Bài tổng quan
Tượng số Hán, đồ thư Tống làm bát quái sống lại
Một vầng trăng khuyết dần theo từng đêm, và có người nghĩ ra cách đặt tám quẻ lên từng pha trăng ấy. Rồi một đạo sĩ ngồi trên núi vẽ ra mấy bức đồ, và các thầy đời sau tranh nhau chép lại...
Thời Hán, mùa vàng của tượng số dịch học
Theo tác giả, thời Hán là thời kỳ quan trọng của dịch học và cũng là thời tượng số dịch học phát triển mạnh nhất. Khi ấy tượng số dịch học rất được coi trọng, thậm chí được xếp vào hàng dịch học chính thức. Những người tiêu biểu của giới tượng số là Mạnh Hỷ, Tiêu Diên Thọ và Kinh Phòng. Ý nghĩa lịch sử của tượng số dịch Hán được tác giả trình bày qua một số điểm.
Mở rộng mạnh lĩnh vực tượng số dịch học
Thành tựu của tượng số thời Hán là làm phong phú nội dung của tượng số dịch học. Thuyết quái khí của Mạnh Hỷ kết hợp bát quái và sáu mươi bốn quẻ với khí tiết, từ đó sinh ra thuyết bốn quẻ chính, thuyết sáu mươi quẻ ứng với bảy mươi hai hậu và nổi tiếng nhất là thuyết mười hai quẻ nguyệt, tức mười hai quẻ tiêu sinh. Từ khi bát quái ra đời, cùng với thời gian, sức sống của nó càng mạnh. Nhất là sau khi hệ bát quái biểu đạt quan hệ âm dương được kết hợp với khí tiết, tương ứng với quy luật chuyển hóa âm dương và quá trình luân chuyển của mặt trăng, mặt trời, thì bối cảnh lịch pháp thiên văn cho sự biến hóa âm dương trong bát quái dày thêm, và bát quái trở nên có sức sống hơn.
Từ chỗ hệ chiêm phệ vốn độc lập thăng hoa thành mối tương quan mật thiết với sự vận chuyển của đạo trời, bát quái càng bộc lộ sức sống mãnh liệt. Do phản ánh được dấu hiệu biến hóa của đạo trời, bát quái nhảy vọt từ chỗ là công cụ của phép chiêm phệ đến vị trí được coi là ngọn đèn hiệu của khoa học, một cột mốc lớn của tượng số dịch học. Vì thế tác giả khẳng định thuyết quái khí của Mạnh Hỷ có ý nghĩa xuyên thời đại.
Trên nền thuyết quái khí, Kinh Phòng đưa ra thuyết bát cung, làm tăng giá trị của bát quái và giao cho bát quái những hàm nghĩa về không gian và thời gian. Đặc biệt ông đưa ra thuyết bát quái nạp giáp, kết hợp bát quái với thiên can, địa chi và mười hai luật lịch, khiến mối quan hệ giữa bát quái và luật lịch thêm chặt chẽ, mở rộng phạm vi ứng dụng. Đây cũng là nguồn khởi đầu cho thuyết nổi tiếng nguyệt thể nạp giáp của Ngụy Bá Dương. Thuyết ấy gắn bát quái với chu kỳ vận chuyển của mặt trăng, giao cho bát quái một chức năng giải thích mới, về sau trở thành lý luận chỉ đạo chủ yếu của nội đan Đạo gia và của khí công dưỡng sinh. Tác giả nói tóm lại rằng tượng số dịch Hán đã làm phong phú nội dung tượng số, đóng góp rất lớn cho sự phát triển của ngành Dịch học.
Làm phong phú nội dung chiêm phệ
Phép biến quái bắt nguồn từ phép phệ cỏ thi trong đại diễn chi số. Dịch truyện có câu ba lần năm lần để có biến, phân bổ và kết hợp số lại, thông suốt biến hóa thì tạo nên sự giao nhau của trời và đất; khi số đi đến cùng cực thì định được mọi tượng trong thiên hạ, nếu không phải vật biến hóa nhất thiên hạ thì sao làm được như thế. Hào thượng cửu quẻ Càn có câu rồng lên quá cao tất có hối hận, cũng là một gợi mở cho lý luận sự vật phải ứng biến.
Trước khi có quái biến của Tuân Sảng, Tiêu Diên Thọ đã dùng phép lấy một quẻ biến thành sáu mươi bốn quẻ, rồi từ sáu mươi bốn quẻ diễn thành bốn nghìn không trăm chín mươi sáu quẻ mới, như ghi trong Tiêu thị Dịch lâm. Điều ấy chứng tỏ phép quái biến có sức sống lâu dài. Đặc biệt đáng chú ý là phái tượng số của dịch học thời Đông Hán đã có biến đổi lớn ở lĩnh vực quái biến và hào biến, tạo ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của chiêm phệ. Tuân Sảng thời Đông Hán lại nghĩ ra thuyết về sự lên xuống ngôi vị của hào âm hào dương, xây dựng nên quy luật của triết lý âm dương.
Thúc đẩy triết học dịch học và ngũ hành
Điểm thứ ba là ảnh hưởng của tượng số dịch Hán đến sự phát triển của triết học dịch học. Thứ nhất, hệ thống biến quái phong phú của Dịch Hán đã thúc đẩy tư duy biện chứng, đặc biệt là ảnh hưởng của biến quái đối với quan niệm biến dịch, có liên quan chặt chẽ đến việc tăng cường phép biện chứng của dịch học. Tác giả cho rằng quan niệm biến dịch của Chu Dịch có hai nguồn: một là từ việc quan sát mặt trời, mặt trăng; hai là từ phép phệ. Sự phát triển mạnh của hệ biến quái đời Hán thực sự thúc đẩy tư duy biện chứng.
Thứ hai, Dịch Hán làm cho thuyết ngũ hành phát triển thêm. Chủ yếu là Trịnh Huyền đã đưa số đại diễn trong Dịch truyện vào thuyết ngũ hành, như được Chu Hy dẫn trong Chu Dịch chính nghĩa:
Thiên địa chi số ngũ thập hữu ngũ, dĩ ngũ hành khí thông, phàm ngũ hành giảm ngũ, đại diễn hựu giảm nhất, cố tứ thập cửu dã.
Số của trời đất là năm mươi lăm, lấy ngũ hành làm cho khí thông nhau; ngũ hành giảm đi năm, số đại diễn lại giảm một nên còn bốn mươi chín. Việc đưa số đại diễn vào số ngũ hành làm cho việc khí hóa ngũ hành có thêm sức sống, thúc đẩy học thuyết ngũ hành âm dương của triết học dịch học.
Ảnh hưởng đến đồ học Dịch Tống
Điểm thứ tư là ảnh hưởng của tượng số Dịch Hán đến đồ học Dịch Tống. Dịch học đồ thư là thành tựu chính của tượng số dịch học đời Tống, nhưng nó ra đời trên nền Dịch Hán. Chẳng hạn Lạc thư đồ của Lưu Mục, mà Chu Hy gọi là Hà Đồ, bắt nguồn từ đồ ngũ hành trong Thái Huyền của Dương Hùng, còn đồ của Dương Hùng lại bắt nguồn từ thuyết ngũ hành của Trịnh Huyền. Đồ vô cực của Trần Đoàn và Thái cực đồ của Chu Đôn Di bắt nguồn từ đồ nguyên triều ngũ khí và đồ khuông khoách thủy hỏa trong Chu Dịch tham đồng khế của Ngụy Bá Dương. Hai đồ bát quái tiên thiên và hậu thiên của Chu Hy, vốn lấy từ đồ thức tiên thiên và hậu thiên học của Thiệu Ung, đều có gốc từ thuyết phương vị bát quái trong Dịch vĩ Càn tạc độ, và căn bản nhất vẫn là bắt nguồn từ thiên Thuyết quái trong Dịch truyện.
Như vậy, tác giả kết luận, Dịch đồ học là thành tựu lớn của dịch học đời Hán; thuyết đồ dịch đời Tống và đời Thanh về cơ bản cũng bắt nguồn từ đó. Dù mới ở thời sơ khai, thuyết đồ dịch Hán đã gây ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của đồ dịch học. Tượng số dịch học thời Hán là giai đoạn huy hoàng trong lịch sử tượng số dịch học, đáng kể nhất là quái khí và thuyết biến quái. Về ý nghĩa âm dương ngũ hành, về chiêm phệ hay về đồ học, tượng số dịch Hán đều để lại ảnh hưởng sâu sắc cho đời sau. Trong đó cũng có vài thuyết có mặt tiêu cực nhỏ, nhưng đó vẫn là dòng chảy chính của Dịch Hán và chưa đến mức làm dịch học rẽ sang đường khác. Vì vậy thành tựu lớn của tượng số dịch Hán và ảnh hưởng của nó đối với đời sau là điều rất đáng kể.
Đồ dịch học Tống, từ ba bức đồ đến luận bản thể
Tượng số nhà Hán đã làm đầy kho chứa, đến nhà Tống người ta bắt đầu vẽ kho ấy thành đồ hình để đời sau còn nhìn thấy.
Tượng số dịch học thời Tống Nguyên là giai đoạn rực rỡ trong lịch sử tượng số dịch học, chủ yếu là sự phát triển của đồ dịch học và số dịch học, động lực thúc đẩy ngành dịch học. Tác giả bắt đầu từ giá trị to lớn của đồ dịch học Tống. Dịch Tống là giai đoạn quan trọng của quá trình phát triển đồ dịch học, gồm những thuyết đồ nổi tiếng thế giới như đồ Thái cực, đồ Tiên thiên bát quái, đồ Hậu thiên bát quái, Hà Đồ và Lạc thư. Tác giả chia sự đóng góp ấy làm ba điểm. Thứ nhất, sự ra đời của đồ tiên thiên bát quái, đồ thái cực, Hà Đồ và Lạc thư là bước phát triển quan trọng của đồ dịch học. Thứ hai, sự hưng thịnh của đồ dịch học thúc đẩy triết lý và luận bản thể của Dịch Tống. Thứ ba, thuyết đồ dịch Tống có đóng góp lớn cho sự phát triển của thuyết ngũ hành.
Sự ra đời của các bức đồ và dòng truyền thừa
Thánh đồ dịch học Trần Đoàn nổi tiếng khắp nơi vì phát minh đồ tiên thiên thái cực, Long đồ và đồ vô cực. Trong đó đồ tiên thiên thái cực được lưu truyền trong sách Lục thư bản nghĩa của Triệu Huy Khiêm đời Minh, với điều tuyệt diệu là thái cực hàm âm dương, âm dương hàm bát quái. Lục thư bản nghĩa trở thành mẹ đẻ của đồ phương vị bát quái tiên thiên của Thiệu Ung về sau. Long đồ tam biến của Trần Đoàn sau này thành Hà Đồ, Lạc thư của Lưu Mục, rồi thành Thái cực đồ của Thiệu Ung và Chu Hy.
Về dòng truyền thừa, Chu Chấn đời Tống nói rằng Trần Đoàn đem đồ tiên thiên truyền cho Chủng Phóng, Phóng truyền cho Mục Tu, Mục Tu đem Thái cực đồ truyền cho Chu Đôn Di, Đôn Di truyền cho Trình Hạo và Trình Di, như ghi trong Chu Chấn truyện của Tống sử. Thực tế Trần Đoàn phát minh ba thuyết đồ nói trên. Đồ tiên thiên được Thiệu Ung thêm thắt thành đồ phương vị bát quái tiên thiên, lưu truyền trong Lục thư bản nghĩa. Long đồ tam biến sau khi Lưu Mục thêm một số dấu đen trắng thì thành Hà Đồ, Lạc thư và được lưu truyền trong sách Dịch tượng đồ thuyết đời Nguyên. Đồ vô cực được Chu Đôn Di đổi thành Thái cực đồ, sau khi thêm Thái cực đồ thuyết lại được Chu Hy thêm bớt thành Thái cực đồ như ngày nay; Thái cực đồ thuyết giải của Chu Hy nằm trong Chu Tử toàn thư. Ngoài ra, Chu Dịch bản nghĩa của Chu Hy còn gồm cả đồ bát quái tiên thiên và hậu thiên. Đó là sự bảo tồn quý báu của đồ dịch học Tống. Tác giả coi sự ra đời của ba bức đồ ấy là ba cột mốc lớn, đánh dấu những bước tiến mới của đồ dịch học.
Luận bản thể và bốn học phái
Sự hưng thịnh của đồ dịch học còn thúc đẩy triết lý và luận bản thể của Dịch Tống. Nó đưa thuyết đồ lên đến mức thăm dò bản thể luận, lấy đồ vô cực, đồ thái cực, Hà Đồ Lạc thư làm tượng trưng cho nhận thức về bản thể, và coi đồ Thái cực bát quái, Hà Đồ Lạc thư là mô thức nguyên bản của vạn vật. Từ đó thúc đẩy sự thăm dò bản thể luận của Dịch Tống và cho ra đời bốn học phái đời Tống Minh là lý học, khí học, tâm học và đạo học, ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của dịch học.
Chu Đôn Di trong Thái cực đồ thuyết trình bày mô thức luận bản thể: âm dương và thái cực sinh ngũ hành, ngũ hành sinh ra vạn vật.
Ngũ hành nhất âm dương dã, âm dương nhất thái cực dã, Càn đạo thành nam, Khôn đạo thành nữ, nhị khí giao cảm, hóa sinh vạn vật, vạn vật sinh sinh nhi biến hóa vô cùng yên.
Ngũ hành vốn là một âm một dương, âm dương vốn là một thái cực; đạo Càn thành nam, đạo Khôn thành nữ, hai khí giao cảm sinh ra vạn vật, vạn vật sinh ra sinh mãi, biến hóa đến vô cùng. Thuyết thái cực đã đề cao quan điểm thái cực là bản thể vũ trụ của Chu Dịch, và họ Chu đưa ra triết lý nổi tiếng thái cực động mà sinh dương, tĩnh mà sinh âm. Chu Hy xem thái cực như lẽ trời, bản thể cao nhất của lý học, nên nói thái cực là lý, và đề ra triết lý minh thiên lý, diệt nhân dục. Trương Tải thì coi thái cực là bản thể cao nhất trong thuyết khí của vũ trụ. Thuyết Hà Lạc của Lưu Mục lại coi số sinh thành của Hà Đồ Lạc thư và ngũ hành là mô thức sinh thành vạn vật trong vũ trụ.
Tóm lại, thuyết đồ dịch Tống thông qua đồ thức để trình bày quan điểm bản thể luận, nhất là bản thể quan có thực, phủ định bản thể hư vô của Huyền học Ngụy Tấn. Điều ấy phản ánh sự tiến bộ của bản thể quan vũ trụ Dịch Tống và thúc đẩy mạnh sự phát triển của triết học dịch học. Đó cũng là đóng góp lớn nhất của thuyết đồ dịch đối với dịch học.
Đóng góp cho thuyết ngũ hành
Long đồ tam biến của Trần Đoàn được Lưu Mục phát triển rất nhiều. Lưu Mục làm nổi bật một phần ẩn trong đó là số sinh thành ngũ hành, lấy nó làm trung tâm, làm nguồn căn bản cho sự hóa sinh của vạn vật trong vũ trụ. Từ đó vị thế của thuyết ngũ hành trong dịch học được nâng cao. Đặc biệt ông trình bày mối quan hệ mật thiết giữa số sinh thành của ngũ hành và bát quái, giải thích tường tận và làm cho quan hệ giữa tượng và số chặt chẽ hơn:
Tuy vân tứ tượng sinh bát quái, nhiên tu tam ngũ chi biến dị, dị thất bát cửu lục chi thành số nhi hậu năng sinh bát quái nhi định vị hỹ.
Tuy nói tứ tượng sinh bát quái, nhưng vẫn cần sự qua lại của hào ba và hào năm mới có được các số thành bảy, tám, chín, sáu để sinh ra bát quái rồi định ngôi cho chúng.
Tác giả tóm lại rằng thuyết đồ dịch Tống là phần chủ thể trong tượng số học Dịch Tống. Những bức đồ được phát minh đã xây một nền móng vững cho thuyết đồ, ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của thuyết đồ sau này. Sự hưng thịnh của thuyết đồ dịch Tống còn thúc đẩy nghĩa lý và triết lý Dịch Tống, và nó là cầu nối giữa thuyết đồ Hán với thuyết đồ Thanh. Thuyết đồ dịch Tống không chỉ đặt nền móng, mà còn giữ vai trò kế thừa đời trước và gợi mở đời sau, đóng góp kiệt xuất cho sự phát triển của dịch học.
Nguồn: Kinh điển văn hóa 5000 năm Trung Hoa - Tập 1 (Dương Lực), thuật lại có lược bớt.
