Bài tổng quan
Dịch cùng tắc biến và ba lẽ của sự đổi thay
Đổ nước mới vào bình thì nước cũ tràn ra, và người xưa nhìn cảnh ấy mà viết thành một chữ. Một con thằn lằn nhỏ đổi màu theo ánh sáng cũng được họ treo lên như vị thần của sự thay đổi. Còn câu nói quen thuộc rằng vật cùng thì biến, hóa ra đã đi xa hơn nhiều so với ý nghĩ thường ngày...
Biến dịch, cốt tủy và linh hồn sống của Chu Dịch
Có một câu trong Hệ từ ngắn đến mức người ta thuộc lòng, mà càng sống lâu càng thấy nó đúng.
Dịch cùng tắc biến, biến tắc thông, thông tắc cửu.
Vật đi đến chỗ cùng thì biến đổi, đã biến đổi thì thông, đã thông thì lâu dài. Tác giả lấy câu này làm cửa vào cho khái niệm biến dịch, mà ông gọi là cốt tủy và là linh hồn sống của Chu Dịch. Theo cách nói của ông, cả bộ Chu Dịch có thể xem như một bộ sách chuyên bàn về sự biến đổi. Chữ Dịch trong sách bao gồm bốn nghĩa là biến dịch, bất dịch, giao dịch và giản dịch, và nó giữ một vị trí rất quan trọng trong dịch học, có ảnh hưởng sâu rộng tới dịch lý học.
Biến dịch là sự biến hóa vận động của sự vật, là quy luật căn bản của việc sinh sôi và phát triển. Tác giả chia nguyên lý này làm ba nội dung: hằng động, thiện biến và nhật tân.
Hằng động: vận động không bao giờ dừng
Hãy nhìn chữ Dịch được viết ra, và ta sẽ thấy cả một bầu trời có mặt trời mặt trăng đổi chỗ cho nhau.
Vận động vĩnh cửu và không ngừng nghỉ là hạt nhân của quan niệm biến dịch trong Chu Dịch. Sách khẳng định vận động biến hóa là tuyệt đối, là thuộc tính chủ yếu của sự vật. Cũng vì thế mà Kinh Dịch được gọi tắt là Dịch. Qua sự vận động của mặt trăng và mặt trời, Dịch nêu lên quy luật vận động của muôn vật. Trong chữ kim văn, chữ Dịch được viết bằng sự kết hợp của mặt trời và mặt trăng, và trong tiếng Hán chữ Dịch có cả mặt trời lẫn mặt trăng, hợp lại thành chữ.
Nhật nguyệt vi Dịch, tượng âm dương dã.
Mặt trăng mặt trời hợp thành chữ Dịch, tượng trưng cho âm dương. Hệ từ cũng nói nghĩa của âm dương phối với mặt trời mặt trăng. Nhiều câu khác chỉ rõ Dịch thể hiện sự vận hành của hai vầng, như câu nhật nguyệt vận hành, một lạnh một nóng, và câu mặt trời đi thì mặt trăng lại, mặt trăng đi thì mặt trời lại, thay nhau mà sinh ra ánh sáng.
Theo tác giả, đó là quy luật. Các thiên thể luân chuyển không ngừng mà sinh ra âm dương, âm dương chuyển hóa mà sinh ra nóng lạnh, và từ đó vạn vật được sinh ra. Ông nhắc đến câu sau trong Hệ từ.
Biến động bất cư, chu lưu lục hư, thượng hạ vô thường, cương nhu tương dịch.
Đạo Dịch biến động không ở yên một chỗ, đi khắp sáu chỗ trống, lên xuống vô thường, cứng mềm đổi chỗ cho nhau. Ông đọc câu ấy theo hai tầng. Nhìn tổng thể thì đó là sự vận động của các thiên thể trong vũ trụ. Nhìn ở một góc độ khác thì đó là sự vận hành của tinh khí, vì Hệ từ nói tinh khí làm nên vật, hồn đi đâu thì thành biến. Đây là cơ sở của quan niệm vận hành vĩnh hằng trong Chu Dịch.
Tác giả kết luận rằng Kinh Dịch lấy chữ Dịch để nói lên vận động vĩnh cửu, khẳng định vận động như một điều tuyệt đối và mang tính vật chất, rồi củng cố cho lý luận vận động trong quan niệm duy vật biện chứng.
Thiện biến: con rắn mối đổi màu và sự dễ đổi thay
Một loài bò sát nhỏ đổi màu theo ánh sáng, mà người xưa nhìn nó như nhìn một vị thần giữ cửa của sự biến.
Thiện biến, tức dễ biến đổi, cũng là nội dung quan trọng của quan niệm biến dịch. Cái dễ dàng ấy người ta gọi là Dịch. Ngoài việc là hình ảnh của biến động vĩnh hằng qua sự luân chuyển giữa mặt trời và mặt trăng, nó còn tượng trưng cho việc đổi màu để hợp với môi trường quanh mình ở loài rắn mối.
Chữ Dịch trong văn tự giáp cốt khi viết ra và biến đổi theo thời gian là tượng hình của một loài động vật có chân. Thuyết văn giải rằng Dịch là hình tượng của con rắn mối, con ve sầu, con sâu, con thạch sùng. Nghiên cứu về rắn mối, tác giả kể rằng ngày xưa người ta cho rồng thuộc loài động vật, và rắn mối có quan hệ với tổ tiên của rồng. Một ngày nó đổi hình đến mười hai lần, nên người ta gọi đó là hiện tượng biến sắc của rồng.
Chỗ nhạy của nó, ông nói, là vừa có thể mất đi và sinh ra, vừa co duỗi lẩn tránh theo âm dương cương nhu, lại có thể thay đổi màu sắc theo ánh sáng của mặt trăng mặt trời. Vì thế người xưa coi nó là vật linh, khắc vẽ để cúng bái. Đồ gốm màu được khai quật ở văn hóa Ngưỡng Thiều còn có hình đắp con rắn mối. Có người cho rằng sở dĩ Kinh Dịch được gọi là Dịch chính là vì sự dễ đổi thay này của rắn mối.
Quan niệm biến dịch trong Chu Dịch nhấn mạnh chữ biến, nhất là sự biến đổi của âm dương cương nhu. Sách có hai câu tiêu biểu.
Cương nhu tương thôi, nhi biến tác hỹ. Biến thông mạc đại hồ tứ thời.
Cứng mềm đẩy nhau mà sinh ra biến hóa, và không có gì biến thông hơn bốn mùa. Ngoài ra Kinh Dịch còn xem biến là quy luật tự nhiên khi vật đạt tới cực, như câu mở đầu. Biến lại chia ra dương biến và âm biến, nên Hệ từ nói một mở một đóng gọi là biến.
Nhất hạp nhất tịch vị chi biến. Tinh khí vi vật, du hồn vi biến.
Chu Dịch còn nói đến cái biến của vật chất, là câu tinh khí làm nên vật, hồn đi thì thành biến. Hiểu theo tác giả, vật chất là khí, khí vận động không ngừng, và vận động của khí chính là vận động của vật chất. Với điểm này, sách Càn tạc độ trong Dịch vĩ có bước phát triển, khi nói các biến dịch ấy chính là cái khí của nó. Ông tóm lại rằng vận động quan trong Kinh Dịch nhấn mạnh sự biến hóa của vật chất, là sự biến hóa dựa vào sự vận hành của vũ trụ, của âm dương cương nhu, để tiêu sinh và co duỗi.
Nhật tân: ngày mỗi ngày đổi mới
Nước mới chảy vào thì nước cũ tràn ra, và cái bình chẳng bao giờ giữ nguyên một giọt nào.
Điểm thứ ba là nhật tân, tức ngày một đổi mới. Vận động quan trong Kinh Dịch luôn nhấn mạnh đến việc canh tân, thay cũ đổi mới. Chữ tượng hình trong văn tự giáp cốt dùng hình đồ đựng nước để chú cho chữ Dịch. Ý ở đây là nước mới rót vào thì nước cũ tràn ra ngoài. Về sau chữ Dịch còn được viết thành chữ Tứ. Tác giả nói chỉ bằng hình tượng hai chiếc đồ đựng nước như vậy mà đã thấy chữ Dịch liên hệ đến sự canh tân, và đó là một hàm ý quan trọng của chữ ấy.
Nhật tân chi vị thịnh đức. Sinh sinh chi vị Dịch.
Ngày một đổi mới mọi vật là đức thịnh, sinh ra rồi sinh mãi là Dịch. Mặt trời mỗi ngày đều là mới, nên sinh sôi mới là quy luật tự nhiên của sự phát triển. Hệ từ còn nói cái đức lớn của trời đất là sinh, và sự sống ấy chính là cái mới được sinh ra. Tác giả nhận xét rằng quan niệm biến dịch của Kinh Dịch rất chú trọng tân sinh, phản ánh mặt tích cực của quan niệm này, và đó là lý do khiến Chu Dịch mãi mãi có sức hấp dẫn đầy ma lực. Hằng động, thiện biến và nhật tân là nội dung quan trọng trong quan niệm biến dịch, là trụ cột và giữ vị trí quan trọng trong dịch lý học.
Biến dịch đi vào quan niệm sùng bái cái động
Ý tưởng rằng trời đất không ngừng nghỉ nên người cũng không được nghỉ đã len vào lời dạy của nhiều đời học giả.
Sang phần ảnh hưởng, tác giả bắt đầu từ việc quan niệm sùng bái cái động trong Chu Dịch phát triển nhiều ở đời sau. Trình Di đời Bắc Tống cho động là gốc của trời đất, và nói không thấy được đầu mối của cái động ấy vì nó nằm ở trung tâm của trời đất. Vương Phu Chi đời Thanh nói động là then chốt của đạo, tức đầu mối, tức trụ xoay. Sự vật luôn vận động, không vận động thì không có hình thức tồn tại, và đó là quy luật của vận động. Trương Tải nói động tất phải có cơ, mà cơ là vật chất, là động lực nội tại cho sự phát triển, đúng như câu trong Độc tứ thư đại toàn thuyết.
Cơ giả, phát động chi do.
Cơ là nguyên nhân khiến cái động phát ra. Cơ lại hàm chứa sinh cơ, nên chỉ có không ngừng vận động mới có thể sinh cơ. Trong phần chú giải sách Trang Tử có câu nhân uân không ngừng thì cơ cũng chẳng ngừng sinh ra, tức khí hỗn độn còn chuyển thì mầm động còn nảy. Cơ còn có nghĩa là thừa cơ, như câu trong Thượng thư dẫn nghĩa rằng âm biến rồi dương lại hợp, nhân đó mà có động và tĩnh.
Những nhận định ấy đều nói lên ý nghĩa chủ đạo của động đối với sự tồn tại và phát triển của vạn vật. Tư tưởng sùng bái cái động, hằng động trong Chu Dịch đã ảnh hưởng lớn đến thái độ coi trọng cái động và coi nhẹ cái tĩnh của Trung Hoa cổ đại. Ngay cả Khổng Tử cũng đặc biệt tôn sùng cái động. Sách Luận ngữ, thiên Tử Hãn, chép lại một khoảnh khắc ông đứng bên dòng sông.
Tử tại xuyên thượng viết: Thệ giả như tư phu.
Ông đứng trên bờ sông mà than rằng đi mãi như thế này sao. Đó là cách nhìn mọi sự vật và hiện tượng trong vũ trụ như những dòng sông lớn chảy mãi không ngừng.
Chu Dịch là kinh điển của Nho gia nên các nhà nho phát triển quan niệm này nhiều hơn cả, chủ yếu ở mặt luân lý và triết lý nhân sinh. Chịu ảnh hưởng của tư tưởng sùng bái cái động, họ đề xướng thái độ nhập thế tích cực và triết lý nhân sinh tự cường không nghỉ, và qua đó ảnh hưởng sâu sắc đến việc đào luyện khí chất của dân tộc Trung Hoa.
Biến dịch đi vào quan niệm sùng bái sự sinh và cái mới
Từ chỗ coi sống là đức lớn của trời đất, người xưa suy ra rằng người cũng phải sống cho ra sống.
Quan điểm coi trọng sự sinh và coi nhẹ sự tử trong Chu Dịch cũng ảnh hưởng lớn đến đời sau, đặc biệt là Nho gia. Từ khi Khổng Tử soạn Dịch truyện, quan niệm nhân sinh tích cực trong sách được phát huy nhiều. Nguyên lý sinh sinh chi vị Dịch nói rõ quan điểm về sự sinh sôi, và được giới nho gia mở rộng, nhập thế quan của họ cũng là sự thể hiện của việc sùng bái sự sinh. Tác giả thừa nhận rằng tư tưởng tiến thân chốn quan trường trong chủ trương của Nho gia có những hạn chế nội tại của xã hội phong kiến, nhưng điều đó vẫn cho thấy vai trò của triết lý nhân sinh. Tuân Tử đem quan điểm sùng bái sự sinh trong Chu Dịch nâng thành tư tưởng triết học, và đưa ra quan điểm người định thắng được trời.
Khổng Tử lại phát triển quan điểm ấy thành tư tưởng con người phấn đấu cống hiến cho xã hội, nhấn mạnh vai trò cá nhân trong tập thể bằng câu trong Thuyết quái.
Lập nhân chi đạo, viết nhân dữ nghĩa.
Đạo làm người gọi là nhân với nghĩa. Từ đó hình thành quan niệm rằng giá trị của nhân sinh là nhập thế tích cực chứ không phải xuất thế, và quan niệm này ảnh hưởng rất sâu đến luân lý tinh thần của dân tộc Trung Hoa. Tác giả kết rằng quan niệm sùng bái sự sinh có vai trò quan trọng trong việc phát triển tư tưởng văn minh Trung Hoa cổ đại, và là cơ sở của việc mưu cầu nhân sinh của dân tộc này.
Điểm thứ ba là cái tân, tức cái mới. Quan điểm này ảnh hưởng sâu đến các thế hệ trong xã hội Trung Hoa cổ đại. Tân ở đây là nhật tân, và bản chất của nó thể hiện ở chỗ mặt trời mỗi ngày là một mặt trời mới, những vì sao hôm nay không phải những vì sao hôm qua. Chỉ có canh tân mới là phát triển. Nhìn từ góc độ triết học, tôn sùng cái tân chính là quan niệm biến dịch vì muốn có cái mới thì phải thay đổi, có thay đổi mới có tân, có canh tân mới phát triển. Nó là một trong những mạch chảy chủ yếu của Chu Dịch. Từ khi Khổng Tử nói đi mãi như thế này sao, ấy đã là biểu hiện của sự phát triển tư tưởng tôn sùng cái tân của Nho gia.
Đời sau dựa vào câu dịch cùng tắc biến mà nêu quan niệm cùng thì tự biến. Vương Phu Chi phát triển tư tưởng sùng bái cái tân theo quan điểm triết học, cho rằng nhật tân là quá trình thay đổi về lượng dẫn đến thay đổi về chất. Từ các khái niệm nội thành và ngoại sinh trong Chu Dịch ngoại truyện, ông đưa ra quan điểm thôi trần chí tân, bỏ cái cũ để lấy cái mới, và tác giả nói điều này đưa Chu Dịch tới bước phát triển mới. Tân là sự phủ định của cựu, phá bỏ cái cũ thì mới lập nên cái mới. Thế hệ sau nói khứ cựu lập tân, bỏ cũ lập mới, và đó chính là sự phát triển của quan niệm sùng bái cái tân.
Tác giả tóm lại rằng quan niệm tôn sùng cái tân nhấn mạnh mầm sinh và sức sống của cái mới, kiến tạo quan niệm phát triển của Trung Hoa cổ đại, và ảnh hưởng vô cùng lớn đến sự phát triển tư tưởng, văn hóa và phong thái tinh thần của nước này.
Nguồn: Kinh điển văn hóa 5000 năm Trung Hoa - Tập 1 (Dương Lực), thuật lại có lược bớt.
