Bài tổng quan
Giản và phồn qua ba cuộc tranh luận, rồi đạo tam tài
Một nút thắt nhỏ thêm vào, rồi thêm nữa, và bộ sách vốn chỉ dùng vài vạch liền vạch đứt bỗng thành rừng chú giải mà người đọc lạc lối. Ba lần như thế, ba lần lại có người đứng ra gỡ nút. Rồi cũng từ những vạch ấy, sáu hào được chia thành ba tầng mà mỗi tầng giữ một ý riêng...
Ba cuộc đấu tranh giữa giản và phồn trong lịch sử dịch học
Cái đơn giản dễ bị ai đó vặn thêm một nút thắt, và rồi lại phải có người đứng ra gỡ.
Tác giả nói rằng suốt con đường phát triển của dịch học đã tồn tại nhiều cuộc đấu tranh giữa giản, tức đơn giản ngắn gọn, và phồn, tức nhiều và phức tạp. Ông kể ra ba cuộc quan trọng.
Lần thứ nhất: trong phái tượng số
Đời Hán là thời kỳ tượng số dịch học phát triển rầm rộ nhất. Đại diện cho học thuyết quái khí có Mạnh Hỷ và Kinh Phòng. Họ có những cống hiến lớn trong việc phát triển và ứng dụng tượng số dịch học, mà giá trị nhất là kết hợp bát quái, sáu mươi bốn quẻ với quy luật âm dương tiêu sinh của bốn mùa, khẳng định thêm tính khoa học của bát quái. Về sau thuyết quái khí kết hợp với nạp giáp, tức bát quái kết hợp với thiên can và ngũ hành, thể hiện ở thuyết nguyệt thể nạp giáp trong Chu Dịch tham đồng khế của Ngụy Bá Dương. Từ đó việc nghiên cứu tượng số trong Chu Dịch lên một tầm cao mới. Quái biến thuyết vốn là nguyên lý chủ yếu của thuật chiêm phệ trong Dịch truyện, nay mở rộng mối liên hệ và chuyển hóa giữa bát quái và sáu mươi bốn quẻ, ảnh hưởng lớn đến tư duy biện chứng của dịch học.
Tuy nhiên, Tuân Sảng và Ngu Phiên với quái biến thuyết của mình làm cho các quẻ càng biến càng phức tạp. Những hỗ thể, bán tượng và bàng thông do hai ông tạo ra đưa tượng số dịch học đến chỗ phân tán, vụn vặt. Vương Bật đời Ngụy Tấn kiên quyết đấu tranh với lối quái biến này. Quan điểm gạt bỏ tượng số của ông tuy phiến diện, nhưng có vai trò chấn chỉnh để phái tượng số đi đúng hướng.
Lần thứ hai: trong phái nghĩa lý
Dịch lý vốn cô đọng, súc tích và tinh tế. Đời Tống là thời kỳ nghĩa lý dịch học phát triển mạnh nhất và có nhiều cống hiến nhất. Khi ấy có khí thuyết dịch học của Trương Tải, lý học dịch học của Trình Di và Chu Hy, tâm học dịch học của Lục Cửu Uyên và Vương Thủ Nhân, công lợi dịch học của Tiết Lý Tuyên và Diệp Thích. Nhưng có những vấn đề của dịch lý vốn rất sâu mà khi giải thích lại làm cho nó phức tạp thêm, dẫn đến tranh cãi giữa Lục Cửu Uyên và Chu Hy. Cụ thể là năm 1175, năm Thuần Hy thứ hai đời Tống Hiếu Tông, trong cuộc hội đàm ở chùa Nga Hồ, hai bên tranh luận gay gắt về vấn đề từ vô cực mà có thái cực.
Lục Cửu Uyên lấy cái giản dị của Chu Dịch để phê phán cái chi ly, tức rời rạc, của Chu Hy. Ông phát biểu một câu thơ mà tác giả dẫn từ Lục Cửu Uyên tập.
Dịch giản công phu chung cửu đại, chi ly sự nghiệp cánh phù trầm.
Đơn giản thì công sức phấn đấu lâu dài và lớn mạnh, rời rạc thì sự nghiệp lên xuống thất thường, không ổn định. Ông còn nói lời của Phu Tử giản dị, còn lời của Hữu Tử thì chi ly. Lục Cửu Uyên cố vận dụng nguyên lý giản dị để nhận thức sự vật, và trên cơ sở đó lĩnh hội đạo hướng nhân tâm trong Thiền tông, rồi lập ra tâm học dịch học lấy nguyên lý dịch giản làm chủ đạo. Việc ông dùng nguyên lý giản dị nhìn thế giới có ảnh hưởng lớn tới việc vận dụng và phát triển nguyên lý dịch giản trong Chu Dịch.
Lần thứ ba: trong phái dịch đồ
Hệ từ truyện ở bản gốc nói sông Hà hiện ra Hà đồ, sông Lạc hiện ra Thư, thánh nhân lấy đó làm khuôn phép. Chu Dịch cho rằng Hà đồ xuất hiện trên lưng long mã ở sông Hoàng Hà thời vua Phục Hy, còn Lạc thư xuất hiện trên mai rùa thần ở sông Lạc Thủy thời Hạ Vũ, tức hai thứ này ra đời rất sớm. Nhưng về sau, nhất là đời Thanh, các nhà dịch đồ học tranh luận quanh nguồn gốc Hà đồ Lạc thư, mối quan hệ thật giả giữa chúng với bát quái, và càng tranh luận càng phức tạp. Có người còn nhân đó phủ nhận Hà đồ Lạc thư mà phê phán toàn diện dịch đồ học.
Đời Thanh có Đồ thư biện hoặc của Hoàng Tông Hy, Dịch đồ minh biện của Hồ Vị, Dịch đồ điều biện của Trương Huệ Ngôn, đều tỏ thái độ nghi ngờ và phủ nhận nguồn gốc của dịch đồ thuyết. Nhưng tác giả nêu một chứng cứ thực tế. Năm 1977, ở ngôi mộ của Nhữ Âm Hầu đời Tây Hán tại gò Song Cổ, huyện Phụ Dương, tỉnh An Huy, người ta khai quật được một khay dùng để xem bói gọi là Thái Ất cửu cung chiêm bàn, ở giữa khay ghi các ký hiệu của Lạc thư. Điều đó cho thấy nguồn gốc của Lạc thư muộn nhất cũng phải vào những năm đầu đời Tây Hán, và phán đoán của Chu Dịch không phải không có căn cứ. Cũng nhờ cuộc tranh luận gay gắt về Hà Lạc mà dịch đồ học đời Thanh mới phát triển mạnh mẽ.
Dịch giản trong quản lý ngày nay
Nắm được một sợi tóc đúng chỗ, cả cái đầu sẽ phải cúi theo.
Về ứng dụng hiện đại, tác giả viết rằng Chu Dịch và quản lý học đã trỗi dậy ở thời nay, từ sự gợi mở của nguyên lý lấy cái giản đơn làm hạt nhân. Tôn chỉ là lấy cái đơn giản để loại bỏ cái phức tạp. Dịch giản giúp thấu hiểu lẽ thiên hạ, và mọi sự vật hiện tượng chỉ khi nắm vững bí quyết thì mới có thể khống chế và chi phối toàn bộ. Ông ví đó là nắm chắc mọi sợi tóc để làm lay động cả cơ thể, và đó là bản chất của giản dị.
Các nhà quản lý ngày nay phát hiện đơn giản là nguyên tắc quan trọng của quản lý kinh doanh, từ đó dấy lên trào lưu giản lý dịch. Bốn chữ Nguyên, Hanh, Lợi, Trinh tượng trưng cho giản dị chính là kim chỉ nam tốt nhất của quản lý dịch. Nguyên là lớn, nhắc kinh doanh phải hướng tới thị trường rộng, mở cửa và thâm nhập thị trường thì mới có tiền đề lớn mạnh. Hanh là hanh thông, khuyên hàng hóa phải được lưu thông liên tục. Lợi là lợi ích, nhắc phải cân nhắc lợi ích và mâu thuẫn hai phía giữa thị trường và hoạt động kinh doanh. Trinh là chính, nhắc con đường kinh doanh phải chân chính và đúng hướng.
Nhà kinh doanh, nhà quyết sách hay nhà quản lý nào nắm chắc bốn nguyên tắc ấy thì sẽ đạt hiệu quả quản lý cao nhất. Nếu không, tất dẫn tới cảnh người nhiều hơn việc, cách quản lý rườm rà cồng kềnh làm kinh doanh trì trệ, luẩn quẩn, không phát triển được. Tác giả gói bản chất của giản dị trong bốn chữ Nguyên, Hanh, Lợi, Trinh, một nội dung quan trọng của dịch lý.
Tam tài: sáu hào là đạo của trời, đất và người
Một quẻ có sáu vạch, nhưng người xưa nhìn vào chỉ thấy ba tầng, mỗi tầng hai vạch.
Hữu thiên đạo yên, hữu địa đạo yên, hữu nhân đạo yên, kiêm tam tài nhi lưỡng chi, cố lục. Lục giả phi tha dã, tam tài chi đạo dã.
Hệ từ hạ nói có đạo trời, có đạo đất, có đạo người trong đó, gồm ba tài mà nhân đôi lên, cho nên có sáu. Sáu hào không phải gì khác ngoài đạo của ba tài. Kinh Dịch lấy hào sơ và hào nhị tượng trưng cho đất, hào tam và hào tứ cho người, hào ngũ và hào lục cho trời, để làm rõ tam tài quan. Sách muốn khẳng định sáu hào của quẻ là một thể thống nhất của đạo tam tài gồm thiên, địa, nhân.
Tam tài quan là quan hệ chỉnh thể giữa ba đối tượng là trời đất, con người và xã hội, và là một nguyên lý quan trọng của Chu Dịch. Tác giả nêu ba nguyên lý cơ bản của nó.
Tư tưởng tôn sùng đạo trời
Thứ nhất là sùng bái trời. Hệ từ nói Dịch cùng với trời đất làm chuẩn, đó là sự tôn sùng đạo trời. Thuyết quái có một câu phân ba đạo rất rõ.
Lập thiên chi đạo, viết âm dữ dương. Lập địa chi đạo, viết nhu dữ cương. Lập nhân chi đạo, viết nhân dữ nghĩa.
Dựng đạo của trời, gọi là âm và dương, dựng đạo của đất, gọi là nhu và cương, dựng đạo của người, gọi là nhân và nghĩa. Theo tác giả, câu này không chỉ nói đạo trời là âm dương mà còn nhấn mạnh đạo trời là trụ cột trong tam tài quan. Chu Dịch tôn hai quẻ Càn và Khôn làm quẻ cha và quẻ mẹ để thống soái trời đất, khẳng định quan niệm coi trọng đạo trời.
Đại tai Càn nguyên, vạn vật tư thủy, nãi thống thiên. Chí tai Khôn nguyên, vạn vật tư sinh, nãi thuận thừa thiên.
Lớn thay đức nguyên của Càn, vạn vật nhờ đó mà bắt đầu và thống suốt cả trời. Trọn vẹn thay đức nguyên của Khôn, vạn vật nhờ đó mà sinh ra, vì thuận theo trời. Từ đó sách đưa ra những nguyên tắc như không có hình tượng nào lớn hơn trời đất, trời đất biến hóa thì thánh nhân bắt chước. Tác giả cho rằng mọi đạo lý khắp trời đất đều có nguồn gốc từ trời đất, và dẫn thêm câu sau.
Ngưỡng dĩ quan ư thiên văn, phủ dĩ sát ư địa lý, thị cố tri u minh chi cố. Nguyên thủy phản chung, cố tri tử sinh chi thuyết.
Ngẩng lên xem thiên văn, cúi xuống xét địa lý, cho nên biết cái cớ của tối và sáng. Truy về lúc bắt đầu, theo tới lúc cuối cùng, cho nên biết lẽ sống chết. Vì vậy có thể lấy trời đất làm chuẩn mà hiểu mọi lẽ.
Dịch dữ thiên địa chuẩn, cố năng di luân thiên địa chi đạo.
Dịch lấy trời đất làm mực thước nên có thể thu xếp trọn đạo của trời đất.
Tư tưởng coi trọng chỉnh thể
Thứ hai là chỉnh thể. Tam tài quan trong Chu Dịch rất coi trọng chỉnh thể, và nhấn mạnh chỉnh thể vĩ mô trong mối tương quan với đạo trời. Hệ từ nói như sau.
Quảng đại phối thiên địa, biến thông phối tứ thời, âm dương chi nghĩa phối nhật nguyệt.
Nhờ rộng lớn mà phối với trời đất, nhờ biến thông mà phối với bốn mùa, nhờ nghĩa âm dương mà phối với mặt trời mặt trăng. Văn ngôn cũng nói hợp đức với trời đất, hợp sáng với mặt trời mặt trăng. Mọi sự việc đều vận động trong chỉnh thể ấy, và chỉnh thể này chính là chỉnh thể vĩ mô trong mối tương quan mật thiết với đạo trời.
Sùng hiệu thiên, ti pháp địa, thiên địa thiết vị nhi Dịch hành hồ kỳ trung hỹ.
Cao thì bắt chước trời, thấp thì bắt chước đất, trời đất dựng ngôi rồi Dịch vận hành ở trong đó. Câu này cho thấy mọi vật đều lưu hành trong phạm vi trời đất, diễn biến vận hành của chúng không thể tách khỏi cái thể thống nhất của trời đất.
Bát quái được thống nhất trong một chỉnh thể, lấy Càn và Khôn làm quẻ cha quẻ mẹ. Đó là điều Thuyết quái nói rõ, và phản ánh đầy đủ quan hệ chỉnh thể vĩ mô thống nhất giữa trời và đất trong Chu Dịch.
Kiền, thiên dã, cố xưng hồ phụ. Khôn, địa dã, cố xưng hồ mẫu.
Thuyết quái giải thích rằng Càn là trời nên gọi là cha, Khôn là đất nên gọi là mẹ. Chấn cầu một lần mà được con trai nên là trưởng nam, Tốn cầu một lần mà được con gái nên là trưởng nữ. Khảm cầu hai lần được con trai nên là trung nam, Ly cầu hai lần được con gái nên là trung nữ. Cấn cầu ba lần được con trai nên là thiếu nam, Đoài cầu ba lần được con gái nên là thiếu nữ. Toàn bộ bát quái gồm trời đất, mặt trăng mặt trời, nước lửa, núi đầm, sấm gió đều là hình ảnh thu nhỏ của chỉnh thể quan về thế giới tự nhiên. Sáu mươi bốn quẻ là một thể thống nhất của nhân đạo, vật lý và nhân sự, tượng trưng cho chỉnh thể quan trừu tượng. Chỉnh thể quan trong Chu Dịch vì vậy không chỉ gồm chỉnh thể vĩ mô trong tương quan với đạo trời mà còn gồm chỉnh thể hình tượng và chỉnh thể trừu tượng.
Tư tưởng quần thể gần gũi
Thứ ba là sự thống nhất giữa cá thể và quần thể, mà tác giả gọi là quần thể gần gũi, giá trị cao cả của tam tài quan. Chu Dịch là kinh điển của Nho gia, mà Nho gia chủ trương nhập thế tích cực và coi trọng sự gần gũi giữa xã hội với quần thể, nên tam tài quan trong sách khác với tam tài quan của Đạo gia. Tư tưởng này không chú trọng sự tiếp xúc tính cá thể giữa người và tự nhiên, mà chú trọng sự thống nhất tập thể giữa người và xã hội, nên đặc biệt chú ý ý thức trách nhiệm và vai trò của cá thể trong tập thể.
Điều ấy thể hiện ở câu dựng đạo người ở trên, tức con người sống trong thế giới này phải vì xã hội mà lập nhân, tận nghĩa. Dưới sự chi phối của tư tưởng ấy, Chu Dịch nhấn mạnh nhân sinh quan và thế giới quan tích cực, như câu trời đi mạnh thì quân tử tự cường không nghỉ, thế đất là Khôn thì quân tử lấy đức dày chở vật. Tác giả kết rằng tư tưởng quần thể gần gũi là sự thay đổi về chất được sinh ra từ tam tài chỉnh thể quan, làm tăng giá trị xã hội học của Chu Dịch và giúp tác phẩm trở thành một tác phẩm xã hội học bất hủ.
Nguồn: Kinh điển văn hóa 5000 năm Trung Hoa - Tập 1 (Dương Lực), thuật lại có lược bớt.
