Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Đạo Gia

Bài tổng quan

Thiên quái, địa quái và đường quay về bản quái của nước

Đạo Học - Đạo Gia06/10/202612 phút đọc2 lượt đọc
Thiên quái, địa quái và đường quay về bản quái của nước

Người xưa chia hai mươi bốn ngọn núi thành ba bộ quái, như một gia đình có cha mẹ và con cháu. Nước đi ra khỏi nhà mà biết quay đầu về đúng bản quái thì danh vang thiên hạ, bỏ đi mà không ngoái lại thì cả đời nghèo hèn. Vậy thế nào mới là một dòng nước biết quay về?


Hai bờ sông và bộ tám thần của dương long, âm long

Một quái ở Giang Đông đến thì cát, là tám thần, bốn thứ hợp làm một.

Giang Đông là hướng xoay sang trái. Long dương chuyển mình từ đông sang tây, thuộc dương, nên gọi là một quái. Tám thần là tám vị Ất, Bính, Tân, Nhâm, Đinh, Canh, Quý, Giáp, và hai mươi bốn vị trí của tam hợp ngũ hành, cứ cách tám vị thì sinh nhau. Bốn thứ là thủy, hỏa, kim, mộc, cộng với bốn nơi Thìn, Tuất, Sửu, Mùi. Đây là long xoay trái thuộc dương, sinh, vượng, mộ của dương chuyên đi theo chiều thuận, nên gọi là tám thần bốn thứ một; chữ một chỉ dương.

Hai quái ở Giang Tây sắp thành phương vị của long, là tám thần bốn thứ hai.

Giang Tây là chỉ long âm xoay sang phải, từ tây đi sang đông, ngược lại với vị trí của long. Các vị Ất, Bính, Tân, Nhâm, Quý, Canh, Giáp thuộc âm nên gọi là hai quái; long xoay sang phải thì thuộc âm, sinh, vượng, mộ biến chuyển theo âm. Chữ hai chỉ âm.

Tám thần Nam Bắc cũng cùng một quái, không khác gì Đông Tây.

Người xưa sợ đời sau câu nệ vào đông tây mà không biết rằng tám thần nam bắc cũng xoay lẫn như thế; hướng nam bắc với đông tây có thể coi là một. Nói cùng một quái là nói chung sự tương đồng, và không sai khác là nói quái bao trùm cả núi, hướng và nước.

Hai mươi bốn long nắm giữ ba bộ quái

Hai mươi bốn long nắm giữ ba quái.

Hai mươi bốn long không lộ đầu lộ mặt, nên mới nói là ba quái. Bốn vị sinh vượng là Khảm, Ly, Chấn, Đoài; bốn vị sinh mộ là Càn, Khôn, Cấn, Tốn. Âm dương, nam bắc, đông tây đều hội hợp ở đây.

Phải tìm thiên quái Giang Đông ngay trên lòng bàn tay.

Thiên quái là địa chi đi theo thiên can, cũng tức là an ngũ hành chín sao trước. Từ ngay trên lòng bàn tay mà chia âm dương, thuận nghịch, khởi sinh khởi tử, sắp vượng và mộ, rồi bày chín sao ra để định cát hung của thủy thần. Cách dùng nước ở Giang Đông gọi là dương, còn âm cũng có thể lấy đó mà đối chiếu.

Địa quái thì ai hiểu hết được điều huyền diệu: nước và núi đối nhau.

Địa quái là thiên can phối với địa chi, cũng là mặt trước và mặt sau của tam hợp ngũ hành. Nó là tổ tiên của song sơn tam hợp ngũ hành, là yếu quyết của sinh tử âm dương, là cách dùng núi và nước đối nhau. Vì vậy mới nói: thiên quái dùng để chỉ vượng và mộ của thủy thần, còn địa quái dựa vào long để bàn sinh tử của núi nước. Thể và dụng của hai quái nương vào nhau, nên gọi là đối. Phàm là nước ắt từ trời đổ xuống nên gọi là thiên quái; phàm là long ắt yên nghỉ dưới đất nên gọi là địa quái.

Phải phân biệt kỹ âm dương của cha mẹ, trước sau tương hỗ, rồi mới có thể an táng hài cốt.

Câu ấy nói đến cội nguồn của trời đất: cha mẹ khác nhau thì mới có sai khác âm dương, sau đó nương nhau mới chia ra trái phải.

Long và nước không rời bản quái thì phú quý đời đời

Long đi theo bát quái mà không rời vị trí thì gia thế đời đời phú quý; nước chảy luôn về bản quái thì danh vang thiên hạ. Long rời bát quái thì bần tiện. Sắp đặt thiên y, phúc đức cho tốt thì có thể thấy vinh hiển.

Không rời vị trí nghĩa là long và nước cùng quy về một đường, trái phải thuận nghịch của hai mươi bốn vị đều do đó mà chủ. Nếu ngũ hành không rời bát quái thì long và hướng hợp trên một đường, đó là toàn cục, trong nhà đời đời có người làm quan. Nếu nước đến theo hướng quan vượng, dòng chảy trở về bản quái của cha mẹ thì danh tiếng vang khắp thiên hạ. Còn nếu không có cực thế quan vượng mà lại gặp sa nước thì cả đời nghèo hèn. Kim, mộc, thủy, hỏa, âm, dương, trái, phải luôn ở trong tám thần; như thế hướng nước luôn quay về bản quái.

Đảo lật cha mẹ để hộ tống vị của long; hướng núi cùng dòng chảy của nước đồng nhau, âm dương hợp trên một đường, đến từ trong quái.

Nước chảy trở về vị của long gọi là đảo lộn cha mẹ. Trong hai mươi bốn vị, âm và dương mỗi bên chiếm một nửa. Thiên quái chuyển từ dương, địa quái chuyển theo âm. Thiên quái theo dương là chia ra mười hai vị dương, đi theo chiều thuận của ngũ hành; địa quái theo âm là chia ra mười hai vị âm, đi theo chiều nghịch của chín sao. Cát hung của chúng đều nằm trong hai quái thiên và địa.

Phiên thiên đảo địa, tam dương và lục tú

Xem thiên xem địa để định thư hùng, có thể thấy phú quý trong đó; lật trời đảo đất, đối nhau mà không đồng, điều huyền diệu nằm ở huyền không.

Câu ấy nói về hai thế cục âm dương và trái phải. Dương xoay sang trái, đi thuận, thành hùng; âm xoay sang phải, đi nghịch, thành thư. Dựa vào âm dương thuận nghịch của thủy thần mà khởi sinh vượng, đó gọi là lật trời đảo đất. Trong huyền có huyền, trong không có không, nên còn gọi là huyền không thiên quái.

Dư Giới Thạch có nói: người đời chỉ thích dùng tiểu huyền không ngũ hành để nói chuyện sinh tử của thủy thần, mà trên la kinh hai mươi bốn chữ, thủy và thổ đã chiếm một nửa. Phàm phép nước nên lấy song sơn liên tiếp làm mục đích, như vậy viên thần sẽ không cản trở vị; trên vị có núi tràng sinh, trên núi có huyền khiếu, hai bên đều hữu dụng. Xem thiên xem địa tức là Thìn, Tuất, Sửu, Mùi; lật trời đảo đất là sinh tử của âm dương.

Thủy khẩu của tam dương đều là ngọn nguồn thì phú quý đời đời. Tam dương, lục tú, nhị thần hợp với thế thì nên tiến vào đường.

Tam dương là Tham Lang, Cự Môn, Vũ Khúc. Lục tú là Cấn, Bính, Tốn, Tân, Đoài, Đinh. Nhị thần là hai quái. Nước của tam dương chảy về đất mộ, thu hết nước đầu nguồn thì phú quý đời đời. Nếu nước của tam dương hợp với phương vị của lục tú, vào cục mà không rời bản quái của nhị thần, thì có thể thấy ngay chúng được đặt trong đền miếu.

Ngọc nhai, hồng bái và sáu thứ kiến

Nước đến ngọc nhai, quan quan thì sẽ xuất thần đồng, trạng nguyên; như ấn đóng ở thủy khẩu, ngọc nhai đến gần đỉnh đoài thì được thăng quan tiến chức.

Càn, Khôn, Cấn, Tốn có lúc được gọi là ngọc nhai hoặc ngự nhai. Vế đầu nói nước ngọc nhai đến chào đón theo hướng quan vượng thì sinh thần đồng và trạng nguyên. Vế sau nói ngự nhai để nước đi theo phương vị của bốn mộ Thìn, Tuất, Sửu, Mùi thì được thăng quan tiến chức.

Cổ giác đi thuận theo dòng nước, như thế thì hồng bái tươi đẹp, biểu tượng của phú quý sẽ xuất hiện.

Cổ giác là vị trí phía trước một cung của tràng sinh trong ngũ hành; sau đó hai cung là hồng bái. Có nước chào đón núi sa, nếu đẹp thì phú quý.

Bên trên phải chiếu theo tam tài và sáu thứ kiến để sắp đặt ổn thỏa âm dương; bên dưới cần theo phương hướng của ngọc liên và hãn môn, long đi tới còn phải quay đầu.

Tam tài là tam dương, tức Tham Lang, Cự Môn, Vũ Khúc. Sáu thứ kiến là thiên, địa, nhân, tài, quỷ, lộc. Ngọc liên là ngũ hành đi ngược với vị suy: vị suy của mộc gồm Quý, Cấn, Ất; của hỏa gồm Ất, Tốn, Đinh; của kim gồm Đinh, Khôn, Tân; của thủy gồm Tân, Càn, Quý. Nước hãn môn nên chọn phương hướng của chỗ suy, cho nên mới nói bên dưới chiếu theo đó mà đi.

Tí, Dần, Thìn, Càn, Bính, Ất còn gọi là sáu thứ kiến: Tí là hãn môn, Dần là kỳ cổ, Thìn là hoa biểu, Càn là ấn thụ, Bính là ngọc nhai, Ất là ngọc liên. Cần chú ý lục tú không phải là lục kiến. Long đi phải quay đầu lại, nghĩa là nước rời khỏi quái thì phải quay về bản quái của cha mẹ mới tốt.

Ngô công nói: trong ngũ hành, tràng sinh là thiên kiến, tức khí âm dương hóa dục. Mộc dục và quan là địa kiến, tức khí âm dương thoát vỏ. Đế vượng là tài kiến, tức khí âm dương cực thịnh. Tử, mộ, tuyệt là quỷ kiến, tức khí âm dương ngưng kết. Thai, dưỡng là lộc kiến, tức khí âm dương nằm yên chờ nảy. Cho nên không nên để thiên kiến, nhân kiến, lộc kiến rời đi, mà phải đón dòng nước; tài kiến và quỷ kiến thì vào mộ, quấn quanh bản quái của cha mẹ, như thế mới hợp với toàn cách.

Sáu thứ kiến tự phân rõ gọi là sáu long, danh vang thiên triều. Chính sơn chính thủy ở trên chi mạch của dòng nước thì đàn bà trong nhà cô đơn, trẻ nhỏ chết non, người nhà chịu hình luật.

Câu ấy bàn về việc sắp long trên nước: theo thiên kiến, nhân kiến đến đón nước chảy, tài kiến và quỷ kiến vào mộ thì đời sau có người nổi tiếng. Nếu chính thần của long làm chính diện trên chi mạch, lại hướng theo chính thần của nước thì đời sau ắt gặp họa.

Cha mẹ, chính thần, linh thần: vợ chồng cùng đi một đường

Nếu hướng trở về núi, đó là hướng trở về cha mẹ của dòng nước; nếu nước cùng đi chung với núi cha mẹ thì đời sau có người làm quan lớn.

Ý của câu này là hướng của dòng nước phải trở về bản quái ở vị của long. Chẳng hạn long Hợi dương làm Giáp, hướng Mão đi về Đinh, Mùi hợp với mộ khố, đó là nước quay về. Nếu long Hợi âm, nước Cấn, Tốn, Bính đến hợp với cục nước âm đi vào Tuất, Càn, trở lại mộ khố, bao quanh cha mẹ của bản quái thì chính là cùng đi với núi cha mẹ; ắt xuất hiện tam công, phúc cát kéo dài.

Cùng đường với nhị thần là vợ chồng; phân rõ đường của chân thần, đã định âm dương thì đó chính là long cương.

Câu ấy dùng tam hợp địa quái để bàn về song sơn. Trong tam hợp ngũ hành, lấy chi mạch làm dương, làm chồng; lấy can mạch làm âm, làm vợ. Can và chi mạch cùng đi chính là vợ chồng cùng đi. Ngô công nói: song sơn lấy can mạch theo chi mạch, phân ra ngũ hành, tức là âm theo dương, vợ theo chồng. Nghĩa là lấy chính thần làm chủ: Dần, Ngọ, Tuất là thần hỏa dương, Cấn, Bính, Tân là thần hỏa âm; Thân, Tí, Thìn là thần thủy dương, Khôn, Nhâm, Ất là thần thủy âm; Hợi, Mão, Mùi là thần mộc dương, Càn, Giáp, Đinh là thần mộc âm; Tị, Dậu, Sửu là thần kim dương, Tốn, Canh, Quý là thần kim âm.

Cần quan sát linh và chính của âm dương, nên biết hướng của chúng có chính xác không. Gặp chính thần chính vị thì phải cho nước tiến vào linh đường; linh đường có chính hướng thì tốt. Chọn núi đến ở trên đầu nước, xếp vị long cho ổn thỏa thì mới tốt.

Câu ấy dùng song sơn tam hợp để luận mười hai chi âm dương. Khi lập hướng cần biết rõ điều này. Thần chi không thể làm hướng chính thì phải cho nước tiến vào thần can; thần can có thể làm hướng chính thì cũng cần nhận rõ long đến thuộc ngũ hành nào nhập thủ, để mà tiêu nạp. Ngô công nói: chu tước khởi nguồn từ sinh khí, nước quay ngược thì chưa cực thịnh, hướng về nơi đại vượng, tưới nhuần chỗ suy, tiến về hưu tù; đó cũng là cách xếp vị long trên nước.

Chính thần đi xa trăm bước mới bắt đầu thành long mạch, nước ngắn thì gặp họa; linh thần thì bất kể dài ngắn, cát hung dùng ngũ hành để bàn.

Câu ấy nói về chính thần chạy theo nước hợp với quan vượng: nguồn và dòng rất lớn, xa thì chủ đại quý. Nếu hiện ra ở đồng ruộng hay khe rạch thì phải cách một trăm bước mới cát, ngắn hơn thì hung. Linh thần chạy nước thì không nhất thiết phải bao bọc nguồn và dòng xa gần, chỉ cần dùng ngũ hành sinh, vượng, hưu, mộ mà luận cát hung. Nếu nó là nước gấp khúc chảy ra từ chính thần thì ắt gặp họa. Cần chú ý: chính thần lên núi, linh thần xuống nước, long thần trên núi không xuống nước, long thần đáy nước không lên núi. Nói về núi thì là: chính thần chạy theo nước thì cát, ra ngoài trăm bước mới thành long.

Nguồn: Lưu Bá Ôn, Địa Lý Toàn Thư, tập 2.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Đạo Gia