Bài tổng quan
Bếp, vệ sinh, hướng nhà và chuyện nhà hợp mệnh
Bếp là lửa, nhà vệ sinh là nước, và theo một câu tục ngữ cũ thì cả hai đều không được nằm ở giữa nhà. Còn ngôi nhà ngồi về hướng nào thì mỗi phái tính một cách. Nhưng có một phái tin rằng chuyện hơn thua nằm ở chỗ nhà có hợp với người ở hay không…
Nhà bếp và phòng vệ sinh theo Bát Trạch
Nhiều người hỏi phương vị nhà bếp và nhà vệ sinh có liên quan cát hung không. Theo Bát Trạch, nhà bếp là một trong ba điều quan trọng của dương trạch: cửa, phòng, bếp; ba nơi này đặt ở phương cát thì tốt. Bếp là nơi nấu ăn, thuộc hỏa, nên vị trí lý tưởng nhất là hướng đông hoặc đông nam của nhà, gọi là mộc hỏa tương sinh. Về nhà vệ sinh, Bát Trạch Minh Kính viết đại ý: nơi phóng uế phải dùng để trấn giữ hung thần, áp chế phương hung đối với bản mệnh, nếu không sẽ phát đại họa, điều này rất ứng nghiệm.
Có điều kiến trúc hiện đại khiến bếp và nhà vệ sinh phải giữ khoảng cách khá xa, khó sửa nên thường không ở vị trí thích đáng. Thật ra cũng không khó lắm, tục có câu “Thủy hỏa bất lưu thập tự tuyến”: thủy là nhà vệ sinh, hỏa là nhà bếp, ý nói bếp và vệ sinh đều không nên ở khu giữa nhà, nơi hai đường giao nhau thành chữ thập. Phạm thì chủ bệnh tật, trạch vận đảo ngược. Vì vậy chỉ cần không phạm cấm kỵ này là được, không cần lo ngại thêm. Nếu lỡ phạm, thầy Bát Trạch cho rằng có thể hóa giải bằng cách đặt chậu kiểng nhỏ (bonsai) trong bếp hoặc phòng vệ sinh.
Bếp được xếp vào ba yếu của dương trạch vì thức ăn vào miệng ảnh hưởng trực tiếp sức khỏe cả nhà, nên việc bày bếp thường áp dụng phép tiểu Loan Đầu. Ngoài các điều kiêng kỵ thông thường, vị trí bếp lò cần phối với phương cát của nhà bếp. Phương cát của nhà bếp là vị trí tụ khí, tìm đơn giản: là chỗ chéo góc với cửa nhà bếp. Xét về vật lý, vị trí tụ khí là nơi dòng khí tập trung nhiều, tránh được sự xung động của luồng khí, giảm nguy hiểm cho bếp lò khi bị gió thổi. Nghiên cứu sâu hơn thì thấy vị trí tụ khí ở các cung vị khác nhau có mức tốt xấu khác nhau; nếu bếp lò ở vị trí tụ khí mà vị trí ấy phối hợp thích đáng với phương vị thì hiệu quả tốt nhất.
- Tụ khí ở đông hoặc đông nam của nhà bếp: đại cát, vì bếp thuộc hỏa, đông và đông nam thuộc mộc, mộc sinh hỏa, là cách cuộc lý tưởng nhất.
- Tụ khí ở đông bắc: trung cát, vì đông bắc thuộc thổ, hỏa sinh thổ, cũng là lựa chọn hay.
- Tụ khí ở nam: chỉ tiểu cát, vì nam thuộc hỏa gặp hỏa nên hỏa khí quá vượng, ngược lại không tốt.
- Tụ khí ở tây, tây bắc: trung bình, vì hai hướng này thuộc kim bị hỏa khắc, vận khí người nhà khó tránh lao đao.
- Tụ khí ở tây nam: hơi kém, vì tây nam thuộc thổ, sao chủ là Nhị Hắc bệnh phù; sao bệnh phù được hỏa sinh vượng nên ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe người nhà.
Về phòng vệ sinh, vì thuộc nơi “cô âm” nên vị trí đặt bồn cầu và bồn rửa tay không thể ở vị trí cát.
Tọa hướng của dương trạch: hướng nhà và hướng cửa
Lập cực định hướng là vấn đề quan trọng của dương trạch. Trước hết cần phân biệt hướng nhà và hướng cửa: một dương trạch chỉ có một hướng nhà, nhưng hướng cửa có thể ở bất cứ phương vị nào. Chẳng hạn hướng nhà là tọa tây hướng đông, hướng cửa là tọa nam hướng bắc. Nếu cửa lớn mở ở phương tây thì hướng cửa thành hướng tây, nhưng hướng nhà vẫn là tọa tây hướng đông.
Về điểm này, các danh gia mỗi phái có cách tính riêng. Đa số thầy phái Bát Trạch lấy cửa lớn làm hướng nhà, tuyến vị đối diện làm tọa. Nhà có cửa hướng Ly thì gọi Khảm trạch (nhà tọa ở phương Khảm); nhà có cửa hướng Khôn thì gọi Cấn trạch. Nhưng theo Bát Trạch Minh Kính, dương trạch phải lấy long cục để định tọa hướng, tức lấy hướng nhà làm chuẩn. Làm sao định hướng? Cách được coi là chính thống nhất là “lấy dương làm hướng”: trong “Hư thực động tĩnh bài long pháp”, minh đường thuộc hư, hư là rộng trống nên thuộc dương, còn thực thuộc âm. Do vậy phải lấy minh đường, tức sân trống phía trước, làm hướng.
Nhà thời xưa phần lớn sau cửa lớn có một sân rộng gọi “thiên tỉnh” (giếng trời), qua sân mới đến đại sảnh, hai bên là các phòng. Nên dương trạch thời cổ lấy minh đường làm hướng nhà, còn cửa lớn nằm ngay trước minh đường nên hướng nhà và hướng cửa không xung đột. Kiến trúc thành thị hiện nay khác hẳn: đường sá chằng chịt, nhà mọc như rừng, đất ít người đông nên chung cư cao tầng phát triển. Trong một chung cư mỗi tầng có nhiều căn phân bố đủ hướng, định hướng cho từng căn là cả một vấn đề. Làm sao lấy minh đường làm hướng?
Trước hết cần hiểu nghĩa rộng của “minh đường”: khoảng đất trống phía trước nhà. Nhà xưa lấy sân thiên tỉnh làm minh đường. Hiện nay, minh đường của một tòa nhà lớn là vùng trống trải quanh đó như biển, sông, hoa viên, công viên, ao hồ, bể nước, sân vận động, tổng trạm xe công cộng… so với đơn vị nhà ở nhỏ của một tòa cao ốc. Nếu cửa sổ nhà nhìn ra những nơi ấy thì lấy hướng đó làm hướng nhà. Thí dụ: nhà có công viên làm minh đường thì nhà tọa Chấn hướng Đoài; phía trước có vườn hoa làm minh đường thì nhà tọa Cấn hướng Khôn; phía trước có bãi đỗ xe làm minh đường thì nhà tọa Khảm hướng Ly; có ao hồ làm minh đường thì nhà tọa Tốn hướng Kiền.
Sau khi định hướng nhà, trước hết bài bố tinh bàn theo hướng nhà để luận xem căn nhà phát sinh việc gì; nếu thấy không chuẩn thì lấy hướng cửa lập tinh bàn mà đoán. Nếu tinh bàn theo hướng nhà ứng nghiệm chuẩn thì không cần lập theo hướng cửa; ngược lại cũng vậy.
Với nhà cửa thành phố hiện nay, việc lập cực định hướng khá nhiều khó khăn. Các thầy phải dựa vào núi đồi, vật cao lớn (như tòa cao ốc), đường sá, sông nước, biển, cửa sổ, cửa lớn, minh đường để phối hợp, tục gọi “Dương trạch lập cực ngũ quyết”: “thừa”, “chỉ”, “tiệt”, “hư”, “khí”. “Thừa” (dựa vào) là lấy núi đồi hay vật cao lớn như cao ốc để định tọa vị; “chỉ” và “tiệt” (dừng lại, ngăn chặn) là lấy sông nước hay đường sá để định hướng; “hư” là lấy minh đường (sân bãi) để định hướng; “khí” là lấy cửa lớn để định hướng. Tuy nói năm bí quyết, thật ra phải vận dụng linh hoạt, biến hóa vô cùng. Vì vậy thầy Bát Trạch thường bài bố cả hai tinh bàn để kiểm chứng rồi mới kết luận tọa hướng nào là đúng.
Bát Trạch: gắn ngôi nhà với mệnh của người ở
Có một phái xem nhà không bằng núi sông mà bằng một câu hỏi đơn giản: nhà này có hợp với người ở không.
Phái Bát Trạch còn được gọi là phái Dịch Quái Phong Thủy. Nhiều người cho rằng lý luận của phái này quá đơn giản, vì nó dựa trên việc chia nhà ở và mệnh tướng con người ra làm hai: nhà tương phối được với mệnh tướng của người ở thì cát lợi; không tương phối được thì hung. Dù nhận xét thế nào, đúng là phái này rất chú trọng việc tương phối giữa nhà và mệnh, và đó là lý luận cơ bản nhất của họ.
Bát Trạch phối bát quái với hai mươi bốn sơn, và gọi là “Bát Trạch” vì lấy tám quẻ Dịch chia nhà thành tám loại. Nguyên lý: lấy phương tọa của nhà phối với phương vị bát quái để định ra “trạch quái”, tức xác định tọa hướng cho dương trạch. Chẳng hạn một căn nhà tọa Tý hướng Ngọ gọi là Khảm trạch; tọa Mão hướng Dậu gọi là Chấn trạch. Tám dương trạch phối với hai mươi bốn sơn như sau:
- Chấn trạch: tọa Giáp, Mão, Ất (đông), hướng Canh, Dậu, Tân (tây).
- Tốn trạch: tọa Thìn, Tốn, Tỵ (đông nam), hướng Tuất, Kiền, Hợi (tây bắc).
- Ly trạch: tọa Bính, Ngọ, Đinh (nam), hướng Nhâm, Tý, Quý (bắc).
- Khôn trạch: tọa Mùi, Khôn, Thân (tây nam), hướng Sửu, Cấn, Dần (đông bắc).
- Đoài trạch: tọa Canh, Dậu, Tân (tây), hướng Giáp, Mão, Ất (đông).
- Kiền trạch: tọa Tuất, Kiền, Hợi (tây bắc), hướng Thìn, Tốn, Tỵ (đông nam).
- Khảm trạch: tọa Nhâm, Tý, Quý (bắc), hướng Bính, Ngọ, Đinh (nam).
- Cấn trạch: tọa Sửu, Cấn, Dần (đông bắc), hướng Mùi, Khôn, Thân (tây nam).
Bốn quẻ đông, bốn quẻ tây
Mỗi quẻ có ngũ hành riêng: Chấn, Tốn thuộc mộc; Ly thuộc hỏa; Khôn, Cấn thuộc thổ; Đoài, Kiền thuộc kim; Khảm thuộc thủy. Dựa vào quan hệ sinh khắc, phái Bát Trạch chia tám nhà làm hai nhóm.
- Nhóm Kiền, Đoài, Cấn, Khôn: Kiền và Đoài đều thuộc kim, tỷ hòa; Cấn và Khôn đều thuộc thổ, tỷ hòa; thổ lại sinh kim giữa các cặp Kiền – Cấn, Đoài – Khôn, Kiền – Khôn, Đoài – Cấn. Tổ hợp này gọi là bốn quẻ tây.
- Nhóm Khảm, Ly, Chấn, Tốn: cũng tương hỗ sinh trợ: Khảm thủy sinh Tốn mộc; Chấn, Tốn mộc sinh Ly hỏa. Tổ hợp này gọi là bốn quẻ đông.
Giữa hai tổ hợp ấy có quan hệ khắc chế nhau, nên tám quẻ tự nhiên thành hai hệ thống, và tám trạch quái cũng chia thành bốn trạch đông và bốn trạch tây. Về phương vị: Khôn thổ ở tây nam, Cấn thổ ở đông bắc, Đoài kim ở tây, Kiền kim ở tây bắc, đều thuộc quẻ tây; Ly hỏa ở nam, Khảm thủy ở bắc, Tốn mộc ở đông nam, Chấn mộc ở đông, đều thuộc quẻ đông.
Mệnh quái: từ năm sinh ra một quẻ
Với con người, phái Bát Trạch cũng chia thành tám loại “mệnh quái” (phái Huyền Không còn chia thành sáu mươi bốn mệnh quái). Căn cứ năm sinh, mỗi người rơi vào một quẻ trong tám quẻ, nên mệnh người cũng chia tám tổ, mỗi tổ lấy một quẻ làm đại biểu. Giống như trạch quái, mệnh quái chia thành hai nhóm lớn: bốn mệnh đông và bốn mệnh tây. Lưu ý: cách tính mệnh quái của nam và nữ khác nhau, và người ta tra theo bảng sáu mươi hoa giáp.
Nhà hợp mệnh hay không hợp mệnh
Căn nhà có thể chọn, còn mệnh của người ở thì không đổi được, nên mọi sự tính toán đều xoay quanh người ở.
Trạch quái và mệnh quái tương phối là lý luận cơ bản nhất của Bát Trạch. Người thuộc bốn mệnh đông ở tổ hợp bốn trạch đông, hoặc người thuộc bốn mệnh tây ở bốn trạch tây, là tương phối; tương hợp thì gia vận hưng vượng, nhân khẩu bình an. Ngược lại, người mệnh đông mà ở nhà tây, hoặc người mệnh tây mà ở nhà đông, là không tương phối, luận hung. Theo phái này, con người có thể chọn nhà vừa ý nhưng mệnh quái thì cố định, không đổi được, nên chỉ nên chọn nhà hợp với mệnh quái. Lý luận Bát Trạch lấy mệnh quái của chủ gia đình (người trụ cột có nguồn thu nhập chính) làm chuẩn.
Khi mệnh quái và trạch quái không hợp nhau, các thầy dùng cách chọn hướng cửa chính theo quẻ hợp với mệnh quái để hóa giải. Người mệnh thuộc bốn quẻ đông ở nhà thuộc bốn quẻ tây thì nên chọn hướng cửa chính ở phương Chấn, Tốn, Ly hoặc Khảm. Người mệnh thuộc bốn quẻ tây ở nhà thuộc bốn quẻ đông thì nên chọn hướng cửa ở phương Đoài, Kiền, Khôn hoặc Cấn. Bát Trạch Minh Kính nói: ba điều quan trọng của dương trạch là cửa, nhà, bếp. Cửa là khí khẩu của dương trạch, nếu mở cửa chính ở phương cát của mệnh người ở thì khí lành được hút vào nhà, tự nhiên có ảnh hưởng tốt đến người trong nhà.
Ngày nay việc chọn hướng nhà cho hợp mệnh rất khó, và phần lớn cũng không sửa được hướng cửa chính. Vì thế Bát Trạch đưa ra một cách hóa giải khác: chọn phòng ở thuộc nhóm tương phối với mệnh quái; cửa phòng thuộc nhóm nào thì đầu giường cũng nên cùng nhóm hướng, được vậy càng hay. Tóm lại: mệnh quái cần hợp với trạch quái; nếu không được thì dùng hướng cửa chính phối với mệnh quái; nếu vẫn không được thì dùng hướng phòng, hướng cửa phòng, hướng đầu giường để phối với mệnh quái. Đây là cách tìm cái tốt trong cái xấu.
Một ngôi nhà Đoài trạch và chủ nhà mệnh Tốn
Hãy hình dung một ngôi nhà tọa Đoài hướng Chấn, là Đoài trạch, thuộc bốn trạch tây. Chủ nhà mệnh Tốn thuộc bốn quẻ đông nên không hợp trạch quái. Xét hướng cửa thì cửa ở phương Kiền, nhóm bốn quẻ tây, cũng không hợp mệnh. Phòng ngủ ở hai phương Khôn và Đoài, cùng nhóm tây, lại không hợp. Trong phòng, đầu giường và hướng cửa phòng cũng thuộc nhóm tây. Theo lý luận Bát Trạch, căn nhà và cách bố trí nội thất ấy ảnh hưởng rất xấu đến chủ nhân.
Vì tọa hướng nhà và hướng cửa chính không đổi được, muốn cải thiện chỉ có thể đổi cách cuộc bên trong: dời phòng ngủ sang hai phương Tốn và Ly, đặt đầu giường ở phương Tốn, mở cửa phòng ở phương Khảm hoặc Chấn. Nhưng vì trạch quái và hướng cửa chính vẫn không hợp mệnh, các thầy cho rằng sự cải sửa này chỉ đem lại bình an cho chủ nhà; muốn nhân khẩu, tài lộc đều vượng thì phải chọn căn nhà khác.
Đó mới là nguyên tắc tương phối cơ bản. Bát Trạch còn đi sâu hơn bằng cách xét trình độ cát hung của từng vị trí quẻ. Có trường hợp mệnh quái hợp trạch quái mà phát tài lớn, có trường hợp phát nhỏ; mệnh quái không hợp trạch quái cũng có họa lớn, họa nhỏ; thậm chí hợp mà vẫn có đại họa hay tiểu họa. Tất cả do mức cát hung của từng quẻ khác nhau, và người ta tra xét điều này bằng du tinh bàn.
Nguồn: Nguyễn Vũ Anh, Thẩm Thị Huyền Không Học – Phong Thủy Trong Bối Cảnh Kiến Trúc Hiện Đại.
