Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Đạo Gia

Bài tổng quan

Dựng nhà, đặt cổng theo bát quái và phép dương trạch

Đạo Học - Đạo Gia07/10/202612 phút đọc2 lượt đọc
Dựng nhà, đặt cổng theo bát quái và phép dương trạch

Một ngôi mộ chỉ cần một khoảnh đất nhỏ, còn một ngôi nhà thì phải chứa nổi ngàn người vạn ngựa. Cũng chính ở ngôi nhà, một cái cổng đặt sai hướng, một cây cột chẵn thay vì lẻ, một dòng nước hình chữ nhân trước sân đã đủ để người xưa đoán ra cảnh góa bụa, kiện tụng hay hao tài. Họ đã nhìn vào những chi tiết ấy như thế nào...


Mộ chỉ cần nhỏ, nhà phải rộng rãi

Long mạch của dương trạch và của âm phần không khác nhau, nhưng cách chọn huyệt thì khác. Huyệt mộ có thể chọn một khoảnh đất nhỏ. Còn nhà ở thì nhất định phải chọn nơi bằng phẳng, rộng rãi, đủ chỗ cho minh đường dung nạp cả ngàn người vạn ngựa. Rồi sảnh đường, những nơi quan trọng phải dựng trước; phòng chái bên đông, học đường bên tây, thư phòng, bếp núc, sân viện, lầu đài.

Người xưa còn chia nhỏ ra ba mươi sáu dải sống nhà và định ba trăm sáu mươi vị trí đá kê chân cột. Có khi dựng nhà trên sườn núi thì phân bậc, có khi trên đất bằng thì trải rộng thành nền. Bốn dáng đất Thủy, Mộc, Kim, Hỏa dùng làm nền chân cột rất cát lợi; riêng dáng Hỏa không thật tốt, có thể dùng cho âm địa nhưng không dùng ở đất hình múi nhọn.

Cửa nước phải được thu thúc chặt chẽ nhưng không áp sát quá. Tinh thần phải dựa vào án sơn, minh đường phải rộng. Án sơn ở gần minh đường thì địa thế không bị chật hẹp. Đó là nói về cục diện dương trạch rất lớn; ngoài ra còn có những trường hợp ngoại lệ, chia thành nhiều bậc.

Trước sân: nước xối vào nhau, nước chảy ngược, nước thoát đi

Nói đến sân nhà, trước sân không được để hai dòng nước chảy xối vào nhau, nếu không gia đình lục đục bất hòa. Phải đề phòng nước tới chảy ngược, nếu không đầy tớ sẽ mưu hại chủ nhà. Cũng phải nhìn rõ nước thoát đi: nó phải chảy qua vị trí cát lợi, dương thủy không được lẫn với âm thủy.

Nước đến và nước đi đều cần những vị trí tinh tú cát lợi. Ví dụ Hợi hướng tới phương Tỵ; Tốn và Tỵ đều là vị Trường Sinh. Nước phải chảy chếch qua hướng Bính, hướng Đinh mà đi; nếu không thì phải từ bên trái chảy xuyên qua hướng Ất, rồi quành lại phương Tốn, phương Tỵ. Chảy xuyên qua Bính, Đinh mà đi cũng cát lợi, nhưng kỵ các phương Ngọ, Khôn, Thân. Dĩ nhiên có vài tinh tú cát lợi không nằm ngay ở hướng nước thoát đi.

Cách làm nhà: lầu, trung đường, giếng trời, ngói, bậc thềm

Xem nước xong mới xem phép làm nhà. Không nên dựng lầu ở đầu Long. Nếu sảnh đường quá sát minh đường thì có thể bố trí thêm chái nhà. Chỗ đầu Long, đầu Phượng cao là nơi dựng trung đường (gian giữa). Không để người ngoài nhìn trộm được vào trung đường, nếu không người nhà mắc bệnh tâm thần, khó trường thọ. Khối gỗ hình trụ áp sát đầu xà nhà cũng không tốt, chủ chết yểu, đàn bà góa sớm.

Giếng trời không được làm thành hình chữ nhất, vì chữ nhất nhiều sát khí mà ít thần khí. Ngói lợp không cao quá mười lăm tầng. Số bậc thềm phải theo số lẻ, các số chẵn không cát lợi. Nhà có chín gian, chia làm ba phần là rất tốt. Chái nhà phía trước đừng để trống, cửa sổ phải bố trí cho hợp lý. Nhà nên dùng chín cây cột, sảnh đường dùng bảy cây, cổng dùng năm cây; số lẻ đều cát lợi. Chiều cao của cột và xà cũng chọn số lẻ, không dùng số chẵn về thước tấc.

Con đường nhỏ trước cổng và những dòng nước giao kiếm

Phải quan sát kỹ con đường nhô ra trước cổng, và thế nước cũng phải xem cho hợp.

  • Nước mở ra hai bên rồi hợp lại thành chữ nhất, tượng hình chữ cá, gọi là đới kiếm thủy, chủ hung họa.
  • Nước từ hai bên chảy ra, một phần, một hợp, thành hình chữ nhân, gọi là giao kiếm thủy, cũng chủ hung họa, hao tài tốn của và chuốc họa sát thân.
  • Nhiều nhà cùng đi chung một cổng, đường nước ngang dọc hai bên chảy tới thì mọi tai họa dồn về chính giữa. Nước hai bên như vậy gọi là trừu kiếm thủy, rất hung hiểm.
  • Nước từ bên cạnh chảy qua minh đường gọi là phao thương thủy. Phía sau trung đường không được có loại nước này, nếu không gia đình bất hòa, nhân đinh hiếm hoi, tài sản bị cướp đoạt.

Đầu Thanh Long không được há miệng, nếu không hao tài tốn của lại bị chê cười, phỉ báng. Đầu Bạch Hổ tuyệt đối không được há miệng, nếu không người nhà bị thương vong, tai họa, bệnh tật liên miên.

Thứ tự dựng nhà: từ trong ra ngoài

Xây nhà xưa nay phải theo trình tự, bắt đầu từ phòng ốc, từ trong ra ngoài. Xây cổng trước thì chủ nhà gặp họa hình ngục. Trung đường không có người đáng tin thì tiền tài dễ tiêu tán, họa dễ tới. Dựng phòng hai bên mà không làm trung đường thì con cháu trong nhà tranh giành nhau, ông bà cha mẹ không ngăn nổi, anh em bất hòa, coi nhau như người lạ.

Nếu lai Long ở phía sau mà đặt cối giã gạo ở phía trước thì rất nguy hại: nhà không an, tử thần dễ ghé thăm. Lai Long ở bên phải thì cối giã gạo phải đặt bên phải; đặt bên trái thì nguy hiểm vô cùng, con thơ chết sớm, tiền tài tiêu tán. Bếp phải đặt ở bên trái, không được cùng phía với Bạch Hổ (Bạch Hổ bao giờ cũng ở bên phải). Dựng nhà theo đúng phép ấy thì con cháu mới đông đúc, tiền tài mới hưng vượng và tránh được tai họa.

Bát quái trong dựng nhà: phép âm dương đã rõ thì mới nói tới cổng

Khi đã rõ phép âm dương, phép dựng nhà càng cần thấu hiểu. Tám quái Kiền, Khảm, Cấn, Chấn, Tốn, Ly, Khôn, Đoài đều ứng với những con số, chia thành lẻ và chẵn, từng cặp đối xứng nhau. Kiền làm Kiền trạch thì dẫn đến cảnh quả phụ; Khôn làm Khôn cư thì dẫn đến cảnh độc thân. Kiền sinh ra Khảm, làm Khảm cư thì trung nam sẽ vinh hoa phú quý; Khôn sinh ra Chấn, làm Chấn trạch thì con trưởng phú quý vinh hoa.

Phép dựng nhà không ra ngoài bát quái, họa phúc cát hung không ra ngoài lục thân. Từ một suy ra ba. Sinh xuất, khắc nhập là hung; sinh nhập, khắc xuất là cát. Sinh và khắc chủ yếu bàn về phương vị, còn cát hung họa phúc thì tùy nhà ở mà đến. Nơi ở chật hẹp thì âm nhiều dương ít nên làm ít phòng; nơi ở rộng rãi thì dương thịnh âm suy nên làm nhiều phòng, tùy tình huống mà quyết định.

Cổng là nơi họa phúc vào ra

Đặt cổng, chọn hướng nước, bố trí bếp, chỗ giã gạo, nhà vệ sinh đều không thể coi thường. Cổng là nơi họa phúc đi vào hoặc đi ra, là nơi động, nơi cát hung và âm dương gặp nhau. Sự sinh khắc giữa các vị trí giống quan hệ giữa vợ với chồng.

  • Nhà Kiền mở cổng Khôn thì đàn ông hùng tráng, phụ nữ tiết liệt; phối với Ất thì người con thứ rất giàu.
  • Khảm thuần dương mà tiết lậu chân khí; vị Quý hợp với nơi ở của thiếu phụ.
  • Cổng Cấn bất lợi cho người già và trẻ mồ côi; cổng Chấn sinh phụ nữ khó lấy chồng.
  • Nhà Khôn, cổng Kiền: vợ chồng trường thọ.
  • Vị Đoài thuần âm thì không có con cháu nối dõi; vị Đinh là nơi tiết khí thì không có tiền tài.

Chấn Mộc hại Thổ, thường là đất dương. Tốn Mộc xung phạm vị Khôn, thường Âm thịnh. Nhà hướng nam, vị Ly, nhiều họa, không nên chọn. Các vị Dần, Tuất thường sinh phụ nữ cô quả, chớ dùng. Canh là âm tĩnh, Ly là dương động, khó tránh nghèo vì tiền tài tiêu tán.

  • Cổng Khôn chủ nam nữ cô quả.
  • Đoài là vị hại chồng khắc con.
  • Ất thì luôn bị lừa; Đinh cũng là vị tai ương.
  • Kiền hại trưởng nam, ứng vào sát vị; Khảm hại thứ nam.
  • Cấn Thổ sinh Kim xung phạm vị Chấn, con trưởng bị tổn hại.
  • Bính Hỏa từ vị Cấn lấn sang vị Canh, nhà sẽ nghèo khổ.
  • Vị Ly nhiều con gái mà ít tiền; vị Khảm không phải nơi của trưởng nam; vị Cấn không phải nơi ở của vợ chồng con trưởng.

Sinh nhập, khắc xuất, quỷ sát: lẽ được mất của ngũ hành

Những điều trên đều dùng ngũ hành bát quái để luận cát hung của dương trạch, và đều căn cứ vào sự được mất. Thuần âm thường dẫn đến quả phụ, thuần dương thường dẫn đến cảnh góa vợ; đã ít sinh khí, hiếm nhân đinh lại dễ có tai họa như hỏa hoạn, trộm cướp.

Nhà là bên trong, cổng là bên ngoài. Sinh xuất thì tiết lộ chân khí, hao tổn tiền tài. Khắc xuất thì tốt, chủ tiền tài dồn về. Sinh nhập cũng tốt, chủ quan lộc hanh thông. Khắc nhập là quỷ sát, chủ kiện tụng. Nếu âm dương hài hòa thì dù tướng hung cũng không hung; ngược lại âm dương trái nghịch thì dù vị trí cát lợi cũng bất lợi.

Biến hóa của ngũ hành có trước có sau, nên họa phúc đến có nhanh có chậm. Ví dụ nhà Kiền mở cổng Tốn: Tốn Mộc dương động, lâu ngày sinh Hỏa khắc Kim, trong nhà sẽ có quả phụ, nhưng họa đến chậm. Còn nhà Kiền mở cổng Ly thì Hỏa Ly không cần lâu đã biến hóa mà khắc Kiền Kim, quả phụ xuất hiện sớm.

Âm dương hài hòa cũng không thể tận thiện tận mỹ. Nhà Kiền, cổng Khôn là trời đất phối hợp, phu xướng phụ tùy, vợ chồng sống lâu dài; nhưng cổng Khôn thường là lão phụ, ít khả năng sinh đẻ, nên phải phối với Ất, Quý của vị Khôn thì chồng mới có con gái. Lại như nhà Khôn, cổng Cấn: nữ âm tĩnh, nam dương động, rất dễ sinh chuyện dâm loạn. Nói chung sự huyền diệu vô cùng, khó tả hết; cứ căn cứ vào can chi trong bát quái mà đoán, cũng đừng quá câu nệ máy móc.

Năm phép xem nhà của Hoàng Công, và bảy quẻ cát hung

Hoàng Công tổ sư dạy phép dương trạch có năm điều: một là phân phòng, hai là xem toàn quẻ, ba là bàn đường tới của Long mạch, bốn là thuật ngũ hành tương sinh tương khắc, năm là xem hào, tượng hợp thành quẻ gì. Từ hào sơ đã có thể đoán biết đầu mối: trước là nhất dương gặp âm nhị, sau là nhất âm gặp nhị biến thành dương, căn cứ hào sơn mà định.

Tây tứ trạch phối với vị phía đông thường không cát lợi; Đông tứ trạch phối với vị phía tây cũng vậy. Dương trạch tốt nhất phối với Tốn; nhà Khảm hợp nhà Ly; nhà Kiền hợp nhà Khôn; nhà Cấn hợp nhà Đoài. Kiền và Đoài hợp thành quẻ Chấn Tốn thì trưởng nam trưởng nữ trong nhà tổn hại; Chấn Tốn hợp thành quẻ Khôn Cấn thì trẻ nhỏ và bà già bệnh nằm liệt giường; Khôn Cấn hợp thành Khảm tam dương thì con thứ hai bỏ nhà ra đi. Phương vị Khôn, Cấn tổn hại trung nam; nhà Ly mà phối cung Kim thì hại tuổi thọ.

Âm dương không phải chỉ là một đoạn thuật. Dương nhiều thì hại nữ, âm nhiều thì hại nam. Âm dương hài hòa thì gia đình phú quý, khỏi cần tìm phép phối hợp khác cho rối.

  • Quẻ thứ nhất, sao Tham Lang: Thanh Long nhập trạch, điền trang hưng vượng, nhân đinh đông đúc, gia tài vạn quan, quanh năm an khang.
  • Quẻ thứ hai, Thiên Y: Hoàng Long nhập trạch, nhiều điều tốt, con cháu thăng quan tăng lộc, có người thành bậc thánh hiền.
  • Quẻ thứ ba, Diên Niên: Thích Vị nhập trạch, chỉ sau vài năm gia đình phát tài phát phúc, gia súc đông thành bầy.
  • Quẻ thứ tư, Ngũ Quỷ: đầy hung họa, gia súc chết cả đàn, trộm cướp, hỏa hoạn, kiện tụng, thị phi liên miên.
  • Quẻ thứ năm, Lục Sát: nữ nhân trong nhà chết trước, nam nhân mắc tội, gia sản tiêu tán, tù tội.
  • Quẻ thứ sáu, Họa Hại: trong nửa năm phụ nữ chết, rồi bệnh tật triền miên thành ác tật ở chân.
  • Quẻ thứ bảy, Tuyệt Mệnh: gia đình tuyệt tự, nhiều bệnh tật, gia sản tiêu tan.

Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ không rời quy luật sinh khắc. Đó là khẩu quyết chân lý của Hoàng Công tổ sư.

Cổng cao hơn phòng thì hại ai

Nhà còn có chuyện cửa và phòng phạm nhau, tức cổng không nên cao hơn phòng của cung khắc nó.

  • Cổng Kiền không nên cao hơn phòng Chấn, Tốn, nếu không hại trưởng nam, trưởng nữ.
  • Cổng Đoài cao hơn phòng Ly thì hại người già và trẻ nhỏ.
  • Cổng Khảm không nên cao hơn phòng Cấn, nếu không hại mẹ già, con nhỏ. Phòng Kiền, Đoài cao cũng hại người già, trẻ nhỏ. Cổng Ly cao thì khác.
  • Cổng Cấn không nên cao hơn phòng Chấn, Tốn, nếu không hại mẹ già, con nhỏ. Cổng Khôn cao hơn phòng Ly, Khảm thì hại trung nam, trung nữ.
  • Cổng Chấn cao hơn phòng Kiền, Đoài thì hại trưởng nam, trưởng nữ. Cổng Tốn suy ra cũng vậy: cao hơn phòng Khôn, Cấn thì hại mẹ già, con nhỏ.
  • Cổng Ly cao hơn phòng Kiền, Đoài thì hại cha già, con gái út. Phòng Khôn, Khảm quá cao thì hại mẹ già, trung nam, trung nữ.

Nguồn: Lưu Bá Ôn, Địa Lý Toàn Thư, tập 2.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Đạo Gia