Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Khuyên Thiện

Bài tổng quan

Vương Phu Chi: âm dương đối nhau, động là gốc, mỗi thời có đạo riêng

Đạo Học - Khuyên Thiện03/10/202611 phút đọc1 lượt đọc
Vương Phu Chi: âm dương đối nhau, động là gốc, mỗi thời có đạo riêng

Nước vẫn là nước, nhưng lạnh quá thì thành băng, nóng quá thì sôi bọt. Vương Phu Chi dùng hình ảnh giản dị ấy để nói về hai mặt đối nhau trong mọi vật, rồi từ đó đi tới một kết luận ít ai dám nói lúc bấy giờ về cái đạo của từng thời…


Âm dương đối nhau mà nương nhau

Vương Phu Chi gom nhiều dòng tư tưởng cổ Trung Hoa, nhưng gốc rễ vẫn là Chu Dịch. Ông gay gắt phê phán lối nghĩ lấy tinh thần làm gốc của Phật và Đạo, nhưng cũng biết lấy từ Lão Tử những chỗ hợp lý. Cách nhìn thế giới của ông trước hết dựa trên ý rằng mọi vật đều có hai mặt đối nhau mà gắn với nhau, một ý đã nằm sẵn trong Dịch. Trong Chu Dịch, âm và dương luôn đối lập nhưng cũng nương tựa, ràng buộc, cùng tồn tại; thái cực đã chứa sẵn mối quan hệ nương nhau ấy, và Hệ Từ qua thuyết âm dương gom hai mặt đối lập của vạn vật vào một.

Vương Phu Chi kế thừa và đi xa hơn. Ông bàn đến âm dương, cương nhu, thủy hỏa của Dịch, và viết:

Chu Dịch là chỗ đạo trời hiện ra, chỗ tính được cất giấu, chỗ công của bậc thánh. Âm dương, động tĩnh, sáng tối, co duỗi, đều có chỗ nên và thần thì chạy qua đó.

Âm dương mỗi bên thành tượng của mình thì đối nhau; cương nhu, lạnh ấm, sống chết, ắt phản nhau mà lại thành nhau.

Ông còn nói trời đất biến hóa, quy lại chỉ có hai đầu. Hai đầu ấy là hư và thực, động và tĩnh, tụ và tán, trong và đục; nếu bỏ đi một bên thì chỉ còn cái "thái hư" vốn không có gì để nói. Chính vì hai đầu cùng tác động mới thành ra những vẻ đối lập, và từ đó ta mới thấy được cái động, cái tĩnh, cái tụ, cái tán, cái hư, cái thực, cái trong, cái đục của một thực thể hòa hợp. Ông lấy ví dụ nước: nước vẫn chỉ là một thể, nhưng lạnh quá thì đóng băng, nóng quá thì sôi lên; nước sôi và băng khác nhau mà đều là những vẻ thường thấy của nước. Cũng vì thế ông say mê thuyết âm dương của Chu Dịch, và viết:

Trong khoảng đầy của trời đất, chỉ có âm dương mà thôi.

Không có âm mà không có dương, không có dương mà không có âm; hai bên cùng nương nhau mà không rời.

Hai bên không cùng đứng được thì một bên cũng không hiện ra; một bên không hiện ra thì công dụng của cả hai mất theo.

Một chia thành hai, hai hợp thành một

Có những thứ nhìn bề ngoài tưởng đã rời nhau, nhưng thật ra chưa từng rời. Ông gọi ý ấy bằng hai câu ngắn, đối nhau.

Cách nhìn của ông còn thể hiện ở hai câu "một chia thành hai" và "hai hợp thành một". Ông nói hợp hai làm một chính là điều vốn có từ lúc một chia làm hai. Mối quan hệ giữa hợp và phân là mối quan hệ đối lập mà thống nhất, không tách rời nhau được. Đã nói phân thì phải có hợp, đã nói hợp thì phải có phân. Phân và hợp của ông cũng chính là đóng và mở của Chu Dịch. Ông còn nói nguyên nhân dẫn đến phân và hợp bắt nguồn từ sự vận hành của chính vạn vật chứ không phải do thần linh nào làm chủ:

Hợp là lúc âm dương ban đầu vốn là một. Rồi động tĩnh chia ra thành hai; đến khi thành lại hợp âm dương làm một.

Ông còn nêu một quy luật gồm ba nhịp: lúc đầu hợp, giữa chừng phân, cuối cùng lại hợp. Theo ông, chu trình hợp, phân, hợp ấy bao trùm cả đường phát triển của sự vật, và ảnh hưởng đến hậu thế rất sâu. Ông nhìn nhận rằng gom lại thì thành một, tách ra thì mỗi cái thành một riêng.

Nhưng trong mối quan hệ phản nhau mà sinh nhau, ông nhấn nhiều vào chữ sinh, chữ hợp, chữ thuận, ít chú ý tới tính tuyệt đối của chuyện đối chọi và chuyển hóa. Vì vậy có người nhận xét cách nhìn của ông có xu hướng hòa dịu những mâu thuẫn hơn là đẩy chúng đến cùng.

Cùng thì đổi, đổi thì thông

Về chuyện các mặt đối nhau chuyển hóa thế nào, Vương Phu Chi chịu ảnh hưởng của Chu Dịch với những ý như rồng lên cao quá thì hối hận, và dựa vào đó nêu lên quy luật chuyển hóa của vạn vật. Đồng thời, ông nhận từ Lão Tử hai ý "quay lại là chuyển động của đạo" và "họa phúc nương nhau", để đưa quy luật ấy lên cao hơn. Ông thu nhận trọn nguyên tắc chuyển hóa tích cực "trời đi mạnh mẽ, quân tử cũng tự cường không nghỉ" của Chu Dịch, còn bỏ đi cái lẽ chuyển hóa buông xuôi "không muốn không làm" của Lão Tử. Ông viết:

Nói theo khí thì âm dương mỗi bên thành một tượng, hai tượng đối nhau; cương nhu, ấm lạnh, sống chết, ắt phản nhau nhưng xét đến cùng thì giúp nhau mà thành, không có lẽ đối địch đến tận cùng.

Phản nhau nên chính chỗ ấy mới gặp nhau mà thông.

Nghĩa là hai mặt mâu thuẫn vừa loại nhau vừa chứa lẽ thống nhất. Ông nhấn mạnh việc chuyển hóa, tức nhấn mạnh sự chủ động và sự quý trọng, nhằm khích lệ mọi người tích cực tạo điều kiện cho sự chuyển hóa, chủ động đổi vận của mình chứ đừng chịu bó tay thụ động.

Động là gốc, tĩnh chỉ là tạm

Một hòn núi nhìn thì đứng yên, nhưng đến người đang đi trên núi cũng đang đi qua cái động của trời đất.

Chu Dịch luôn giữ ý rằng vận động là vĩnh viễn, tuyệt đối. Ngay ở bước đầu của sự vận động, Dịch đã nhấn vào khởi đầu của cái động, chứ không phải của cái tĩnh; câu "trời đất nhân uân, vạn vật hóa thuần" nói điều đó, vì nhân uân chính là dạng vận động sớm nhất của vật chất. Trong tám quẻ, nguyên lý này cũng hiện ra: dương chủ động, âm chủ tĩnh; quẻ Chấn là sấm, chủ động; quẻ Cấn là núi, ở dạng tĩnh. Dịch còn cho thấy qua những cặp đóng mở, cương nhu, và câu "Dịch cùng thì biến, biến thì thông, thông thì bền lâu". Ngay trong đồ thái cực cũng có câu "động mà sinh dương, tĩnh mà sinh âm", cho thấy cái động và cái tĩnh tác động lẫn nhau trong sự vận hành của âm dương.

Điều ấy hoàn toàn trái với Đạo gia. Chu Dịch cho rằng vận động là tuyệt đối, yên tĩnh là tương đối. Đạo của Lão Tử đứng cao hơn cả cái "âm", tức đứng trên thái cực, là một cái tĩnh vượt lên, nên xét cho cùng vẫn là tĩnh. Vũ trụ quan của Chu Dịch trọng động, của Lão Tử trọng tĩnh, hai bên khác nhau từ gốc và cũng cho thấy thái độ khác nhau đối với đời sống xã hội.

Vương Phu Chi phát triển ý ấy rồi nói về cái "thái hư" bằng những câu rõ ràng:

Thái hư vốn là cái động. Cứ động mà đi vào động, không nghỉ, không đọng.

Khí của trời đất luôn sinh ra từ động mà không sinh ra từ tĩnh.

Động là then chốt của đạo, là cái dụng của đức.

Ông cho rằng động là vĩnh viễn, tuyệt đối, tĩnh là tương đối, tạm thời; nhưng ông cũng nói động và tĩnh cùng chứa nhau, là gốc của vạn biến. Động có tĩnh trong nó, tĩnh lại có động trong nó. Ông viết rằng đang động tức là đang tĩnh, đang tĩnh lại là đang động; tĩnh là cái tĩnh của động chứ không phải là bất động; một động một tĩnh là sự đóng mở của vạn vật. Nghĩa là trong vũ trụ không có cái động tuyệt đối hay cái tĩnh tuyệt đối, và hai cái không thể đứng một mình.

Thế giới quan ấy tạo nền cho một lối sống tích cực, tham gia vào đời, đúng với tinh thần chuộng động, quý sự sống và ngày một mới của Nho học Khổng Mạnh. Ông viết một câu rất đáng nhớ: người đời gọi là động thì người quân tử gọi là sinh; người đời gọi là sinh thì người quân tử gọi là động.

Hôm nay không phải là hôm qua

Mặt trời mọc mỗi sáng trông như nhau, nhưng ánh sáng của hôm nay vốn không phải của hôm qua.

Cách nhìn về sự đổi thay của ông cũng bắt nguồn từ Chu Dịch, nơi viết ngày một mới là đức thịnh, và sinh sinh gọi là Dịch. Chữ "Chu" trong "Chu Dịch" có hai cách hiểu: một là Dịch của nhà Chu, hai là quy luật chuyển hóa, biến đổi không ngừng. Vương Phu Chi nói rằng trời đất hóa sinh ngày một mới, và từ đó rút ra cách nhìn xã hội: theo thời mà đổi mới, xét cái cũ để biết cái mới. Ông tiếp nối ý của Khổng Tử về dòng nước trôi đi không ngừng. Ông viết:

Mặt trời mặt trăng hôm nay không phải là cái sáng của hôm qua.

Nóng lạnh của năm nay không phải là khí của năm ngoái.

Nghĩa là mọi thứ của hôm nay hình như là sự gặp lại của hôm qua nhưng thực ra không phải. Ông nói "chất mỗi ngày một đổi mà hình như cũ": bề ngoài giống nhau, bên trong đã đổi hẳn. Mọi sự vật đều đổi mới, không bao giờ gặp lại nhau, và ông dựa vào đó nhấn mạnh việc quý sự sống. Ông cũng nói mọi vật biến đổi vì mâu thuẫn bên trong chính nó: vạn vật khác nhau sinh ra là nhờ hai khí. Nghĩa là mọi sự vật được sinh ra trong quá trình vận động của âm dương nằm ngay trong vật chất.

Chu Dịch có câu "âm dương không lường được gọi là thần", chỉ ra rằng quy luật biến đổi của sự vật sâu xa khó đoán. Vương Phu Chi phát triển nguyên lý đó và bàn về "thường" và "biến": thường là quy luật bình thường của biến hóa, biến là quy luật đặc thù của sự vận động. Trong mối quan hệ này, biến là tuyệt đối, thường là tương đối. Ông nhấn mạnh rằng nhờ có cái thường mà đạt tới được cái biến, nên con người phải phát huy hết tính tích cực để từ thường đi tới biến. Ông viết:

Biến ở nơi trời, thường ở nơi người. Giữ cái thường để ứng với cái biến, cần cái biến để biết cái thường.

Cho nên bậc thánh nhân ở trong cái thường mà trị cái biến, ở trong cái biến mà có cái thường.

Ông còn nói đến quan hệ giữa "một" và "muôn": từ một mà xem muôn, muôn cũng chính là một; trời ở trong cái một mà thống nhất được cái muôn, rồi từ muôn mà hợp lại thành một. Trong mỗi cái riêng có chứa cái chung, và mỗi cái chung nằm trong từng cái riêng.

Quý sự sống, và mỗi thời có đạo của thời ấy

Tư tưởng "biến dịch, ngày một mới, sinh sinh" là mạch trung tâm xuyên suốt Chu Dịch: Dịch cùng thì biến, biến thì thông, thông thì bền lâu; ngày một mới gọi là đức thịnh; đức lớn của trời đất gọi là sinh; sinh sinh gọi là Dịch. Dưới tầm nhìn vũ trụ ấy, nhân sinh quan của Chu Dịch cũng mạnh mẽ và hướng lên: trời đi mạnh, quân tử tự cường không nghỉ. Vương Phu Chi tiếp nối đầy đủ mạch ấy. Ông nói phải quý cuộc sống của mình, cuộc sống không thể không quý; sống là để truyền nghĩa, nên cuộc sống thật đáng quý. Đức lớn của thiên hạ là sinh sôi, trân trọng sự sinh sôi của đức, đó là người vậy.

Về Chu Dịch, ông còn có một công riêng. Thời Ngụy Tấn huyền học nở rộ, dùng quan điểm đạo của Lão Tử để giải Chu Dịch, khiến việc nghiên cứu Dịch sa vào lối nghĩ tinh thần thuần túy. Vương Phu Chi dẫn việc đó sang một hướng mới. Ông khẳng định biến dịch là tuyệt đối, bất biến là tương đối; và ông cực lực phản đối quan điểm "trời không đổi thì đạo cũng không đổi" của lý học đời Tống. Ông viết thế này:

Cái ở trên hình không phải là vô hình; đó vẫn là có hình. Có khí rồi sau mới có hình; có hình rồi sau mới có cái ở trên hình.

Không có cái khí ấy thì không có cái đạo ấy. Buổi hồng hoang chưa có đạo của việc nhường ngôi; thời Đường, Ngu (Nghiêu, Thuấn) chưa có đạo của việc đánh kẻ có tội; thời Hán, Đường chưa có đạo của hôm nay; thì hôm nay cũng chưa có đạo của những năm sau.

Ông nhấn mạnh gốc của đạo là khí, hữu hình có trước vô hình; vật chất đứng thứ nhất, thiên lý đứng thứ hai; và vật chất luôn đổi thay. Như thế, mỗi thời có đạo của thời ấy, không có cái đạo nào đứng yên ngoài dòng đổi thay của khí. Cách ông đẩy tư tưởng Chu Dịch về phía biến đổi và sự sống được xem là một đỉnh của Dịch học cổ.

Nguồn: Kinh điển văn hóa 5000 năm Trung Hoa - Tập 2 (Dương Lực), thuật lại có lược bớt.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Khuyên Thiện