Thư. Người đầu tiên nói rõ về phản hoàn bằng ngôn ngữ của Dịch là Ngu Phiên. Ông viết rằng lấy Càn suy ra Khôn thì gọi là cùng lý, lấy Khôn biến lại Càn thì gọi là tận tính, tính tận lý cùng thì tới mệnh. Đạo Càn biến hóa khiến mỗi bên giữ đúng tính mệnh của mình: dương thuận theo tính, âm thuận theo mệnh.

Hình ảnh nằm dưới câu ấy khá dễ hiểu. Khi con người mới sinh ra, Khảm Ly giao nhau, nước lửa hòa nhau, Càn Khôn giao cấu. Một hào dương của quẻ Càn rơi vào quẻ Khôn thành ra quẻ Khảm. Một hào âm của quẻ Khôn đặt lên quẻ Càn thành ra quẻ Ly. Bát quái tiên thiên đổi thành bát quái hậu thiên, và con người trở thành phàm nhân. Đó là chiều thuận, chiều của sự sinh ra người. Còn người tu thì đi chiều ngược: lấy hào dương trong Khảm bù lại cho Ly, để Càn Khôn trở về nguyên vẹn, thành tiên. Đó là chiều nghịch, gọi là Khôn biến Càn, hay phản hoàn.

Tính mệnh khuê chỉ nói chuyện này bằng giọng thơ. Hào dương giữa Khảm vốn thuộc Càn, rơi vào Khôn nên hãm lại. Hào âm giữa Ly vốn thuộc Khôn, được phối vào Càn nên thành Ly. Thánh nhân mượn ý Hoàng Bà, dẫn nước vàng trong Khảm phối với huyền nữ trong Ly, vợ chồng gặp nhau một lần thì biến thành Càn thuần, gọi là lấy Khảm lấp Ly, trở lại bản thể tiên thiên của ta. Nếu nhìn từ lý thuyết thái cực, đó chính là đi ngược về chỗ thái cực, trở về chốn hỗn độn tròn đầy chưa phân. Bức Vô cực đồ của Trần Đoàn đời Tống đã vận dụng thật trọn lý này, lấy thái cực làm sơ đồ của phép lấy Khảm lấp Ly, nâng lý luận nội luyện lên một bước mới.

Hà Đồ Lạc Thư cũng được kéo vào bản đồ ấy, vì số sinh thành của chúng tương ứng với ngũ tạng trong thân. Trời một sinh nước ứng với thận, đất hai sinh lửa ứng với tâm, trời ba sinh mộc ứng với can, đất bốn sinh kim ứng với phế, trời năm sinh thổ ứng với tỳ. Các nhà nội luyện mượn số kim và số hỏa để nói chuyện kim hỏa phản hoàn, còn gọi là thất phản cửu hoàn. Hà Đồ đại diện ngũ hành tiên thiên, Lạc Thư đại diện ngũ hành hậu thiên, và người luyện mượn hai bên để đưa kim hỏa trở về đúng vị trí gốc của chúng. Rồi từ đó có ngũ khí quy nguyên: khí thận ở phương bắc ứng số một, khí can ở phương đông ứng số ba, khí tâm ở phương nam ứng số bảy, khí phế ở phương tây ứng số chín, khí tỳ ở trung ương ứng số năm. Năm khí ấy trở về làm một, đó là nguyên lý ngũ khí quy nguyên. Riêng tỳ thổ ứng số năm không có vị trí cố định, nhưng vượng trong bốn phương, nên quay về trung ương cũng chính là quay về chỗ trống rỗng ở giữa, cái hư của lòng mình.

Hỏa hầu: khi nào tiến lửa dương, khi nào lui bùa âm

Có đúng hướng rồi vẫn chưa đủ, người luyện còn phải biết nhịp, và nhịp ấy được mượn từ hình ảnh mặt trời, mặt trăng.

Biết lúc nào nên thêm, lúc nào nên bớt là phần quan trọng nhất của nội luyện, người xưa gọi là hỏa hầu. Cái khéo ấy bắt nguồn từ lý âm dương tiêu trưởng của sáu mươi bốn quẻ Chu Dịch. Các nhà Dịch học đời Hán như Mạnh Hỷ, Kinh Phòng chọn ra mười hai điểm đỉnh trong sáu mươi bốn quẻ, gọi là quẻ bích hay quẻ tịch, ghép chúng vào can chi, tức nạp giáp, nạp chi, để việc dùng sáu mươi bốn quẻ càng thuận tay. Ngụy Bá Dương rồi đem mười hai quẻ ấy dẫn sang nội luyện.

Mười hai quẻ này còn gọi là mười hai quẻ tiêu tức. Từ quẻ Phục đến quẻ Càn là thời dương lên, âm xuống. Ấy là quãng một năm từ đông đến hạ, một tháng từ mồng một đến ngày rằm, một ngày từ giờ Tý đến giờ Ngọ. Thời ấy hợp dùng lửa võ, tức nhịp thở mạnh, để đẩy khí lên mạch Đốc, gọi là tiến dương hỏa. Ngược lại, từ quẻ Cấu đến quẻ Khôn là thời âm lên, dương xuống, tức quãng một năm từ hạ đến đông, một tháng từ rằm đến mồng một, một ngày từ giờ Ngọ đến giờ Tý. Thời ấy dùng lửa văn, tức nhịp thở dịu, để hạ khí xuống mạch Nhâm, gọi là thoái âm phù.

Chu Dịch tham đồng khế có câu điều hòa hỏa hầu để cân âm dương, và câu Khảm là sao mặt trăng ngày Mậu, Ly là ánh mặt trời ngày Kỷ. Mặt trời mặt trăng làm Dịch, cương nhu phải tương đương. Nghĩa là nhịp lửa trong thân được lấy theo sự lên xuống của nhật nguyệt, và cái lẽ cương nhu cứu giúp nhau của Dịch là gốc cho lý luận của phép ấy.

Ba trụ cột vừa nói, song tu tính mệnh, phản hoàn, lấy Khảm lấp Ly cùng phép hỏa hầu, đã cho thấy lý luận Đạo gia không chỉ mọc từ thuyết Hoàng Lão mà còn lấy dịch lý làm nguồn chính. Dịch không phải món đồ trang sức đặt cạnh việc tu đạo, mà là bộ khung xương của nó. Sự có mặt của dịch lý đã mở một lối đi mới cho nội luyện, trao cho nó sức sống mới, khiến nhiều người hơn tiếp nhận nó, và cũng gieo hạt giống cho sự hòa hợp giữa hai nhà Nho và Đạo.

Nguồn: Dương Lực, Kinh điển văn hóa 5000 năm Trung Hoa - Tập 4, thuật lại có lược bớt.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Khuyên Thiện