Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Đạo Gia

Bài tổng quan

Sao nhập cung: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ sinh khắc ra sao

Đạo Học - Đạo Gia07/10/202615 phút đọc1 lượt đọc
Sao nhập cung: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ sinh khắc ra sao

Một sao đương quyền, cả bầy hung tinh quỳ gối, người xưa nói vậy, nhưng chỉ khi ngôi sao ấy đứng đúng cung của nó. Cùng là Tham Lang, vào Khảm thì sinh con trai, vào Kiền thì ba mươi năm sau chỉ còn một quả phụ. Hai mươi lăm cặp sao và cung ấy rốt cuộc theo quy luật nào...


Nhà ở cung bất lợi thì dựng thêm tòa cao hơn để áp chế

Khi một ngôi nhà nằm ở cung bất lợi, việc đầu tiên là xem kỹ chiều cao, thấp ở vị trí của sao hung, rồi dựng một tòa nhà mang sao cát cao hơn để đè sao hung kia xuống. Chẳng hạn Hỏa tinh áp chế Mộc tinh, sao Tham Lang áp chế sao Ngũ Quỷ, Thủy tinh áp chế Kim tinh, sao Vũ Khúc hóa giải sao Lục Sát, Kim tinh áp chế Thổ tinh, sao Cự Môn chế phục sao Phá Quân.

Ngoài ra còn nhiều cách điều chỉnh: bớt một hào, thêm một hào; cát tinh chưa hiển lộ thì làm cho lộ ra; cổng khắc phòng, cung khắc sao, sao khắc cung; đường đi hai bên, phía sau, phía trước nhà; hố nước, gò đống... Tất cả đều phải cân nhắc và tu tạo cho thích hợp, nhờ vậy mới chuyển hung thành cát.

Sao Kim vào năm loại cung

Vũ Khúc và Phá Quân đều là Kim tinh. Khi hai sao ấy vào các cung, quan hệ sao với cung quyết định cát hung.

  • Kim vào cung Mộc (Chấn, Tốn): Kim tinh ở trên, Mộc cung ở dưới, là sao khắc cung. Dù Vũ Khúc hay Phá Quân vào cung Chấn đều hại con trưởng; vào cung Tốn hại trưởng nữ. Kim khắc Mộc chủ chết thảm, điên cuồng, hại gân cốt, lưng, đùi. Kim khắc Chấn thì đàn ông bệnh tật; Kim khắc Tốn thì phụ nữ bệnh hoạn.
  • Kim vào cung Thủy (Khảm): Kim ở trên, Thủy ở dưới, là sao sinh cung. Kinh xưa nói Kim sinh Thủy chủ hưng vượng, nhân khẩu bình an, gia đạo hanh thông, tiền tài sung túc; đó là nói sao Vũ Khúc. Còn sao Phá Quân thì hung nhiều hơn cát.
  • Kim vào cung Hỏa (Ly): Kim ở trên, Hỏa ở dưới, là cung khắc sao, nhiều hung họa: tiền bạc mất mát, con cháu suy bại. Kiền Kim với Vũ Khúc cùng thuộc dương mà khắc nhau, Đoài Kim với Phá Quân cùng thuộc âm mà khắc nhau, chủ bệnh phổi, ho, sầu muộn, gia đạo không an.
  • Kim vào cung Thổ (Khôn, Cấn): Kim ở trên, Thổ ở dưới, là cung sinh sao. Kinh xưa viết: Thổ sinh Kim, gia nghiệp hưng vượng, nhân đinh đông đúc, cát nhiều hung ít, ngàn năm hưng thịnh; đó là nói Vũ Khúc. Nếu là Phá Quân, âm Kim vào âm Thổ thì nhất định bị chôn vùi trong Thổ, chẳng có sinh khí gì.
  • Kim vào cung Kim (Kiền, Đoài): Vũ Khúc vào Kiền, Đoài thì gia sản, gia súc hưng vượng, mọi người bình an; dương khí vào cung âm thì sinh nhiều con trai. Phá Quân vào Kiền, Đoài thì tài sản sa sút, gia súc thiệt hại, nhân khẩu giảm, đàn ông chết chóc; âm khí vào cung âm thì sinh nhiều con gái.

Sao Mộc: Tham Lang vào năm loại cung

  • Mộc vào cung Kim (Kiền, Đoài): Mộc ở trên, Kim ở dưới, là cung khắc sao. Trong cửu cung, Chấn vị vào Kiền, Đoài khắc dương; Tốn vị vào Kiền, Đoài khắc âm. Tham Lang tuy cát nhưng không hợp vào Kiền, Đoài, sẽ trước cát sau hung; sau ba mươi năm người và của hết sạch, chỉ còn quả phụ. Sao Mộc bị cung Kim khắc, chủ bệnh tật, sầu muộn, tự sát, thổ huyết mà chết.
  • Mộc vào cung Mộc (Chấn, Tốn): nhân khẩu nhất định hưng vượng, con cháu đông đúc, ruộng vườn tươi tốt, lương thực dồi dào, mọi sự thuận lợi.
  • Mộc vào cung Thủy (Khảm): Mộc ở trên, Khảm ở dưới, là cung sinh sao; chủ sinh con trai, gia sản hưng vượng, phúc lộc dồi dào. Tham Lang là phúc tinh, gặp Thủy thì vạn sự hanh thông, lục súc hưng vượng, con cháu vinh hoa phú quý.
  • Mộc vào cung Hỏa (Ly): Hỏa ở trên, Mộc ở dưới, là sao sinh cung; nhân khẩu bình an, gia tài hưng vượng. Mộc sinh Hỏa nhưng e thế Hỏa quá vượng. Nếu Mộc ở trên, Hỏa ở dưới thì Mộc bị thiêu cháy hết, nghĩa là tuyệt tự.
  • Mộc vào cung Thổ (Khôn, Cấn): Mộc ở trên, Thổ ở dưới, là sao khắc cung; tài sản, gia súc, ruộng vườn đều mất dần. Thổ bị Mộc khắc chủ bệnh tỳ vị, thân thể yếu kém, còi cọc.

Sao Thủy: Văn Khúc vào năm loại cung

  • Thủy vào cung Kim (Kiền, Đoài): Thủy ở trên, Kim ở dưới, là cung sinh sao, sao Lục Sát chủ sự. Nhưng vì cung và sao tương sinh nên gia tài hưng vượng, phát đạt, ban đầu thuận lợi song cuối cùng suy bại. Nếu phụ nữ nắm quyền sẽ sinh dâm loạn, kiện cáo, bệnh phụ khoa.
  • Thủy vào cung Mộc (Chấn, Tốn): Thủy ở trên, Mộc ở dưới, là sao trú tại cung. Lục Sát tuy hung hiểm nhưng sao và cung tương sinh, nhân khẩu bình an, gia tài phát đạt; cuối cùng nhà do quả phụ cai quản.
  • Thủy vào cung Thủy (Khảm): nhân khẩu, gia sản dần dần sạch trơn, bệnh tật triền miên.
  • Thủy vào cung Hỏa (Ly): Thủy ở trên, Hỏa ở dưới, là sao khắc cung. Thủy Hỏa xung khắc, gia đình bị liên lụy kiện tụng, thị phi, trộm cướp, hỏa hoạn, vợ con theo nhau chết, bệnh tật triền miên.
  • Thủy vào cung Thổ (Khôn, Cấn): Thủy ở trên, Thổ ở dưới, là cung khắc sao; gia sản, gia súc, ruộng vườn suy bại dần, gia đình ly tán, tai họa liên tiếp. Thổ khắc Thủy chủ bệnh điên cuồng, phù thũng. Kinh xưa viết: Thủy vào cung Khôn, dương nhập âm, chủ hại phụ nữ, trong nhà luôn có tiếng khóc than; Thủy vào cung Cấn, chủ hại đàn ông, vạn sự suy bại.

Sao Hỏa: Liêm Trinh vào năm loại cung

  • Hỏa vào cung Kim (Kiền, Đoài): Hỏa ở trên, Kim ở dưới, là sao khắc cung. Ngũ Quỷ vào cung Đoài hại thiếu nữ; vào cung Kiền hại người chủ chốt trong nhà. Hỏa khắc Kim chủ gia đình lục đục, kiện tụng, thị phi, trộm cướp; Kim bị Hỏa khắc chủ bệnh đau tim, ho lao, thổ huyết.
  • Hỏa vào cung Mộc (Chấn, Tốn): Hỏa ở trên, Mộc ở dưới, là cung sinh sao. Liêm Trinh thế ác, tuy Mộc sinh Hỏa nhưng không phải khí lành: gia sản sa sút, con bất hiếu, già trẻ bất an. Kinh xưa viết: Hỏa tinh Liêm Trinh đến chỗ Mộc, Mộc sinh nó chẳng phải điềm lành; kiện tụng, thị phi, hung ác giết người.
  • Hỏa vào cung Thủy (Khảm): Hỏa ở trên, Thủy ở dưới, là cung khắc sao. Hỏa vào Thủy lập tức bị dập tắt, chủ gia tài suy bại, hỏa hoạn, kiện tụng; con thứ chết trước rồi tới con trưởng. Hỏa bị Thủy khắc chủ bệnh tim, khó sinh; nước lạnh dập Hỏa chủ thổ huyết, bệnh khó chữa.
  • Hỏa vào cung Hỏa (Ly): Hỏa khí quá vượng, lập tức sinh hung họa. Gia súc, điền sản không thể hưng thịnh, quả phụ gánh việc nhà; bệnh tật tai họa dồn dập, đáng ngại nhất là bệnh của con gái và con trai thứ. Gặp năm Dần, Ngọ, Tuất sẽ có họa tuyệt tự do Ngũ Quỷ tác quái.
  • Hỏa vào cung Thổ (Khôn, Cấn): Hỏa ở trên, Thổ ở dưới, là sao sinh cung, nhưng Hỏa là sao Ngũ Quỷ, hung nhiều cát ít. Hỏa tinh vào Khôn thì mẹ chết trước; vào Cấn thì con trai thứ chết trước. Bệnh tật khó chữa, tôi tớ bỏ đi, gia nghiệp sút dần.

Sao Thổ: Cự Môn và Lộc Tồn vào năm loại cung

Cự Môn và Lộc Tồn đều là Thổ tinh, nhưng hai Thổ khác nhau: Cự Môn là dương Thổ, Lộc Tồn là âm Thổ.

  • Thổ vào cung Kim (Kiền, Đoài): Thổ ở trên, Kim ở dưới, là sao sinh cung. Nhưng Lộc Tồn là âm Thổ, Thổ tuy sinh Kim, âm Thổ nhiều quá cuối cùng lại làm Kim bị chôn vùi: gia sản không hưng vượng, nhân khẩu ít. Riêng Lộc Tồn vào cung Đoài thì tốt mọi sự: gia súc, gia sản tăng tiến, mọi người bình an, con cháu phát đạt phú quý.
  • Thổ vào cung Mộc (Chấn, Tốn): Thổ ở trên, Mộc ở dưới, là cung khắc sao, hung họa trầm trọng. Lộc Tồn bị khắc thì hại phụ nữ, Cự Môn bị khắc thì hại đàn ông. Gia nghiệp suy bại, gia súc chết sạch, người gặp tai nạn. Cự Môn bị khắc chủ bệnh tỳ vị; Lộc Tồn bị khắc chủ bệnh mắt, tai, dẫn đến tàn tật.
  • Thổ vào cung Thủy (Khảm): Thổ ở trên, Thủy ở dưới, là sao khắc cung; gia nghiệp suy bại, con cháu ly tán, tài sản khánh kiệt. Thổ đến cung Thủy còn chủ nhiều thứ bệnh tật.
  • Thổ vào cung Hỏa (Ly): Thổ ở trên, Hỏa ở dưới, là cung sinh sao, chủ nhân đinh hưng vượng, phú quý. Kinh xưa viết: Hỏa sinh Thổ là đại cát, gia đình chắc chắn vinh hoa phú quý, con cháu đông đúc phát đạt. Đó là nói Cự Môn; nếu là Lộc Tồn thì dữ nhiều hơn lành.
  • Thổ vào cung Thổ (Khôn, Cấn): Cự Môn đến cung Cấn chủ hại con nhỏ (con thứ), nhưng vì thuộc dương Thổ nên cuối cùng lại phát phúc, lành nhiều hơn dữ. Cự Môn đến cung Khôn chủ hại người mẹ. Tương tự, Lộc Tồn đến hai cung Khôn, Cấn đều hại phụ nữ trong gia đình. Kinh xưa viết: Thổ sinh vạn vật, còn gọi là tài thổ; Thổ vào Thổ thì tiền tài sa sút, người nhiều bệnh tật, con nhỏ và mẹ già gặp nạn.

Mỗi sao gặp hành nào thì sinh hay khắc

  • Tham Lang, Sinh Khí thuộc Mộc: gặp Kim bị khắc, chủ thiệt hại, nghèo cùng; gặp Thổ cũng xung khắc, chủ bệnh tật; gặp Hỏa tương sinh, chủ gia tài phú quý.
  • Cự Môn, Thiên Y thuộc Thổ: gặp Hỏa vượng thì phát tài phát phúc; gặp Mộc xung khắc, bị bệnh mắt, bệnh tim; gặp Kim tương sinh, gia nghiệp hưng vượng, hiển hách.
  • Vũ Khúc, Diên Niên thuộc Kim: gặp Hỏa xung khắc sinh bệnh phổi, ho lao; gặp Mộc xung khắc, chủ nghèo khổ; gặp Thổ tương sinh, phát tài phúc; gặp Thủy tương sinh, tiền tài sung túc, một đời phú quý.
  • Văn Khúc, Lục Sát thuộc Thủy: gặp Kim tương sinh, phát tài, hưng vượng đến đời con cháu; gặp Mộc tương sinh, tiền tài tăng tiến; gặp Thổ xung khắc, gia đạo sa sút; gặp Hỏa xung khắc, nhất định bị hỏa tai.
  • Liêm Trinh, Ngũ Quỷ thuộc Hỏa: gặp Thủy xung khắc, chủ bệnh tật, lao thương; gặp Kim xung khắc, con cháu dần suy bại; gặp Mộc tương sinh, tài lộc dồi dào; gặp Thổ tương sinh, nhân đinh hưng vượng.
  • Lộc Tồn, Họa Hại là hai sao Thổ: gặp Kim tương sinh, tiền tài dư dả; gặp Mộc xung khắc, nhà không có con trai thừa kế; gặp Thủy xung khắc, nhà có người chết đuối, nhân khẩu ít ỏi.
  • Phá Quân, Tuyệt Mệnh là hai sao Kim: gặp Thổ tương sinh, gia sản dồi dào; gặp Thủy tương sinh, không sợ nghèo khó; gặp Hỏa xung khắc, gia nghiệp suy bại; gặp Mộc xung khắc, gia đạo bất an.

Ba sao cát đắc vị, mất vị

Sao Tham Lang vào ba cung Khảm, Chấn, Tốn; sao Cự Môn vào Ly, Cấn, Khôn; sao Vũ Khúc vào Kiền, Cấn, Khôn, Đoài: đều cát lợi, là cát tinh đắc vị, chủ con cháu hưng thịnh, phú quý lâu dài.

Sao Tham Lang vào cung Ly, sao Cự Môn vào Kiền, Đoài, sao Vũ Khúc vào Khảm là cát tinh thất vị (mất cung vị): con cháu không phát đạt, phú quý không lâu dài. Sao Tham Lang vào hai cung Khôn, Cấn, sao Cự Môn vào Khảm, sao Vũ Khúc vào Chấn, Tốn cũng là cát tinh thất vị: nhân đinh suy bại, tài lộc sa sút. Kinh xưa viết: cát tinh bị khắc cũng sinh hung hiểm; quân tử gặp nạn, tiểu nhân đắc chí.

Gốc của phép bát trạch: Hà Đồ, Lạc Thư và cửu tinh

Khảm, Ly, Chấn, Tốn, Kiền, Khôn, Cấn, Đoài là tám phương. Trước hết định vị trí nền nhà, sau đó từ hậu thiên bát quái và tiên thiên bát quái mà suy ra. Cửu tinh là các sao của tiên thiên bát quái. Hà Đồ là tiên thiên bát quái, Lạc Thư là hậu thiên bát quái. Vị trí nhà lấy hậu thiên bát quái làm căn bản, bố trí theo cửu tinh của tiên thiên bát quái. Hà Đồ với Lạc Thư, kinh với vĩ, bát quái với cửu tinh là quan hệ biểu và lý. Hiểu được ý nghĩa của kinh vĩ, biểu lý ấy thì nắm chắc cách định vị trí nhà.

Mỗi sao ở cung nào như thế nào

  • Sinh Khí, Tham Lang là Mộc: đắc vị tại Khảm, Ly, Chấn, Tốn, chủ quý hiển lâu dài. Tại Kiền, Đoài là bị khắc nhập; tại Cấn, Khôn là khắc xuất; cát tinh thất hãm, rất khó phát đạt.
  • Thiên Y, Cự Môn là Thổ: tại Kiền, Đoài, Cấn, Khôn là đắc vị, hồng phúc lâu dài. Tại Chấn, Tốn là bị khắc nhập, tại Khảm là khắc xuất; cát tinh thất hãm, không có chủ quyền, chẳng thể phát đạt.
  • Diên Niên, Vũ Khúc là Kim: tại Kiền, Đoài là đắc vị, tại Cấn, Khôn được sinh nhập, chủ phúc lộc lâu dài. Tại Ly bị khắc nhập, tại Chấn, Tốn là khắc xuất; cát tinh thất hãm, khó phát đạt.
  • Tuyệt Mệnh, Phá Quân là Kim: tại Ly bị vây khốn. Tại Chấn, Tốn như kẻ xấu đắc chí, hãm hại người tốt. Tại Cấn, Khôn như kẻ dẫn đường cho giặc, nuôi ong tay áo. Tại Khảm như dã thú sa bẫy. Tại Kiền, Đoài chẳng khác con chó quay lại cắn chủ.
  • Ngũ Quỷ, Liêm Trinh là Hỏa: tại Chấn, Tốn ngùn ngụt như đống lửa. Tại Kiền, Đoài như núi lửa nung chảy mọi thứ. Tại Cấn, Khôn cũng vậy. Tại Khảm như ác thú cứng đầu cứng cổ không chịu khuất phục. Tại Ly, lửa bốc ngút trời.
  • Họa Hại, Lộc Tồn là Thổ: tại Chấn, Tốn như đầy tớ nhà giàu ngoài mặt vâng chịu, trong lòng rắp tâm hãm hại. Tại Kiền, Đoài như kẻ phản phúc. Tại Ly như người nuôi cáo trong nhà. Tại Khảm như kẻ đắc chí phát cuồng. Tại Cấn, Khôn như băng đảng phản nghịch, hại nhà hại nước.
  • Lục Sát, Văn Khúc là Thủy: tại Kiền, Đoài như kỹ nữ mua vui cho người. Tại Cấn, Khôn như gái già lấy trai tơ, hoàn toàn không tương xứng. Tại Chấn, Tốn như con gái mất trinh, ô uế thanh danh. Tại Khảm như trai gái đan díu nhau ngoài bãi dâu. Tại Ly như hai gái lấy chung một chồng, suốt ngày cãi vã.

Tính chất các sao tự nhiên có cát có hung, nhưng kẻ ác cũng có thể cải ác theo thiện. Điều quan trọng là biết lợi dụng nó thế nào để biến hung thành cát.

Phép nhà không bất biến: thay một cánh cửa, đổi một hướng

Phép làm nhà không phải một lần là bất biến, quẻ và sao cũng biến hóa vô cùng. Ví dụ nhà ở vốn là tướng hung, cửa ngõ lối đi không cát lợi. Nhưng có khi chỉ thay một cánh cửa, chuyển một phương hướng, đã hóa hung thành cát, khiến cả nhà trở nên yên ổn. Đó là phép trừu hào hoán tượng, hướng cát tránh hung: thay đổi hào quẻ.

Còn nếu chuyên tâm đổi hào, nơi nào nhiều mà hung thì giảm từ nhiều thành ít; nơi nào ít mà hung thì tăng từ ít thành nhiều. Điều chủ yếu là phối hợp hào quẻ, biến đổi giữa cát và hung, có vậy âm dương mới hài hòa mà sinh khí lành.

Một sao đương quyền, cả bầy hung tinh quỳ gối

Nhà ở không thể để hung tinh cao chiếu. Chỉ cần để ba sao Tham Lang, Cự Môn, Vũ Khúc cao lớn thì thành cát tinh đắc vị, cát khí luôn còn mà không bị hung tinh áp chế; bốn hung tinh Lộc Tồn, Phá Quân, Văn Khúc, Liêm Trinh cũng chẳng thể tác oai tác quái. Vì thế mới có câu: một sao đương quyền, cả bầy hung tinh quỳ gối.

Sao chủ và sao chiếu: cát gặp cát thêm cát, hung gặp hung thêm hung

Luận cát hung họa phúc của nhà tuy cần có sao chủ, cũng cần có tầng sao cao lớn làm chủ. Cát tinh gặp cát tinh thì thêm phần cát lợi; hung tinh gặp hung tinh thì thêm phần hung ác. Nếu hai bên nhà có lầu cao thì phải xét cả sao chiếu chứ không chỉ xét sao chủ. Sao chiếu phải hỗ trợ cho sao chủ: sao chiếu là cát tinh thì sao chủ càng thêm cát lợi; sao chiếu là hung tinh thì dù sao chủ cát tường cũng bị hung tinh áp chế. Đó là nói chuyện trong nhà. Còn bên ngoài nhà có lầu cao, tức là có sao chiếu, cũng phải xét đến các sao chiếu ấy.

Nguồn: Lưu Bá Ôn, Địa Lý Toàn Thư, tập 2.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Đạo Gia