Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Đạo Gia

Bài tổng quan

La bàn sai, người con hiếu và nhà họ Thương hưng thịnh

Đạo Học - Đạo Gia07/10/202610 phút đọc1 lượt đọc
La bàn sai, người con hiếu và nhà họ Thương hưng thịnh

Một ông lão chê chiếc la bàn là sai ngay trước mặt người đã làm ra bí quyết dùng nó, mà chưa biết người ấy là ai. Có cuộc đất bị cả những người trong nghề chê là lên núi xuống nước, vậy mà nhà họ Thương phát đủ tài đinh phú quý chỉ sau hai năm. Thầy chỉ cười và bảo chờ xem…


Nhập tù khi song tinh hội ở đầu hướng

Khương Diêu viết: cuộc đất đáo sơn đáo hướng mà chữ thiên bàn của hướng tinh nhập trung cung thì là tù. Còn khi song tinh hội ở đầu hướng thì lấy phi tinh hướng bàn đáo sơn làm nhập tù. Đó là lời thầy Đỗ Lăng thường nói. Bạch Hạc Minh giải thích rằng lời ấy chỉ rõ trong cách cuộc song tinh đáo hướng, lý nhập tù không lấy phi tinh thiên bàn ở đầu hướng, mà lấy phi tinh hướng bàn ở phương tọa mới là điều quan trọng.

Mười hai chữ khởi tinh đúng phép và những chữ bịa đặt

Có những la bàn ghi sẵn sao cho từng chữ, nhìn thì đầy đủ, nhưng chính chỗ ấy lại là chỗ sai.

Mỗi lần nói chuyện, thầy Đỗ Lăng thường nhắc đến những thuyết sai về cách dùng la bàn. Thầy chỉ cho Khương Diêu thấy lỗi ở tầng khởi tinh: ngoài mười hai chữ Khôn, Nhâm, Ất, Cấn, Bính, Tân, Tốn, Thìn, Hợi, Giáp, Quý, Thân ra, các chữ như Tý Lộc, Sửu Bật, Dần Phụ, Mão Lộc, Tỵ Văn, Ngọ Bật, Đinh Phụ, Mùi Lộc, Canh Phụ, Dậu Bật, Tuất Văn, Kiền Văn, thầy nói chữ nào cũng không đúng phép.

Ông lão xin ăn và chiếc la bàn của họ Tưởng

Có một lần đi theo thầy Đỗ Lăng rong ruổi, đang đói bụng thì thấy một ông lão dáng vẻ đạo mạo, bèn tới xin ăn và xin ở nhờ. Vào nhà, họ đặt la bàn lên bàn. Ông lão trông thấy, chưa kịp xưng tên họ đã cất tiếng chê chiếc la bàn sai. Ông cầm lên và nói: đây là la bàn của tiên sinh họ Tưởng, cách dùng nó chỉ mình ta biết, ngặt vì luật trời cấm nên không thể tùy tiện truyền cho người khác. Thầy cười lớn mãi không thôi. Người học trò nhỏ tuổi không nhịn được, thốt lên: Đỗ Lăng tiên sinh chính là vị này đây. Ông lão cực lực bảo đứa trẻ nói bậy. Thầy bèn chìa lá thư mời của tướng quốc Bá Hương ra rồi mới xưng tên họ. Hóa ra ông lão vốn thân tình với gia đình đã lâu, liền sai làm gà thết đãi; trong lúc trò chuyện, ông xin lỗi vì chuyện lừa đối vừa rồi, vẻ mặt thật áo não. Hôm sau ông nhờ hai thầy trò xem mộ, mới biết ông đã lầm ở chỗ tinh và quái lẫn lộn, nên sau khi táng gia đạo ngày một tiêu điều. Lúc trở về, ông lão theo đến nhà trọ, được thầy truyền bí quyết điên điên đảo.

Bạch Hạc Minh giải thích: bí quyết điên điên đảo tức là bí quyết đảo trời lộn đất. Thanh Nang Áo Ngữ viết:

Đảo đi đảo lại, hai mươi bốn sơn có châu báu; thuận nghịch mà đi, hai mươi bốn sơn có hố lửa.

Bí quyết này dùng để bày tinh bàn trạch mệnh cho cả hai trạch âm dương.

Loan Đầu là gốc, Lý Khí là ngọn, thiên tinh là ngọn của ngọn

Đồng môn của Khương Diêu là hiếu liêm Trương Trọng Thanh, hiệu Dã Khê, người Đơn Dương, được thầy truyền phép chọn nhà theo thiên tinh. Ông nói: Loan Đầu mà không đẹp, Lý Khí mà không đúng vận thì dùng thiên tinh cũng vô ích, vì Loan Đầu là gốc, Lý Khí là ngọn, còn thiên tinh là ngọn của ngọn.

Bạch Hạc Minh giải thích: Loan Đầu là sự phối hợp núi nước, quyết định sự thành tựu phú quý của con cháu nên đứng hàng thứ nhất. Lý Khí nói về thời gian, lúc nào phát phúc phát quý phải theo Lý Khí mà tính nên đứng hàng thứ hai. Thiên tinh chọn nhà là môn học chọn ngày, chỉ làm mạnh thêm cho Loan Đầu và Lý Khí nên đứng hàng thứ ba. Riêng Bạch Hạc Minh lại nghĩ nên xếp Lý Khí lên hàng đầu, vì Lý Khí quyết định lúc nào mới có vận cát, không có Lý Khí thì chẳng làm gì được; nhưng vẫn phải phối hợp với Loan Đầu thì mới không sai lầm.

Người thầy ít cười và lời dặn giữ kín thiên cơ

Thầy Đỗ Lăng ít khi nói cười. Có lần ông đến thăm Lê Châu, Lê Châu không lấy làm lạ, vì thầy ít khi đến thăm ai hai lần. Lúc thầy ở Dư Diêu, con cháu nhiều nhà mang hình đồ mộ tổ đến nhờ thầy xem. Thầy xem qua, thấy phần lớn đều không đúng thời vận. Lê Châu thấy vậy bèn nói: tiên sinh họ Tưởng giỏi Dịch nhỉ. Hôm sau ông mời thầy ở lại, tha thiết xin thầy điểm huyệt giúp, nhưng thầy nhất quyết từ chối, bảo đã đến lúc phải đi. Bạch Hạc Minh nhận xét đoạn này không có gì đặc biệt, chỉ tả tính cách cứng rắn, không thích nói cười của vị thầy.

Thầy dặn học trò: học được thuật của ta thì lúc nào cũng phải nhớ luật trời rất đáng sợ, phải hết sức kín miệng, không tiết lộ nửa lời. Đệ tử nào cuồng vọng đem thuật của ta ra khoe khoang thì người ấy ắt đã mang họa ẩn vào thân. Các ngươi chớ bắt chước, hãy nhớ lời ta.

Cuộc đất ngoài Xương An Môn

Một hôm Khương Diêu theo thầy ra ngoài Xương An Môn, thấy một nhà đang hạ táng. Các thổ công đều reo: Tưởng tiên sinh đến rồi! Chủ nhà hỏi Tưởng tiên sinh là ai, thổ công đáp: tiên sinh là bậc địa tiên. Một số địa sư đứng đó che miệng cười khẩy, nói với chủ nhà: ông ta chính là Tưởng Đại Hồng thường bảo thiên cơ không thể tiết lộ. Rồi họ quay sang nói với thầy: cuộc đất tốt thế này là chốn hưng thịnh của trời, không cần ông nhọc công tiết lộ thiên cơ. Chủ nhà cũng khoe cuộc đất của mình long huyệt núi nước đều đẹp. Thầy không nói gì.

Một người thổ công quen biết với Khương Diêu mách nhỏ: cuộc đất này là sơn Sửu hướng Mùi kiêm Cấn Khôn. Ba năm trước, Tưởng tiên sinh có điểm huyệt giúp một nhà khác, cũng dùng sơn Sửu hướng Mùi, nay nhà ấy ngày càng hưng thịnh. Ở đây có một địa sư chép lại cách điểm huyệt của Tưởng tiên sinh, muốn bắt chước chỉ dùng đơn hướng, nhưng chủ nhà và các địa sư khác đều không dám tin, mấy ông ấy cứ ùn ùn kiêm. Về nhà, Khương Diêu kể lại, thầy nói: chủ nhà ắt phải chết, phạm vào Ngũ Hoàng Lực Sĩ mà không mất người được sao? Quả nhiên táng chưa đầy năm ngày, chủ nhà bị ngã ngựa mà chết.

Tắc Tiên giải thích: vận 2, năm Kỷ Hợi, sơn Sửu hướng Mùi, ở tọa phạm Ngũ Hoàng và Lực Sĩ; lưu niên Nhị Hắc nhập trung cung, Ngũ tới Cấn, và năm Hợi, Tý, Sửu thì Lực Sĩ cũng tới Cấn. Bạch Hạc Minh bổ sung bốn điểm. Một, thượng nguyên năm Kỷ Hợi có Nhị nhập trung cung, Ngũ Hoàng bày tới phương Sửu Cấn Dần, phương tọa phạm Ngũ Hoàng. Hai, năm Kỷ Hợi Lực Sĩ ở phương Cấn. Ba, niên tinh Ngũ Hoàng bay tới phương tọa, nguyên cuộc của phương tọa vốn là Nhị Ngũ giao nhau, gặp thêm Nhị Hắc nên thành song trùng Nhị Ngũ giao nhau, là cách cuộc tổn hại chủ nhà. Bốn, niên tinh Ngũ Hoàng bay tới phương tọa, cùng với hướng tinh và thiên tinh hợp thành hung cách phản phục ngâm. Phạm cả bốn điều phong thủy ấy thì phải luận là đã hung lại thêm hung.

Người con có hiếu ở Đông Quan

Thẩm Hiếu Tử, người Đông Quan, hạ táng người thân, địa sư điểm huyệt sơn Thìn hướng Tuất kiêm Ất Tân. Thầy cùng Khương Diêu đi ngang qua, thấy Hiếu Tử ôm quan tài khóc than thật thảm thiết. Thầy quan sát, biết đó là người hiếu hạnh, bèn sửa lại, lập sơn Kiền hướng Tốn. Sau khi táng mười năm, Hiếu Tử nhờ buôn bán mà khá lên, tích lũy được hơn mười vạn, sinh nhiều con trai đều tướng mạo khôi ngô, thông minh hơn người. Lúc táng là vận 2 thượng nguyên, mùa xuân năm Giáp Ngọ.

Bạch Hạc Minh giải thích: Hiếu Tử may mắn gặp Tưởng Đại Hồng, ông lập cho sơn hướng khác là sơn Kiền hướng Tốn; xem tinh bàn là vượng sơn vượng hướng, chủ tài đinh đều vượng. Nếu lập theo sơn hướng của địa sư kia, tức sơn Thìn hướng Tuất hoặc sơn Tuất hướng Thìn, thì vận 2 là cuộc thượng sơn hạ thủy, chủ phá tài tổn đinh: long thần ở sơn xuống nước, long thần nước lên núi.

Hai nhà họ Thương và họ Vương

Mùa xuân năm Ất Dậu, vận 2, thầy điểm huyệt cho nhà họ Thương, dùng sơn Cấn hướng Khôn. Các môn sinh bàn luận thì thấy phạm thượng sơn hạ thủy, lại phạm cả phản phục ngâm. Không hiểu vì sao thầy lại dùng sơn hướng ấy, Khương Diêu hỏi thầy. Thầy mỉm cười: các con chờ xem ngày sau huyệt này ra sao. Chưa đầy hai năm, nhà họ Thương có đủ tài, đinh, phú, quý. Mùa đông năm ấy thầy lại dùng sơn hướng đó điểm huyệt cho nhà họ Vương, sau đó gia đạo họ Vương cũng ngày một hưng thịnh. Khương Diêu hỏi thầy ba lần, thầy chỉ cười không đáp, ông cũng không biết đó là phép gì.

Tắc Tiên giải thích: vận 2 sơn Cấn hướng Khôn, và sơn Khôn hướng Cấn, đều là toàn cuộc hợp thành tam ban quái nên cát. Bạch Hạc Minh nhận xét rằng người ghi chép theo thầy hơn hai mươi năm mà vẫn chưa được chân truyền nên không biết tam ban quái là gì, còn nay người đọc có thể tra ra dễ dàng nhờ tiên sinh Thẩm Trúc Nhưng. Ông chỉ ba điểm. Một, tinh bàn này phương tọa Bát gặp Nhị, phạm phản ngâm. Hai, Chấn, Ly, Kiền hợp lại thành phụ mẫu tam ban quái. Ba, tuyến vị này lấy cuộc "đảo ky long" là cách chọn tốt nhất.

Bí quyết Khôn Nhâm Ất đã bị sửa đến hơn mười kiểu

Thầy nói: bí quyết Khôn Nhâm Ất, người ta tự ý sửa đã có hơn mười loại. Thật ra bí quyết này sinh ra từ sự biến hóa số sinh thành của Hà Đồ Lạc Thư, thuật sĩ ngày nay làm sao biết được; nếu không phải bậc đại thánh, đại hiền, đại trí thì không thể biết bí quyết này. Như trong Áo Ngữ và Thiên Ngọc kinh, các bậc tiên sư đoán cát hung họa phúc như thần, nhưng sợ người đời hoành hành bá đạo nên chẳng tiết lộ; con cần biết điều ấy. Ngày nay người ta cải sửa bí quyết này càng ngày càng nhiều.

Thầy lại nói: có người còn cuồng vọng sửa mười hai chữ trong Áo Ngữ. Bí quyết thần diệu này chỉ có thể truyền riêng. Bọn họ với mỗi tọa hướng, bất luận kiêm hay không kiêm, đều lấy ái tinh làm khởi tinh mà không lấy hạ quái, đúng là bọn mù mà chẳng biết gì. Khởi từ hạ quái và khởi từ ái tinh không được lẫn lộn, đó là điều quan trọng nhất.

Bạch Hạc Minh giải thích: mười hai chữ trong Áo Ngữ là bài thơ "Khôn Nhâm Ất", tức thế quái, còn gọi là khởi tinh. Thông thường sơn hướng lấy hình đồ hạ quái để vận dụng; chỉ khi lập tuyến kiêm sang quẻ bên cạnh mới dùng hình đồ khởi tinh. Có phái phong thủy đương thời, bất kể sơn hướng kiêm bao nhiêu độ đều dùng khởi tinh; đó là sai lầm rất lớn.

Nguồn: Nguyễn Vũ Anh, Thẩm Thị Huyền Không Học – Phong Thủy Trong Bối Cảnh Kiến Trúc Hiện Đại.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Đạo Gia