Bài tổng quan
Mười hai con giáp từ Chu Dịch đến khí chất con người
Con chuột đứng đầu mười hai con giáp lại bị coi là thấp hèn nhất, còn con rồng ở vị trí thứ năm thì được tôn như vua. Vậy ai đã xếp các con vật ấy vào một vòng tròn, và vì sao mỗi con lại mang một tính cách riêng...
Mười hai con giáp: dấu ấn do người đặt ra mà bền hàng nghìn năm
Có những thứ do con người nghĩ ra mà lại in sâu hơn cả một đời người, và mười hai con vật xếp thành vòng tròn là một ví dụ.
Tác giả nhận xét mười hai con giáp là do con người nghĩ ra, nhưng sau mấy nghìn năm đã trở thành dấu ấn khó phai trong lòng người. Hiện tượng văn hóa này không chỉ chi phối tâm lý một con người mà còn có thể chi phối cả một dân tộc, cùng với luân lý, phong tục và phong cách của một quốc gia.
Về nguồn gốc, ông cho rằng mười hai con giáp xuất hiện sớm nhất trong bát quái của Kinh Dịch. Đây là một phương pháp phỏng sinh để ghi năm, còn gọi là cầm tinh mười hai con giáp. Mười hai loài vật gồm chuột, trâu, hổ, thỏ, rồng, rắn, ngựa, dê, khỉ, gà, chó, lợn được ghép với mười hai địa chi gồm tý, sửu, dần, mão, thìn, tỵ, ngọ, mùi, thân, dậu, tuất, hợi, vì dáng vẻ bề ngoài của chúng có điểm tương tự nhau. Tý tượng trưng cho chuột, sửu cho trâu, dần cho hổ, tỵ cho rắn, ngọ cho ngựa.
Ông nêu hai lý do để mười hai loài này được chọn. Thứ nhất, chúng đều là biểu tượng được sùng bái từ thời cổ ở Trung Quốc, như rồng, hổ, rắn, ngựa, khỉ, trâu, nên chiếm phần lớn trong mười hai con giáp. Thứ hai, chúng gắn bó mật thiết với đời sống con người, đã sống chung với người rất lâu, như lợn, chuột, dê, thỏ, gà, chó, và có ảnh hưởng khá lớn đến phong tục, văn hóa của người dân Trung Quốc. Vì thế chúng được kết hợp với mười hai địa chi để ghi năm.
Những con giáp đã nằm sẵn trong Chu Dịch
Mở Chu Dịch ra tìm, người ta gặp từng con vật một, mỗi con nằm trong một câu hào từ.
Theo tác giả, mười hai con giáp đã xuất hiện từ rất sớm trong Chu Dịch, và ông dẫn lần lượt từng ví dụ. Rồng ở quẻ Càn: tiềm long vật dụng, rồng còn ẩn náu, chưa dùng được. Ngựa ở quẻ Khôn: nguyên, hanh, lợi, tẫn mã chi trinh. Chuột ở quẻ Tấn: tấn như thạc thử, trinh lệ, nghĩa là tiến lên mà tham như con chuột đồng, cứ giữ thói ấy thì nguy. Cá ở quẻ Cấu: trong bọc không có cá, họa sẽ phát. Trâu ở quẻ Cách, hào sơ cửu: dùng da con trâu vàng mà buộc chặt. Hổ ở quẻ Cách, hào cửu ngũ: bậc đại nhân đổi thay như hổ thay lông, chưa bói cũng đã tin. Hổ còn ở quẻ Lý: dẫm phải đuôi hổ mà hổ không cắn người, tốt. Dê ở quẻ Quải, hào cửu tứ: bàn toạ không có da, đi lại thong thả, dắt dê thì hối hận sẽ mất, nghe lời nói mà không tin.
Lợn ở quẻ Khuê, hào thượng cửu: ở lúc chia lìa mà cô độc, thấy con heo mình đầy bùn, thấy xe chở đầy quỷ. Lúc đầu giương cung bắn, sau buông cung xuống, vì không phải giặc cướp mà là người cầu hôn, gặp mưa sau nắng thì tốt lành. Rồng và rắn ở Hệ từ: rồng rắn ẩn náu để giữ thân. Chó và gà ở Thuyết quái: Càn là ngựa, Khôn là trâu, Chấn là rồng, Tốn là gà, Khảm là lợn, Ly là trĩ, Cấn là chó, Đoài là dê.
Từ những dẫn chứng ấy, tác giả kết luận rằng Chu Dịch đã có mười loài trong mười hai con giáp là chuột, trâu, rồng, chó, ngựa, dê, lợn, gà, hổ, rắn, chỉ thiếu thỏ và khỉ. Chu Dịch lại kết hợp tám loài vật với tám quẻ, và theo ông điều ấy cho thấy mười hai con giáp có nguồn gốc từ Chu Dịch hơn ba nghìn năm trước.
Dấu vết trên mai rùa, trong Luận hành và trên bầu trời sao
Dấu vết ấy còn nằm trên mai rùa và lên tận những chòm sao.
Ông cho biết chữ tượng hình trên hoa văn mai rùa cũng có chữ tượng hình của mười hai con giáp. Trong Luận hành, các thiên Vật thế và Ký nhật, Vương Xung đã ghi đầy đủ việc kết hợp mười hai con giáp với mười hai địa chi. Thiên Vật thế viết rằng Dần thuộc mộc ứng với hổ, Tuất thuộc thổ ứng với chó, Sửu cũng thuộc thổ ứng với trâu mà không ứng với dê, Hợi thuộc thủy ứng với lợn, Tỵ thuộc hỏa ứng với rắn, Tý cũng thuộc thủy ứng với chuột, Ngọ thuộc hỏa ứng với ngựa. Sách còn nói Dậu ứng với gà, Mão ứng với thỏ, Thân ứng với khỉ.
Nguồn gốc mười hai con giáp cũng gắn với các vì tinh tú trên trời. Rồng và hổ chiếm một phần tư trong nhị thập bát tú. Chòm Thanh Long có bảy sao là Giác, Cang, Đê, Phòng, Tâm, Vĩ, Cơ, còn chòm Bạch Hổ có bảy sao khác, tổng cộng mười bốn sao. Tác giả cho rằng việc người xưa sùng bái rồng và hổ là một hiện tượng văn hóa chủ yếu của văn hóa sùng bái biểu tượng. Tóm lại, nguồn gốc mười hai con giáp có từ rất sớm, ảnh hưởng lớn đến phong tục tập quán và văn hóa Trung Quốc: việc thờ cúng, kết hôn, tang lễ, ra trận, sinh con đẻ cái đều có liên quan đến nó.
Mười hai con giáp và những biểu tượng cổ đại
Trong cả mười hai, có vài con được thờ như thần, số khác chỉ lưu lại một góc nhỏ trong thần thoại.
Về rồng, ông viết rằng đây là biểu tượng của Trung Quốc thời Hạ Thương, Kinh Dịch có ghi chép chi tiết về sự sùng bái này. Mấy nghìn năm nay rồng là biểu tượng được người Trung Quốc kính sợ, đứng đầu tứ linh gồm rồng, phượng, rùa, kỳ lân, và là một trong những con vật linh thiêng nhất. Rồng thần thông quảng đại, có nguồn gốc từ muôn loài, đi mây về gió, chuyển sông dời bể, gọi gió hô mưa. Trung Quốc là nước nông nghiệp, cần nhất là mưa thuận gió hòa, nên dân chúng coi rồng là biểu tượng thần uy nhất và điềm lành nhất. Khi một vị vua quy định lấy rồng làm biểu tượng của đất nước, tượng trưng cho uy lực thống nhất các bộ lạc, các triều đại sau đều lấy rồng làm quốc huy, và đến nhà Thanh còn vẽ rồng trên quốc kỳ. Niên hiệu của Võ Tắc Thiên là "thần long". Niên hiệu của Hán Vũ Đế, Ngô đại đế thời Tam Quốc và Đoàn Tử Chương thời Đường cũng dùng chữ "long". Thần uy và sự tôn quý của rồng ảnh hưởng lớn đến phong thái, tinh thần và khí chất của dân tộc, và rồng là biểu tượng điển hình nhất trong mười hai con giáp.
Rắn là con vật được lấy làm biểu tượng nhiều nhất trên thế giới, người cả phương Đông lẫn phương Tây đều kính sợ rắn. Chu Dịch coi rồng và rắn ngang nhau, như Hệ từ nói rồng rắn ẩn náu. Sơn hải kinh miêu tả Nữ Oa đầu người mình rắn, vị nữ thần được thờ thời cổ, tương truyền có bản lĩnh vá trời và tạo vạn vật, và sách Phong tục thông nghĩa còn chép chuyện Nữ Oa ném đất xuống hạ giới biến thành loài người. Phần Hải ngoại Tây kinh nói nước của Hiên Viên Hoàng Đế, người đầu người mình rắn, đuôi vắt trên đầu. Tóm lại, thời Hạ Thương coi rắn là con vật linh thiêng. Tranh Nữ Oa và Phục Hy vắt đuôi vào nhau coi cả nữ thần lẫn vị thủ lĩnh là hóa thân của rắn.
Hổ cũng được lấy làm biểu tượng và quốc huy của nhiều dân tộc, bộ lạc thời cổ, vì sự dũng mãnh của nó thường tượng trưng cho quyền uy, dùng để cổ vũ sĩ khí trước khi ra trận. Hổ còn dùng làm hổ phù, dấu ấn điều khiển binh tướng, và làm biểu tượng thần uy cho đế vương, tướng quân. Ngoài rồng, hổ, rắn, các con giáp khác cũng được sùng bái ở mức độ khác nhau. Thỏ tượng trưng cho mặt trăng, cung trăng còn gọi là hồn thỏ, và trong thần thoại thỏ trắng chính là chú thỏ giã thuốc trong cung trăng. Chó được dùng để đặt tên sao, như sao Thiên Cẩu, và nhật thực được coi là chó trời ăn mặt trời. Ngựa được thần thoại hóa thành thiên mã, trâu được tôn là thần ngưu.
Khí chất và luân lý gửi trong từng con giáp
Nhìn kỹ từng con, người xưa thấy ở mỗi loài một nét tính cách mà họ muốn học hoặc muốn tránh.
Tác giả cho rằng mười hai con giáp không chỉ ảnh hưởng đến phong tục văn hóa mà còn liên quan mật thiết đến khí chất và luân lý của người Trung Quốc. Ông đi lần lượt qua từng con.
Rồng có vị trí rất cao quý. Chu Dịch lấy rồng làm quẻ Càn, tượng trưng cho thế cương, và tôn rồng là "thủ", là "quân". Thuyết quái nói Càn là trời, là vua, là đầu. Sáu hào quẻ Càn nói về đặc tính bay lượn của rồng, và Văn ngôn tổng kết đức của rồng là lớn thay quẻ Càn, rất trung chính, mạnh mẽ, tinh túy, thuần khiết, sáu hào phát huy thông suốt, thuận thời cưỡi sáu rồng ngự trên trời, mưa thuận gió hòa, ích lợi cho thiên hạ. Ông giải thích rằng tôn đức của rồng là thần uy cương cường tối cao, chế ngự được trời, điều hòa mây mưa đem lợi cho thiên hạ. Rồng nhiều triều đại dùng để ví với khí phách hiên ngang của đế vương và tướng mạo phi phàm của anh tài. Rồng được dùng làm hình tượng trên cờ, đặt cho áo vua là long bào, tượng trưng cho quyền thế và sự cao quý. Câu quân tử lấy sự tự cường không ngừng nghỉ trong Chu Dịch cũng ví với khí phách cương cường của rồng, và người Trung Quốc thích đặt tên theo rồng. Điều đó cho thấy rồng ảnh hưởng lớn đến khí chất, luân lý của dân tộc.
Hổ rất hung dữ, mạnh mẽ. Chữ "dần" trong mười hai chi trông giống dáng một con hổ đang đứng. Hổ cũng là biểu tượng của sự tôn quý, đại diện sức lực mạnh mẽ và phong thái uy vũ, nhiều thủ lĩnh thị tộc cổ lấy hổ làm biểu tượng vô địch. Người Trung Quốc coi hổ là biểu tượng của sự dũng mãnh, không run sợ. Ngựa cũng là quý tướng, tiêu biểu cho sức sống mạnh mẽ, rong ruổi trên thảo nguyên với phong thái phóng khoáng. Ngựa vừa đại diện cho khí thế bừng bừng vừa gánh trọng trách, nên Dịch truyện coi cả ngựa lẫn rồng là tượng của quẻ Càn, như Thuyết quái nói Càn là ngựa, và người Trung Quốc tôn xưng ngựa là thiên mã.
Rắn có ảnh hưởng rất lớn trong mười hai con giáp, và vì thế Kinh Dịch đặt rồng ngang với rắn. Rắn đã được thần thánh hóa, Nữ Oa đầu người mình rắn, và thân mình Phục Hy cũng được mô tả như rắn. Nhiều nơi trên thế giới cũng sùng bái rắn, coi đó là biểu tượng của quỷ thần, nhất là ở vùng nhiệt đới. Rắn ẩn hiện bất thường khiến người ta nể sợ, vẻ ngoài lạnh lùng và động tác mau lẹ khiến con người luôn kinh sợ. Sự nhạy bén, lạnh lùng của rắn dần ảnh hưởng đến con người, và rắn còn hay được ví với sự ác độc của con người để lấy làm gương mà tránh.
Trâu, theo Chu Dịch, thuộc quẻ Khôn: Thuyết quái nói Khôn là trâu. Quẻ Khôn nói đức dày chở vật, đức rộng không bờ, như đất tuy nặng mà thuận hòa, thể hiện sự hiểu đạo nghĩa và nhẫn nhục của trâu. Tinh thần ngậm đắng nuốt cay, âm thầm cống hiến của trâu được con người tôn kính, như Lỗ Tấn từng nói cúi đầu cam chịu làm chú nghé con cho trẻ. Trâu luôn bị coi là hèn mọn và ngu đần, nhưng thực ra là con vật rất hiểu tính người và biết ơn.
Dê được coi là con vật có điềm lành. Thời cổ dê được một số thị tộc lấy làm biểu tượng, tôn là tinh túy của đất, và Khổng Tử cũng nói tinh túy của đất tượng trưng cho dê. Đầu dê dùng làm đồ tế, thành Quảng Châu có tên khác là Dương Thành. Chu Dịch cho dê thuộc quẻ Đoài, vui vẻ, ôn tồn, phục tùng, khiêm tốn, nhẫn nhịn, nghĩ đến toàn cục, những nét khiến người tuổi Mùi thấy tự hào. Khỉ là con vật linh thiêng, mưu trí, nhanh nhạy, được người Trung Quốc lấy làm gương, và sự thông minh, chính trực, nhanh nhẹn của Tôn Ngộ Không trong Tây du ký là niềm tự hào của người tuổi Thân.
Chó là loài hiểu tính người nhất, được Chu Dịch cho thuộc quẻ Cấn, vì Cấn có nghĩa là dừng, thiên về thế thủ. Chó có thính giác thị giác phát triển, thiên về phòng ngự, dũng cảm, nhanh nhẹn, trung thành với chủ nên được yêu quý. Dân gian có câu "người không bằng chó" để khen sự trung của loài chó. Thỏ đứng thứ tư, ứng với Mão, cũng là con vật linh được tôn xưng là hồn trăng, thỏ thần, thỏ trắng tượng trưng cho sự thuần khiết, tai dài, nhanh nhẹn, mưu trí, như câu thỏ khôn ba hang.
Lợn xếp cuối, thể hiện quan hệ mật thiết giữa lợn và người. Chu Dịch cho lợn thuộc quẻ Khảm vì lợn màu đen, đen là màu của nước. Theo tác giả, con người thích ăn thịt lợn mà ghét lợn bẩn, ngu, điều đó không công bằng, vì chính người nhốt lợn trong chuồng, còn lợn rừng thực ra là con vật hung dữ nhất. Tính tham lam mà thật thà phúc hậu của Trư Bát Giới trong Tây du ký để lại ấn tượng sâu, và tính thật thà của lợn thường được coi là tính tốt. Gà đứng thứ mười, thuộc quẻ Tốn, ôn tồn thuận hòa, gắn bó với đời sống, nuôi lấy thịt, gáy báo giờ, gọi người dậy sớm. Gà có những đặc điểm như không ăn một mình, quan tâm lẫn nhau, bắt sâu bọ, nên còn được tôn là bích kê, kim kê, và ở Côn Minh, Vân Nam, có cửa khẩu quan trọng tên Bích Kê. Chuột tuy đứng đầu mười hai con giáp mà địa vị thấp nhất, bị chê là tướng hèn mọn. Con người ghét thói ăn vụng và tầm nhìn hạn hẹp của chuột, và nó truyền bệnh dịch hạch, mang tai họa, nhưng chuột vẫn sống chung với người dai dẳng nhất, và sự thông minh mưu trí của chuột cũng thường được lấy làm gương.
Nguồn: Kinh điển văn hóa 5000 năm Trung Hoa - Tập 1 (Dương Lực), thuật lại có lược bớt.
