Bài tổng quan
Nạp giáp, quái khí, quái biến làm bát quái chuyển động
Ba nét liền đứng yên trong một bức vẽ, nhưng khi mang tên một vị can và một con chi thì nó bắt đầu đi theo ngày, theo trăng. Rồi mỗi tiết khí lại có một quẻ ra ngồi chủ sự, và sáu hào của nó không còn đứng yên như sáu cái cọc...
Bát quái nạp giáp, khi quẻ mang tên can và chi
Tác giả nói rằng toàn bộ các bộ phận của bát quái, cùng với thời gian, thái cực và Lạc thư qua các đời, đều phát triển mạnh. Sự phát triển của dịch đồ đã nâng cao trình độ dịch lý và ảnh hưởng sâu xa đến dịch học; dù gặp khủng hoảng của lịch sử, sức sống của bộ môn này càng mãnh liệt, phong phú, chiếm địa vị quan trọng trong dịch học và ngày càng đi sâu vào dân chúng. Trước hết là sự phát triển của hệ thống bát quái đồ, bắt đầu bằng thuyết bát quái nạp giáp, kể cả nạp chi, và ảnh hưởng của thuyết ấy.
Bát quái nạp giáp là một bộ phận phát triển lớn của bát quái đồ, tức là ứng dụng bát quái phối hợp với thiên can để mở rộng bát quái. Phép này do Kinh Phòng đời Tây Hán sáng tạo, hưng thịnh ở thời Hán, được mở rộng ứng dụng trong các môn chiêm bốc, lịch toán và y học, tạo ảnh hưởng quan trọng cho sự phát triển của bát quái. Tác giả chia thành mấy loại.
Nạp giáp của Kinh Phòng
Kinh Phòng đời Tây Hán được xem là người đầu tiên sáng tạo bát quái nạp giáp. Cụ thể ông phân biệt sự phối hợp giữa bát quái với can chi, sự đối ứng của sáu hào với địa chi. Vì mười thiên can đứng đầu là Giáp, mười hai địa chi đứng đầu là Tý, nên có tên là bát quái nạp giáp và bát quái nạp chi. Cụ thể là phân bát quái thành tám cung quái, phối với mười can, rồi cho sáu hào ứng với mười hai chi, và chia bát quái làm hai tổ âm và dương, nạp lần lượt hai nhóm can âm và dương: Càn, Chấn, Khảm, Cấn là quẻ dương, ứng với các can lẻ; Khôn, Tốn, Ly, Đoài là quẻ âm, ứng với các can chẵn. Theo bảng của sách, Càn nội quái nạp Giáp, Khôn nội quái nạp Ất, Cấn nạp Bính, Đoài nạp Đinh, Khảm nạp Mậu, Ly nạp Kỷ, Chấn nạp Canh, Tốn nạp Tân, rồi Càn ngoại quái nạp Nhâm và Khôn ngoại quái nạp Quý.
Nạp giáp của họ Ngụy và họ Ngu
Nạp giáp thứ hai là của họ Ngụy trong Chu Dịch tham đồng khế. Ngụy Bá Dương thời Đông Hán, trên nền bát quái nạp giáp của Kinh Phòng, đã sáng lập nguyệt thể nạp giáp, ảnh hưởng quan trọng trong thuật luyện đan, đạo đan tu luyện và nhiếp sinh dưỡng tính. Nguyên lý ấy cho âm dương bát quái tương ứng với sự tròn khuyết của mặt trăng, nhờ đó báo hiệu tin tức âm dương trong một năm, làm tiêu chí để các nhà luyện đan nắm vững thiên thời.
Loại thứ ba là nạp giáp của họ Ngu, tức Ngu Phiên thời Đông Hán. Đặc điểm là trên nền nạp giáp của họ Ngụy, làm nổi bật mối quan hệ tương hợp của mặt trời và mặt trăng. Mục đích là nối bát quái của Chu Dịch với thiên tượng nhật nguyệt, như câu mặt trời mặt trăng treo trên trời thành tượng bát quái, có giá trị nhất định cho việc nghiên cứu bối cảnh thiên văn của bát quái.
Bát quái và ngũ hành
Kinh Phòng còn nhấn mạnh ý nghĩa sâu xa về ngũ hành của bát quái, như thiên Thuyết quái trong Dịch truyện đã chỉ rõ hàm nghĩa ngũ hành của bát quái: Càn thuộc Kim, Khôn là đất thuộc Thổ, Chấn là sấm thuộc Mộc, Tốn thuộc Mộc, Khảm thuộc Thủy, Ly thuộc Hỏa, Cấn là núi thuộc Thổ, Đoài là đầm. Dựa trên Dịch truyện, Kinh Phòng đi sâu phân tích việc bát quái nạp ngũ hành, góp thêm phần thống nhất âm dương bát quái với ngũ hành của Chu Dịch. Sự tương ứng bát quái ngũ hành của ông ảnh hưởng lớn đến đời sau, căn bản là sự diễn giải để lại cho hậu thế. Theo bảng so sánh, Càn và Đoài thuộc Kim, trong đó dương Kim và âm Kim; Chấn và Tốn thuộc Mộc, một dương một âm; Khảm thuộc Thủy, Ly thuộc Hỏa; Khôn và Cấn thuộc Thổ, một âm một dương. Ngoài ra Kinh Phòng còn phối nạp giáp của bát quái với năm phương vị, như Cấn nạp Bính ứng ngày hai mươi ba, ứng trăng hạ huyền; Đoài nạp Đinh ứng ngày mồng tám, ứng trăng thượng huyền, và cũng ảnh hưởng nhất định cho đời sau.
Thuyết quái khí, bốn mùa và hai mươi bốn tiết khí đi vào bát quái
Mỗi mùa có một quẻ đứng canh gác, mỗi tiết có một quẻ ra thay phiên; và năm tháng vì thế trở thành chuyện của các vạch quẻ.
Một phát triển trọng đại khác của thuyết bát quái tượng gọi là quái khí, tức sự tương ứng giữa bát quái với bốn mùa tiết khí. Nó gồm sự phối hợp của bát quái và sáu mươi bốn quẻ với bốn mùa, mười hai tháng, hai mươi bốn tiết khí và bảy mươi hai hậu, tức bảy mươi hai loại khí hậu của trời. Sự phối hợp tương ứng này hóa thành thời gian và không gian của bát quái, từ đó tăng mạnh ưu thế ứng dụng của bát quái, ảnh hưởng lớn đến chiêm bốc, dự đoán, lịch toán, y học, và cũng có những cống hiến kiệt xuất cho sự phát triển của triết lý dịch học.
Quái khí bắt nguồn từ Kinh Dịch
Thuyết bát quái khí bắt nguồn từ quẻ Càn trong Kinh Dịch. Quẻ Càn gồm các trạng thái tiềm, kiến, dược, phi, cang, hối, đề ra lý luận rằng hành vi của con người và sự phát triển của sự vật đều thuận theo bốn mùa, theo âm dương tiêu trưởng chuyển hóa mà thành; từ đó đặt cơ sở lý luận cho thuyết quái khí của bát quái. Như viết:
Tiềm long vật dụng. Kiến long tại điền, lợi kiến đại nhân. Quân tử chung nhật càn càn, tịch dịch nhược lệ, vô cữu. Hoặc dược tại uyên, vô cữu. Phi long tại thiên, lợi kiến đại nhân. Kháng long hữu hối.
Rồng ẩn chưa nên dùng; thấy rồng ở ruộng thì lợi cho việc gặp bậc đại nhân; người quân tử suốt ngày làm việc tích cực, tối đến giữ mình nghiêm cẩn thì không lỗi; hoặc nhảy vọt nơi vực sâu thì không lỗi; rồng bay ở trên trời thì lợi gặp đại nhân; rồng lên quá cao thì có hối hận. Thuyết quái khí của Mạnh Hỷ và Kinh Phòng thời Hán đều phát triển mạnh từ nguyên lý quái khí của Kinh Dịch; đặc biệt thời Hán, thuyết quái khí bát quái được nâng lên một đỉnh cao, bổ sung nguồn lực và làm phong phú thêm lý luận lẫn ứng dụng của bát quái.
Quái khí của Mạnh Hỷ
Hán đại là thời kỳ hưng thịnh của thuyết quái khí bát quái, và trong đó nổi bật là Mạnh Hỷ và Kinh Phòng. Mạnh Hỷ sáng tạo các biểu thức quái khí về bốn quẻ chính, mười hai quẻ bích và sáu mươi quẻ, đều phối hợp với hai mươi bốn tiết khí. Bốn quẻ chính lấy Khảm, Ly, Chấn, Đoài phối với bốn mùa, chủ quản bốn mùa trong năm: Khảm chủ mùa đông, Chấn chủ mùa xuân, Ly chủ mùa hạ, Đoài chủ mùa thu. Mười hai quẻ bích tức mười hai quẻ tiêu tức. Phần này được ghi trong quyển hai mươi tám của Cựu Đường thư, nơi Nhất Hạnh nhà Đường vẽ đồ quái khí.
Quái khí của Kinh Phòng
Thuyết quái khí của Kinh Phòng là thuyết quái khí bát quái phát triển trên cơ sở thuyết của Mạnh Hỷ, và có hai đặc điểm. Một là Kinh Phòng lấy ba trăm sáu mươi tư hào của sáu mươi bốn quẻ phối thành số ngày trong một năm, so với thuyết của Mạnh Hỷ lấy ba trăm sáu mươi hào của sáu mươi quẻ phối thành số ngày trong năm thì chính xác hơn. Cụ thể là lấy số hào đầu của bốn quẻ chính Khảm, Ly, Chấn, Đoài để phối ứng, chủ yếu theo hai phân hai chí, và dựa vào lịch Thái Sơ lấy tháng giêng kiến Dần làm tháng đầu năm, tức lấy tháng giêng lập xuân làm tháng mở đầu của một năm, có ảnh hưởng lớn đến đời sau. Hai là đồ quái khí bát quái của Kinh Phòng kết hợp hai mươi bốn tiết khí với bát quái và phương vị, cũng rất có ảnh hưởng về sau.
Bộ môn dịch học Mạnh Kinh lấy quái khí bát quái làm hạt nhân, do Mạnh Hỷ và Kinh Phòng xây dựng, có ảnh hưởng rất lớn đối với chiêm bốc, lịch toán, thiên văn và y học đời sau, và đóng góp quan trọng cho sự phát triển của dịch lý. Thuyết quái khí Mạnh Kinh còn giữ lại được những phần quan trọng của tác phẩm Dịch soạn, và sách Ngọc hàm sơn phòng tập dật thư của Mã Quốc Hàn đời Thanh.
Thuyết quái biến, ba chặng đường từ Xuân Thu đến Tống
Sáu hào không đứng yên như sáu cọc gỗ; hào nào cũng đang lên xuống, và chính sự lên xuống ấy giữ cho âm dương cân bằng.
Thuyết quái biến là một hệ thống khác của thuyết bát quái tượng, chỉ quái biến và biến quái sinh ra từ sự đổi thay của các hào giữa bản thân quẻ với các quẻ, phản ánh mối quan hệ qua lại giữa các quẻ. Ở đây nói đến sự biến hóa lên xuống của các hào âm hào dương, thoát thai từ sáu mươi bốn quẻ. Tác giả nêu ba giai đoạn phát triển lớn nhất là thời Xuân Thu Chiến Quốc, thời Hán và thời Tống, có ảnh hưởng rất lớn đối với chiêm bốc.
Quái biến thời Xuân Thu Chiến Quốc
Đại biểu của quái biến thời Xuân Thu Chiến Quốc là Dịch truyện. Dịch truyện, qua sự lên xuống biến hóa của hào, sự đổi thay của cương nhu, sự hợp đức của âm dương trong ngôi vị các hào, trình bày đầy đủ nguyên lý quái biến, như:
Thánh nhân thiết quái quan tượng, hệ từ yên nhi minh cát hung. Cương nhu tương thôi, nhi sinh biến hóa. Thị cố cát hung giả, thất đắc chi tượng dã. Phân âm phân dương, điệt dụng nhu cương, cố Dịch lục vị nhi thành chương. Đại minh chung thủy, lục vị thời thành, thời thừa lục long dĩ ngự thiên.
Bậc thánh nhân đặt quẻ xem tượng, gắn lời để làm rõ lành dữ; cứng mềm đẩy nhau mà sinh biến hóa, nên lành dữ là cái tượng của mất được. Chia âm chia dương, thay nhau dùng mềm cứng, nên Dịch có sáu ngôi mà thành văn. Mặt trời lớn soi sáng từ đầu đến cuối, sáu ngôi theo thời mà thành, theo thời cưỡi sáu rồng mà ngự trên trời. Câu chữ ấy nêu rõ rằng bát quái, sáu mươi bốn quẻ và sáu hào thực ra không bị chết cứng mà đang biến hóa không ngừng, nhờ vậy duy trì được sự cân bằng động của cương nhu âm dương. Bộ môn quái biến của đời Hán và đời Tống sau này đều phát triển trên cơ sở nguyên lý của Dịch truyện. Nguyên lý quái biến của Chu Dịch được ứng dụng nhiều sau này trong phép bói bằng cỏ thi; nguyên bản khá tinh luyện, nhưng đến Tuân Sảng và Ngu Phiên thời Hán thì quái biến được mở rộng nhiều hơn, và được dùng để bói cho cả vận mệnh hưng suy của xã hội, đưa quái biến phát triển theo hướng kinh vĩ của âm dương.
Quái biến của Tuân Sảng và Ngu Phiên
Đời Hán là thời kỳ đại hưng thịnh của thuyết quái biến, với đại biểu chủ yếu là Tuân Sảng và Ngu Phiên. Đặc điểm của thuyết Tuân Sảng là thuyết Càn thăng Khôn giáng, tức dương thăng âm giáng. Sự thăng giáng ấy tiến hành qua các hào âm dương của hai quẻ Càn Khôn; sáu quẻ con là Chấn, Khảm, Cấn, Tốn, Ly, Đoài thoát thai từ hai quẻ cha mẹ Càn Khôn, rồi trên cơ sở đó tiến hóa và biến thành sáu mươi bốn quẻ. Nguyên lý này có gốc từ thiên Thuyết quái trong Dịch truyện, với nguyên tắc chủ yếu của biến quái là hào hai và hào năm biến. Càn thăng Khôn giáng nghĩa là nâng hào cửu nhị của Càn lên vị trí hào lục ngũ của Khôn, hạ hào lục ngũ của Khôn xuống vị trí hào cửu nhị của Càn; trên cơ sở thay đổi qua lại của hai hào hai, năm của Càn Khôn mà phát triển thành sáu mươi bốn quẻ, và qua sự di chuyển qua lại của sáu hào mà sinh ra những nguyên tắc cho các quẻ khác. Mục đích là dùng sự biến hóa của hào vị âm dương cương nhu để giải thích lời nghĩa của quái hào.
Thuyết quái biến của Ngu Phiên phát triển trên cơ sở thuyết của Tuân Sảng, tiếp tục mở rộng cách đổi biến hai hào hai và năm của Càn Khôn, lấy Càn Khôn cha mẹ biến thành sáu quẻ con, thêm một quy tắc là lấy mười hai quẻ tiêu tức làm cơ sở biến thành sáu mươi bốn quẻ tạp. Ông còn mở rộng thành phép hỗ thể, bàng thông và hào biến bán tượng, làm thuyết quái biến của Tuân Sảng thêm phức tạp, đi ngược tinh thần giản ước của biến quái trong Dịch truyện. Vì vậy theo tác giả, Ngu Phiên chỉ có tác dụng phụ đối với ảnh hưởng của quái biến.
Quái biến thời Tống và đồ quái biến thời Nguyên
Thuyết quái biến thời Tống phát triển chủ yếu qua Lý Chi Tài và Chu Hy. Thứ nhất, thuyết quái biến của Lý Chi Tài được vận dụng tiếp trên cơ sở thuyết quái biến Càn Khôn hai hào hai năm của Tuân Sảng và Ngu Phiên. Nó gồm sáu mươi bốn quẻ mở rộng từ Càn Khôn, cơ sở lý luận là môn phái Càn Khôn của Chu Dịch, và biến quái được chia thành bốn loại bảy tổ hợp để thực hiện quái biến. Hán thượng dịch quái đồ của Chu Chấn có ảnh hưởng đến đồ tiên thiên sáu mươi bốn quẻ của Thiệu Ung và đồ quái biến của Chu Hy.
Thứ hai là thuyết quái biến của Chu Hy. Đồ quái biến của Chu Hy in trong Chu Dịch bản nghĩa, bản gốc là quái biến đồ của Lý Chi Tài; cụ thể là lấy Càn Khôn làm hai quẻ cha mẹ, tiếp theo là các quẻ Phục, Cấu, rồi đến sáu mươi bốn quẻ. Đến thời Nguyên, đồ quái biến của Du Viêm thoát thai từ hình đồ vuông tròn âm dương thăng giáng của Thiệu Ung. Hình đồ này rất đặc sắc ở chỗ trong bốn quẻ Càn, Ly, Khảm, Khôn, lại do hai quẻ Càn Khôn làm quẻ cha mẹ, và sáu mươi bốn quẻ dựa theo sự thăng giáng của hào âm dương, qua sáu lần biến mà thành. Nó phản ánh rõ nhất lý luận vận động thăng giáng của dịch lý, đồ thị giản đơn mà tinh tế tuyệt mỹ, triết lý sâu xa, là mẫu mực trong mọi quái biến đồ qua các đời, được ghi trong Dịch ngoại biệt truyền và Đàm dịch cử yếu của Du Viêm. Tóm lại, bát quái được phát triển qua nhiều thời kỳ lịch sử, từ nạp giáp, nạp ngũ hành phương vị, quái khí đến quái biến, làm phong phú bội phần cho khoa học tượng hình bát quái, có tác dụng lớn đối với sự phát triển và ứng dụng của dịch học.
Nguồn: Kinh điển văn hóa 5000 năm Trung Hoa - Tập 1 (Dương Lực), thuật lại có lược bớt.
