Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Khuyên Thiện

Bài tổng quan

Vô vi và họa phúc nương nhau trong lòng một ẩn sĩ

Đạo Học - Khuyên Thiện03/10/202612 phút đọc2 lượt đọc
Vô vi và họa phúc nương nhau trong lòng một ẩn sĩ

Cứ thuận theo tự nhiên mà trời đất vận hành, và với núi sông, lời khuyên ấy rất đúng. Nhưng đem cùng lời khuyên ấy áp vào chuyện nhà cầm quyền và người dân, nhiều người đời sau lắc đầu. Còn trong những câu về họa và phúc, ông lại…


Vô vi với trời đất: thuận theo tự nhiên

Vô vi là cốt lõi của hệ thống tư tưởng Lão Tử. Quan niệm vô vi của ông gồm hai mặt: cái nhìn vô vi về trời đất và cái nhìn vô vi về đường người. Trong đó, vô vi của trời đất là tích cực, tiên tiến; còn vô vi của đường người lại tiêu cực, thụt lùi.

Tông chỉ của quan niệm thiên đạo vô vi là vô vi tự nhiên. Chương 25 của Đạo Đức Kinh nói:

Người noi theo Đất, Đất noi theo Trời, Trời noi theo Đạo, Đạo noi theo Tự nhiên.

"Đạo pháp tự nhiên" là một quan điểm về vũ trụ tự nhiên rất kiệt xuất, rực rỡ khác thường. Đạo pháp tự nhiên là phải tuân theo quy luật tự nhiên. Triết lý kiệt xuất này, áp vào đạo trời, là tích cực và sáng tỏ, vì con người không thể trái quy luật tự nhiên. Nó có ý nghĩa chỉ đạo rất quan trọng đối với khoa học tự nhiên và là vấn đề nổi bật của thời đại. Dĩ nhiên, thuận theo tự nhiên và chinh phục tự nhiên là hai ý khác nhau, và nói thuận theo cũng không có nghĩa là phủ nhận năng lực của con người trong việc chinh phục tự nhiên. Thuận với quy luật tự nhiên của vũ trụ thực sự là khoa học: con người và trời đất tương ứng nhau, cuộc sống của con người trong trời đất và thế giới tự nhiên luôn có ảnh hưởng đến nhân thế. Vì vậy, thuận theo tự nhiên là chính xác, là khoa học.

Vô vi với con người: chỗ khiến người ta tranh cãi

Cũng một lời khuyên, đặt vào việc của núi sông thì sáng, đặt vào việc của người với người thì gây chuyện.

Quan điểm nhân đạo vô vi của ông là xã hội hóa quan điểm thiên đạo vô vi. Đó là nhược điểm lớn nhất của ông. Ông đem quan điểm thiên đạo vô vi quy chiếu vào đường người, và vì thế đã phủ định quan hệ quan trọng giữa con người với xã hội. Ông nhấn mạnh sự tương ứng giữa con người và trời đất nhưng lại phủ nhận mối quan hệ mật thiết giữa con người và xã hội. Trên thực tế, từ góc độ nào, ảnh hưởng của xã hội đối với con người cũng quan trọng hơn của tự nhiên rất nhiều.

Dưới sự chi phối của tư tưởng coi trọng đạo trời, coi thường đạo người, ông giữ thái độ tiêu cực, né tránh xã hội, một đường nhân sinh tiêu cực; sự lẩn tránh ấy liên quan đến cuộc sống ẩn sĩ lâu dài của ông. Vô vi trong Đạo Đức Kinh được bàn đến ở hai mươi mốt chương, chiếm một phần tư cuốn sách. Điều ấy cho thấy vị trí của ba điều vô dục, vô vi, bất tranh trong tư tưởng học thuật của ông.

Về vô vi, câu "vô vi nhi vô bất vi" ở chương 37 còn có chỗ tranh luận. Nếu chỉ phân tích riêng câu này, có thể hiểu là không làm bừa mới có thể chuyên tâm làm việc, và cuối cùng đạt đến chẳng có việc gì là không làm. Ngược lại, việc gì cũng làm, nhiều ý nhiều dục thì một việc cũng chẳng làm nên. Vì vậy câu ấy có thể hiểu như một phương pháp học, thậm chí là một phương pháp mang tính triết lý mạnh. Nhưng nếu phân tích theo toàn bộ cách bàn về vô vi trong Đạo Đức Kinh thì lại không như vậy. Cách bàn ấy gồm: vô dục, vô tranh, vô chí, vô tri, ở chỗ thấp, giữ nhu nhược...

Những lời sau đây làm ví dụ:

Chương 8: Chỉ không tranh chấp mới không lỗi lầm.

Chương 37: Không tham dục, luôn tĩnh lặng, thiên hạ sẽ tự ngay thẳng.

Chương 63: Làm mà như không làm, việc mà như không việc, vị mà như không vị.

Chương 66: Vì không tranh với ai nên thiên hạ không có kẻ nào tranh với mình.

Chương 68: Đức bất tranh là sức dùng người; đó là đỉnh cao của việc hợp với trời và với người xưa.

Chương 70: Thiên hạ không ai biết, không ai làm được.

Toàn bộ Đạo Đức Kinh đều liên quan đến những lời răn như vậy.

Đem những quan điểm ấy vào việc trị nước, ông chủ trương "bất dục dĩ tĩnh, thiên hạ tương tự chính", nghĩa là chỉ cần thuận theo tự nhiên thì quốc gia tự khắc vững bền. Nhân dân thì cần "kỳ chính muộn muộn, kỳ dân thuần thuần", nghĩa là chính quyền mềm mỏng khoan hòa thì dân chăm chỉ nghe theo, không thắc mắc. Thậm chí ông còn nêu quan điểm không dùng trí để trị nước thì nước tự sẽ giàu mạnh. Ông nói:

Ta vô vi mà dân tự đổi thay, ta chuộng tĩnh mà dân tự ổn định, ta vô sự mà dân tự giàu, ta vô dục mà dân tự thật thà.

Đây là chương 57. Ông chủ trương chính quyền vô vi, hiếu tĩnh, vô dục, vô sự thì dân mới nghe theo, và cũng có nghĩa vô vi thì mới dễ trị nước. Ông nhấn mạnh việc không chuộng người hiền để dân không tranh nhau, không quý đồ quý giá để dân không trộm cắp. Ông cho rằng vô tri thì mới vô dục, nên chủ trương không cần học hành, thậm chí cho rằng đầu óc con người chỉ nên như đứa trẻ mới có thể vô dục. Ông bỏ qua nền giáo dục cho nhân dân và đưa ra chính sách ngu dân, như câu ở chương 19 dạy dứt thánh bỏ trí để dân được lợi, và câu ở chương 65 rằng người xưa khéo dùng đạo thì chẳng làm cho dân sáng mà làm cho dân ngu hơn. Cũng ở chương ấy ông nói: dân khó trị vì họ có nhiều trí; lấy trí để trị nước thì cả nước thành giặc, trị nước không dùng trí thì cả nước sẽ có phúc.

Vô dục, vô vi sẽ dẫn đến cảnh giới nào? Chương 80 của Đạo Đức Kinh đã tổng kết: nước nhỏ, dân ít... khiến dân trở lại thời kết thằng mà dùng họ. Đó là phải trở lại xã hội thị tộc nguyên thủy thời xa xưa, nơi người với người "cùng nghe tiếng chó sủa gà kêu nhưng già chết cũng chẳng qua lại với nhau", nghĩa là chỉ thấy mà không quen. Điều ấy cho thấy ông cuối cùng hướng đến một xã hội thượng cổ, nguyên thủy, lạc hậu, thụt lùi.

Nói chung, toàn văn Đạo Đức Kinh đều liên quan đến vô dục và vô vi. Vô vi xét tổng thể là tiêu cực, tụt hậu; nhưng triết lý ấy nếu coi là triết học của ẩn sĩ, dùng trong dưỡng sinh thì có thể. Còn nếu dùng trong công việc hoặc quốc sự thì không thể. Thử nghĩ: một quốc gia, một dân tộc mà thiếu tinh thần phấn phát, đấu tranh, ngoan cường thì quốc gia ấy, dân tộc ấy sẽ không có linh hồn. Vì thế, cần khẳng định và thừa nhận vũ trụ quan vô thần của ông, nhưng hai mặt vô vi của ông phải được xem xét lại, loại bỏ phần tiêu cực.

Phép biện chứng thô sơ trong năm nghìn chữ

Cái cứng đi tới chỗ gãy, cái mềm tìm ra đường sống: một cuốn kinh nhỏ nhìn thấy điều ấy từ rất sớm.

Trong năm nghìn chữ của Đạo Đức Kinh có ẩn tư tưởng phép biện chứng thô sơ, một trong những thành tựu chủ yếu của nó. Đạo Đức Kinh đã tiếp nhận và phát triển lối nghĩ biện chứng của Chu Dịch. Kinh Dịch, từ quái tự, quái từ, hào vị đến hào từ đều thể hiện tư tưởng biện chứng, như vị trí sắp xếp của sáu mươi bốn quẻ kép và tám quẻ đơn đều phản ánh quy luật chuyển hóa thịnh suy, tiêu trưởng của âm dương. Từ hào sơ cửu đến hào thượng cửu của quẻ Càn, lời các hào phản ánh rõ quy luật vận động biện chứng của vật chất:

Tiềm long vật dụng. Kiến long tại điền. Quân tử chung nhật càn càn. Hoặc dược tại uyên. Phi long tại thiên. Kháng long hữu hối. Kiến quần long vô thủ.

Quẻ Càn qua các hình ảnh rồng ẩn, rồng hiện, rồng nhảy, rồng bay, rồng cao quá rồi hối hận đã biểu thị sự vật đi từ yếu đến mạnh, từ suy đến thịnh, từ thịnh đến suy, tức là tiêu chuẩn của phép biện chứng tiêu trưởng.

Nói gọn lại, nguyên lý bát quái trong Kinh Dịch thể hiện sự vận động của sự vật và quan hệ chuyển hóa trong phát triển, đều mang tư tưởng biện chứng. Dịch truyện phát triển tư tưởng ấy, như trong Hệ từ có ghi: Dịch cùng thì biến, biến thì thông, thông thì bền; Dịch có thái cực, thái cực sinh lưỡng nghi, lưỡng nghi sinh tứ tượng, tứ tượng sinh bát quái; có trời đất rồi sau muôn vật mới sinh; âm dương hợp đúc mà thành cương nhu; luôn luôn đổi thay gọi là Dịch; đức lớn của trời đất gọi là Sinh. Thiên Tạp quái trong Dịch truyện còn có câu nói về đầy và vơi là khởi nguồn của thịnh suy. Đó là những tư tưởng biện chứng rực rỡ nhất trong Dịch truyện, những nội dung triết học sáng lạn nhất của triết học Tiên Tần, và có ảnh hưởng quan trọng đến Đạo Đức Kinh.

Phần chuyển hóa trong Đạo Đức Kinh đã tiếp thu nguyên lý của Kinh Dịch và trình bày rất sâu sắc. Chương 40 nói:

Phản giả đạo chi động. Nhược giả đạo chi dụng.
(Hướng ngược lại là sự chuyển động của đạo; yếu mềm là cái dụng của đạo.)

Nghĩa là hướng đi của sự vật là hướng chuyển hóa ngược lại, đó là quy luật vận động của sự vật; câu sau nhấn mạnh sự yếu mềm có thể chuyển hóa sang cường thịnh. Chương 36 viết: mềm yếu thắng cứng mạnh; cong thì được bảo toàn, quanh co mà thành thẳng. Chương 58 viết:

Họa là chỗ dựa của phúc, trong phúc đã ẩn chứa cái họa.

Tất cả đều thể hiện tư tưởng biện chứng phong phú của ông. Cần khẳng định rằng mềm yếu có thể chuyển hóa thành cường mạnh là phù hợp với biện chứng, nhưng cũng phải phân biệt cái nhu nhược mới hình thành với sự suy nhược hư bại. Ông còn nhấn mạnh có sinh từ không, không sinh từ có; ở chương 52 có câu giữ lấy nhu gọi là cường. Đối với sự mềm yếu của suy nhược hư bại, không nên khiến nó chuyển hóa, vì sự vật muốn chuyển hóa phải có những điều kiện nhất định. Ông cho rằng sự vật nào cũng có thể chuyển hóa, coi nhẹ điều kiện hình thành sự chuyển hóa, hết thảy nghe theo tự nhiên, nên dễ rơi vào vũng bùn của phép biện chứng tầm thường. Đó là nhược điểm lớn nhất trong phép biện chứng của ông.

Nên nhìn Lão Tử như thế nào

Một nhà triết học có thể vừa nhìn thấy trời rất sâu, vừa nhìn sót chuyện người ở ngay gần.

Lão Tử là nhà tư tưởng, nhà triết học kiệt xuất, là người thầy đầu tiên và là người khai sáng Đạo gia, chiếm vị trí quan trọng trong bách gia chư tử. Tư tưởng học thuật của Đạo gia có ảnh hưởng đến nhiều lĩnh vực của Trung Quốc như quân sự, chính trị. Đặc biệt quan điểm vũ trụ tự nhiên của ông đã tỏa sáng ánh sáng của quan niệm duy vật. Năm nghìn chữ trong Đạo Đức Kinh có câu chữ tinh luyện, triết lý phong phú, là kinh điển của Đạo gia. Cuốn ấy chủ yếu phản ánh tư tưởng của ông, nhưng cũng là sự tập đại thành tư tưởng của nhiều nhà Đạo gia khác. Thành tựu lớn nhất của ông là sáng lập khái niệm Đạo, chỉ ra vấn đề bản nguyên của thế giới, phản đối quan niệm thần linh, coi trọng cách giải thích bằng phép biện chứng. Thành tựu của ông về vũ trụ quan thiên đạo vô cùng xuất sắc, có ảnh hưởng tích cực đến dưỡng sinh, khí công, khoa học tự nhiên, khoa học nhân thể và triết học đời sau. Bản nguyên của thế giới là bản chất sáng tạo của vạn vật, không liên quan đến linh hồn, thậm chí linh hồn cũng là một vật được sinh ra. Triết lý đúng đắn ấy là chân lý không đổi nghìn năm, thể hiện tính tiến bộ của triết học cổ đại Trung Quốc.

Quan điểm xã hội vô vi tiêu cực của ông được phản ánh trong cuộc sống ẩn sĩ của ông. Ông chán ghét thói đời, đồng tình với nông dân. Sự bất bình và tuyệt vọng khiến thế giới tinh thần của ông bắt đầu suy thoái, cuối cùng hình thành quan điểm vô vi lạc hậu, tiêu cực. Những quan điểm ấy thực sự có ảnh hưởng bất lợi. Điều này giải thích vì sao có người phê phán quan điểm vô vi vô dục của ông là sự mê muội về tinh thần; nhưng ông không cố tình đưa ra những tư tưởng này mà do điều kiện lịch sử quyết định.

Tóm lại, quan điểm xã hội của ông rất tiêu cực và có ảnh hưởng bất lợi, nhưng quan điểm duy vật tự nhiên của ông là tiên tiến, tích cực, cần được khẳng định. Dù vậy, ông vẫn không mất đi ảnh hưởng đối với Trung Quốc cổ đại, vẫn là nhà triết học và nhà tư tưởng trác việt. Tổng kết lại, Đạo Đức Kinh, tác phẩm của ông, người thuộc học phái Đạo gia, đã có ảnh hưởng sâu sắc tới sự phát triển của tư tưởng Trung Quốc cổ đại và sống mãi với sử xanh.

Nguồn: Kinh điển văn hóa 5000 năm Trung Hoa - Tập 2 (Dương Lực), thuật lại có lược bớt.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Khuyên Thiện