Bài tổng quan
Tần Thủy Hoàng thống nhất Trung Hoa và công nghiệp Hán Vũ Đế
Mười năm ròng rã theo kế viễn giao cận công, Tần Thủy Hoàng dẹp xong sáu nước, khép lại gần 800 năm chiến loạn, nhưng cũng để lại cung A Phòng xa hoa và hàng vạn phu thợ bị chôn sống dưới lăng mộ của mình. Vài mươi năm sau, một vị vua khác lên ngôi giữa cảnh tranh quyền trong cung cấm, chọn cách trọng dụng người tài và độc tôn Nho học để đưa Trung Hoa vào thời hoàng kim...
Mục lục · 1 phần
Tần Thủy Hoàng thống nhất Trung Hoa và công nghiệp Hán Vũ Đế
Giành lại được quyền bính từ tay Lã Bất Vi và Lao Ái, Tần Thủy Hoàng còn phải chứng minh bản lĩnh ấy trên một quy mô lớn hơn nhiều: gồm thâu sáu nước, dựng nên đế chế thống nhất đầu tiên của Trung Hoa.
Tần Thủy Hoàng thống nhất sáu nước bằng kế viễn giao cận công
Với sự giúp đỡ của thừa tướng Lý Tư, Tần Thủy Hoàng thực hiện phương sách "tấn công nơi gần, kết giao nơi xa" - viễn giao cận công - sau mười năm thi hành kế sách, trải qua nhiều cuộc chiến đấu với muôn vàn gian khổ, cuối cùng đã kết thúc được cuộc chiến loạn kéo dài gần 800 năm, thống nhất Trung Quốc, lập nên công lớn ghi danh thiên cổ.
Trong cuộc đời của mình, Tần Thủy Hoàng đã lập được năm công lao lớn: thứ nhất, thống nhất Trung Quốc, kết thúc thời kỳ phân cắt chư hầu, lập ra nhà nước thống nhất đầu tiên của Trung Quốc; hai là thành lập nên nhà nước phong kiến tập quyền trung ương đầu tiên của Trung Quốc, tạo tiền lệ về củng cố và thống trị đất nước; ba là thống nhất tiền tệ, thống nhất các đơn vị đo lường, thống nhất văn tự, thúc đẩy phát triển văn hóa Trung Quốc; bốn là xây dựng Vạn Lý Trường Thành nổi tiếng toàn thế giới, trở thành biểu tượng của văn hóa Trung Quốc và thế giới; năm là khai thông sông đào, để phúc muôn đời sau.
Ba tội ác lớn của Tần Thủy Hoàng là: thi hành một nền chính trị tàn bạo khốc liệt, biến triều nhà Tần trở thành một trong những triều đại đen tối nhất trong lịch sử Trung Quốc; đốt sách, chôn nho, phá hoại sự phát triển của văn hóa Trung Quốc; xây cung A Phòng, Ly Sơn và nhiều đền đài cung điện xa hoa khiến dân chúng bị ngập trong cực khổ lầm than.
"Đến khi thôn tính được thiên hạ thì dời hơn 70 vạn người trong thiên hạ đào ba con suối, ở dưới đổ đồng và đưa quách vào. Đem những đồ quý báu của các cung, của trăm quan xuống chất đầy ở dưới. Lại sai thợ làm máy bắn tên, có ai đào đến gần thì bắn ra xa. Sai lấy thủy ngân làm một trăm con sông, sông Trường Giang, sông Hoàng Hà và biển lớn, các máy móc làm cho nước sông và biển chảy vào nhau... Sau khi cất giấu xong, sai đóng đường hầm đi đến huyệt, lại sai đóng cửa ngoài đường hầm. Những người thợ và người cất giấu của cải không làm sao thoát ra được. Rồi sai trồng cây cỏ lên trên để có vẻ như cái núi."
- Sử ký, Tần Thủy Hoàng bản kỷ.
Tần Thủy Hoàng là một trong những vị hoàng đế mưu lược tài giỏi vào bậc nhất của Trung Quốc cổ đại. Sở dĩ ông có thể giành được những thành công lớn chính là vì mưu lược của ông phù hợp với trào lưu của lịch sử. Thời Xuân Thu Chiến Quốc, các nước chư hầu phân cắt dẫn đến chiến tranh liên miên, gây ra muôn vàn khổ cực cho nhân dân. Nhân dân muốn được thái bình, Trung Quốc phải được thống nhất. Nguyện vọng thống nhất sáu nước của Tần Thủy Hoàng cũng là đại biểu cho nguyện vọng của toàn thể nhân dân, do vậy mà chiến lược của ông là tiến bộ và vì thế đã được sự đồng tình ủng hộ của các tướng lĩnh, quần thần.
Việc lựa chọn phương sách "kết giao nước xa, tấn công nước gần", "trước yếu sau mạnh" của ông là đúng đắn. "Viễn giao cận công" vốn là kế sách ngoại giao mà Phạm Thư thời Chiến Quốc dùng để du thuyết Tần Chiêu Vương: "Chi bằng kết giao với những nước ở xa mà tấn công những nước ở gần, được một tấc làm vua một tấc, được một thước làm vua một thước vậy." Tần Thủy Hoàng đã chọn dùng sách lược này, lần lượt tiêu diệt thành công sáu nước Hàn, Ngụy, Sở, Triệu, Yên, Tề.
Tần Thủy Hoàng không những rất biết dùng người tài mà bản thân cũng rất mực thiện mưu, hơn nữa lại là người có chủ kiến, không dễ chịu sự tác động của người khác. Đây cũng là một trong những nguyên nhân chủ yếu giúp ông thành công. Khi khai quốc sáng nghiệp, Tần Thủy Hoàng có những mưu lược rất đúng đắn, đến thời kỳ xây dựng đất nước sau đó cũng có hàng loạt những quyết sách quan trọng và tiến bộ, thể hiện tài năng trị nước phi phàm của ông. Như việc ông phản đối, phủ định chế độ phân phong thủ cựu trước đó, dùng kế sách của Lý Tư tăng cường chế độ quận huyện, củng cố tập đoàn trung ương. Bởi chế độ phân phong chính là mảnh đất chính trị cho sự phân cắt chư hầu, nếu tiếp tục thực hiện thì xem như đã đi ngược lại lịch sử, quay về thời kỳ chư hầu hỗn chiến. Tần Thủy Hoàng kiên quyết bác bỏ sự phản đối của các hoàng thân quốc thích, tỏ rõ lập trường vững chắc và trác việt của mình.
Ngoài ra Thủy Hoàng cũng lựa chọn kế sách của Lý Tư chủ trương thống nhất văn tự, thống nhất các đơn vị đo lường và thực hiện chế độ tư hữu đất đai. Những bước đi này có tác dụng lớn trong sự nghiệp củng cố, thống nhất và xây dựng cường thịnh xã hội phong kiến. Tần Thủy Hoàng còn cho xây dựng Vạn Lý Trường Thành để đề phòng sự nhiễu loạn của giặc Hung Nô, bảo vệ đất nước. Một loạt những quyết sách như thế đã thể hiện tầm nhìn xa rộng và mưu lược thâm sâu, tài năng phi phàm của ông.
Tần Thủy Hoàng tuy là một bạo chúa song những mưu lược của ông là rất điển hình trong lịch sử Trung Quốc cổ đại và về mặt khách quan đã có tác dụng lớn thúc đẩy sự phát triển của lịch sử. Có thể nói, Tần Thủy Hoàng là người đã có những cống hiến vĩ đại cho sự phát triển văn hóa, lịch sử của Trung Quốc. Ông vừa nổi tiếng là một vị vua anh minh, lại cũng khét danh là tên bạo chúa. Tuy công, tội đều có, song xét kỹ thì công vẫn lớn hơn tội. Đó là công lao to lớn kết thúc giai đoạn phân chia và chiến loạn kéo dài gần 800 năm, thúc đẩy lịch sử Trung Quốc tiến lên tầm cao mới.
Hán Vũ Đế mở rộng con đường học tập và trọng dụng nhân tài
Hán Vũ Đế là vị hoàng đế kiệt xuất trong lịch sử Trung Quốc, thời kỳ Hán Vũ Đế trị vì chính là thời kỳ lịch sử phát triển rực rỡ của đất nước Trung Quốc. Hán Vũ Đế tên là Lưu Triệt, là con của Hán Cảnh Đế và là vị hoàng đế thứ năm của nhà Tây Hán. Ông là một hoàng đế tài năng có nhiều mưu lược. Thời gian Hán Vũ Đế trị vì mặc dù không mù mịt khói lửa chiến tranh song cũng kinh động với những cuộc nhiễu sự quyền biến trong hoàng cung, ông tận mắt chứng kiến những cảnh đấu đá tranh giành ngôi vị thái tử, hoàng quyền và cảm nhận sâu sắc sự nghiêm trọng của triều chính. Nên khi lên ngôi, ông đã lập tức tìm cách thanh trừ, khống chế quyền lực của bè cánh thân tín với Đậu thái hậu, đồng thời đưa những tư tưởng của phái cách tân vào triều môn. Đây là biện pháp dọn đường để chuẩn bị cho những bước đổi mới sau này của ông.
Đào tạo, khuyến khích nhân tài là một trong những công lao lớn của Hán Vũ Đế. Thông qua việc lựa chọn tiến cử nhân tài từ các địa phương trong cả nước, Hán Vũ Đế chủ trương mở rộng con đường tuyển bạt và trọng dụng nhân tài, thực hiện không phân biệt giàu nghèo đẳng cấp, chỉ cần có chân tài thực học thì sẽ được phá cách để trọng dụng, như Chủ Phụ Yển, Chu Mãi Thần... Chủ trương này của ông đã thúc đẩy phong trào học tập trong cả nước, làm xuất hiện nhiều lớp nhân tài cho nhà Hán, khiến thời đại nhà Hán trở thành thời kỳ phát triển mạnh mẽ trong lịch sử.
Hán Vũ Đế độc tôn Nho thuật và mở rộng bờ cõi
Hán Vũ Đế hết sức coi trọng sự phát triển của tư tưởng học thuật, song do phải xuất phát từ góc độ tăng cường và củng cố sự thống nhất của quốc gia và địa vị thống trị của tập quyền trung ương, ông đã lựa chọn biện pháp của nhà tư tưởng lớn Đổng Trọng Thư là "bãi truất bách gia, độc tôn Nho thuật". Vì thế mà những tư tưởng của Nho gia được phát triển một cách tương đối toàn diện và đầy đủ, từ đó đặt cơ sở vững chắc cho sự thống trị của nó ở Trung Quốc suốt hơn hai ngàn năm. Đương thời, tư tưởng Nho gia thuộc phái cách tân, có tác dụng rất quan trọng duy trì nền đại thống nhất và chế độ tập quyền trung ương của đất nước, chủ trương lấy tinh thần phấn đấu vươn lên, hăng hái, tích cực tham gia vào chính sự, để thay thế cho tư tưởng vô vi của Lão Tử. Khi đó, Tây Hán đang ở vào giai đoạn phát triển hưng thịnh, độc tôn tư tưởng Nho gia là phù hợp với trào lưu lịch sử nên có thể khẳng định quyết sách này của Hán Vũ Đế là đúng đắn và tích cực.
Sau khi Hán Vũ Đế bình định Nam Việt và chinh phạt Hung Nô, lãnh thổ đất nước được mở rộng, trở nên rất rộng lớn, phía tây lập ra Tân Cương, bắc đến sông Nha Lục, nam đến miền bắc Việt Nam, đông tới Phúc Kiến, Chiết Giang. Đây là công lao to lớn của Hán Vũ Đế đối với việc phát triển Trung Quốc trở thành một quốc gia lớn trên thế giới. Hán Vũ Đế lại cử Trương Khiên sang các nước Tây Vực lần thứ hai, mở ra con đường tơ lụa và mở rộng ảnh hưởng của Trung Quốc ở các nước Tây Vực cũng như tăng cường mối quan hệ hữu hảo và giao lưu văn hóa giữa Trung Quốc và các nước đó.
"Nguyên Sóc năm đầu, ngày Giáp Tý tháng ba nguyên xuân... Mùa thu quân Hung Nô tràn vào Liêu Tây, giết chết thái thú, đến Ngự Dương, Nhạn Môn, đánh đuổi đô úy, giết chừng hơn ba chục ngàn người. Nhà vua sai tướng quân Vệ Thanh đến Nhạn Môn, tướng quân Lý Tức đi chinh phạt, chém được hàng mấy ngàn thủ cấp. Vùng đất Đông di Nam man có tới 28 vạn người đến hàng, cho đổi tên thành Thương quận."
- Hán thư, Vũ Đế kỷ.
Ngoài ra, Hán Vũ Đế còn thực thi một loạt các biện pháp chính trị mạnh và hiệu quả: để tăng cường chế độ tập quyền trung ương, ông cho các nước chư hầu như các quận để quản lý, như thế vừa không xâm phạm tới lợi ích thiết thân của họ lại có thể làm yếu đi quyền lực của vua các nước chư hầu, điều này có lợi cho nền thống trị quốc gia; đồng thời giảm bớt quyền lực của thừa tướng, lập ra cơ cấu văn thư, trực tiếp xem xét các biểu, tấu, tiến thêm một bước tập trung quyền lực từ thừa tướng về tay quân chủ. Hơn nữa, ông còn nghe theo chủ trương của Tang Hoằng Dương đẩy mạnh phát triển các sản phẩm chủ yếu như muối, sắt và thực hiện thống nhất mua bán, tăng nguồn thu nhập quốc gia đồng thời thống nhất và tăng cường quản lý tiền tệ.
Sự vĩ đại của Hán Vũ Đế chính là ở chỗ, tuy thời gian ông trị vì là một thời kỳ thái bình song ông không giống như một số hoàng đế khác ham mê hưởng lạc mà luôn biết lo xa, "cư an tư nguy", tìm cách tăng cường thống nhất, ổn định biên giới, chăm lo các dân tộc, đồng thời mở rộng con đường phát triển kinh tế và văn hóa, khiến Trung Quốc có được thời kỳ phát triển rực rỡ, trở thành một nước có ảnh hưởng trên thế giới. Trải qua những tháng ngày làm việc cật lực vì đất nước, đến những năm cuối đời, Hán Vũ Đế còn thực hiện một cuộc "Luân Đài hối quá" - kiểm điểm lại để thấy những sai sót trong các chính sách của mình. Đây quả là một phẩm chất, một tiết tháo thật đáng trân trọng.
Tóm lại, Hán Vũ Đế là vị vua anh minh tài năng vào bậc nhất trong việc củng cố giang sơn của lịch sử các triều đại Trung Quốc, đúng như lời khen ngợi ông của Ban Cố trong Hán thư:
"Nhà Hán kế nghiệp trăm vua, Cao Tổ dẹp loạn, Văn Đế, Cảnh Đế chăm lo cho dân, đến như các chuyện văn lễ cổ truyền, bao giờ cũng suy ngẫm cẩn thận. Khi Hiếu Vũ mới lập, liền bãi truất bách gia, đề cao, biểu dương Lục Kinh của Nho gia, từng bước thương nghị với lân bang, làm rạng rỡ uy danh nhà Hán, lập nên nhiều công lớn. Chấn hưng nền thái học, tu chỉnh lịch tế lễ, đổi chính sóc, định lịch số, soạn âm nhạc, sáng tác thi ca, dựng đàn tế cúng bách thần, thừa kế nghiệp nhà Chu, chấn chỉnh văn chương, công lao khó mà kể hết. Đời sau kế nghiệp lớn, nhờ vậy mà lập nên uy phong thời tam đại."
- Hán thư, Vũ Đế kỷ.
Nguồn: Kinh điển văn hóa 5000 năm Trung Hoa - Tập 1 (Dương Lực).
