Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Khuyên Thiện

Bài tổng quan

Sáu mươi quẻ, nguyệt thể nạp giáp và độ lửa trong luyện nội đan

Đạo Học - Khuyên Thiện01/10/202615 phút đọc3 lượt đọc
Sáu mươi quẻ, nguyệt thể nạp giáp và độ lửa trong luyện nội đan

Mồng ba quẻ Chấn, rằm quẻ Càn, cuối tháng quẻ Khôn: vầng trăng tròn khuyết cũng được viết bằng những nét vạch của Kinh Dịch. Và người ngồi luyện đan, mỗi hơi vào hơi ra đều phải theo đúng nhịp ấy...


Kinh Phòng chia năm cho sáu mươi quẻ

Nếu hai mươi bốn tiết là hai mươi bốn đốt tre, thì sáu mươi quẻ là sáu mươi nốt nhạc dàn đều trên cả năm.

Tác giả cho biết Kinh Phòng là người lập ra thuyết quái khí của sáu mươi bốn quẻ. Ông dùng sáu mươi quẻ ứng với một năm ba trăm sáu mươi lăm ngày và một phần tư, tức năm quẻ ứng một tháng, mỗi quẻ coi sóc sáu ngày bảy phần. Dịch vĩ, thiên Kê lãm đồ, có câu tóm tắt cách chia ấy là mỗi tháng năm quẻ, mỗi quẻ sáu ngày và bảy phần mười. Phép đối ứng này lấy quẻ Trung phù ứng với tiết đông chí, theo lời nói rằng từ đầu đông chí thì quẻ Trung phù bắt đầu việc của mình.

Nguyệt thể nạp giáp và vòng quay của mặt trăng

Trăng khuyết trăng tròn cũng được viết lại bằng nét vạch, như một dòng chữ khắc trên bầu trời.

Theo tác giả, Chu dịch tham đồng khế của Ngụy Bá Dương đời Hán đã phối hợp bát quái với hình tượng mặt trăng và với thiên can, gọi là nguyệt thể nạp giáp, rồi đặt nó cạnh mười hai quẻ tiêu tức để tượng trưng cho dương tiêu âm tức. Lúc đầu, quái khí lấy theo sự vận động của mặt trăng, đem so với quái khí lấy theo mặt trời, rất có lợi cho việc nắm vững độ lửa trong luyện đan.

Ông giải thích lý do: quái khí dựa vào mặt trời, cũng như mười hai quẻ tiêu tức, là chu kỳ dài của một năm, tượng trưng cho tiêu tức âm dương của mười hai tháng, chỉ có lợi cho việc nắm độ lửa trong chu kỳ dài. Còn sự vận động của mặt trăng là căn cứ của chu kỳ ngắn, có lợi cho việc nắm độ lửa của chu kỳ ngắn. Vì vậy nguyệt thể nạp giáp trong Tham đồng khế và mười hai quẻ tiêu tức của Mạnh Hỷ được coi là tiêu chuẩn để nắm độ lửa theo chu kỳ năm và tháng, tức thuật luyện đan của Đạo gia, và ảnh hưởng sâu tới thuyết dưỡng sinh của thời sau.

Cách nạp cụ thể của bát quái là Càn nạp Giáp và Nhâm, Khôn nạp Ất và Quý, Chấn nạp Canh, Tốn nạp Tân, Cấn nạp Bính, Đoài nạp Đinh, Khảm nạp Mậu, Ly nạp Kỷ. Sách đặt các quẻ ấy vào hình trăng của một tháng âm lịch: mồng ba là Chấn, mồng tám là Đoài, tức thượng huyền, ngày rằm trăng tròn là Càn. Sang ngày mười sáu là Tốn, ngày hai mươi ba là Cấn, tức hạ huyền, và cuối tháng, ngày trăng khuất, là Khôn. Nửa tháng đầu là tiến dương hỏa, nửa tháng sau là thoái âm phù, thể hiện quan hệ dương tức âm tiêu rồi âm tức dương tiêu.

Nguyệt thể nạp giáp lấy hình dáng tròn khuyết của mặt trăng vào ngày mồng một và ngày rằm mỗi tháng làm dấu hiệu tiêu tức, rồi nối với sự tiêu tức của mười hai quẻ, chia thành chu kỳ ngắn và chu kỳ dài để giữ độ lửa. Mười hai quẻ tiêu tức và quy luật tiêu tức của nguyệt thể nạp giáp trong Tham đồng khế không chỉ là căn cứ của thuật ngoại đan của Đạo gia mà còn trở thành cơ sở lý luận của thuật luyện đan nói chung, ảnh hưởng sâu đến khí công và thuật dưỡng sinh của đời sau.

Ảnh hưởng đến Dịch học tượng số

Một khi bát quái có mặt trời mặt trăng làm nền, nó không còn chỉ là biểu tượng mà thành một chiếc đồng hồ.

Quái khí do Mạnh Hỷ, Kinh Phòng, rồi Ngụy Bá Dương phát triển thành mười hai quẻ tiêu tức, thuyết cửu cung và bát quái nguyệt thể nạp giáp. Nhờ đó hệ thống bát quái âm dương có bối cảnh thiên văn về sự vận động của mặt trăng và mặt trời, làm tăng tính khoa học của lý luận tượng số bát quái khí. Quẻ mười hai tiêu tức và nguyệt thể nạp giáp có giá trị ứng dụng quan trọng trong Dịch học tượng số, và có tác dụng chủ chốt cho sự phát triển của nó. Lý luận tượng số về bát phong cửu cung trong Hoàng đế nội kinh chính là dựa vào bát quái khí và thuyết cửu cung. Hình bát quái cửu cung mà sách đặt ra ghi các vị trí: đông chí, lập thu, xuân phân, lập hạ, giữa, lập đông, thu phân, lập xuân, giữa hạ.

Quái khí không chỉ thúc đẩy tượng số học Hán Dịch mà còn ảnh hưởng sâu đến tượng số học Tống Dịch. Chẳng hạn tiên thiên thái cực đồ của Trần Đoàn được sáng lập trên cơ sở quái khí Hán Dịch của Mạnh Hỷ, Kinh Phòng và Ngụy Bá Dương. Sự ra đời của tiên thiên thái cực đồ trở thành một trong những cơ sở lý luận luyện đan của đời sau, việc luyện nội đan tiên thiên của giới đan gia bắt nguồn từ đây. Đồ hình ấy cũng ảnh hưởng đến việc Thiệu Ung dựng đồ phương vị bát quái tiên thiên. Ngoài ra Lưu Mục đưa ra đồ bát quái Hà Lạc, nối rõ ràng bát quái với Hà đồ Lạc thư, dựng nên hệ tượng số Hà Lạc bát quái, góp thêm sức vào sự phát triển của Dịch học tượng số.

Tác giả tóm lại: quái khí trong Kinh Dịch, qua sự phát triển của Mạnh Hỷ, Kinh Phòng, sau khi đặt bát quái ứng với tiết của mỗi tháng đã kích thích sự phát triển hàng loạt hệ thống tượng số. Đó là hệ thống tượng số bát quái nạp hai mươi bốn tiết khí, hệ thống cửu cung bát quái nạp, hệ thống can chi bát quái nạp gồm bát quái nạp giáp và nguyệt thể nạp giáp, hệ thống thái cực bát quái nạp, và hệ thống Hà Lạc bát quái nạp. Tất cả có tác dụng thúc đẩy to lớn đối với Dịch học số học Trung Hoa.

Giá trị của quái khí trong phép lịch và nội đan

Từ một tấm lịch treo tường đến hơi thở của người ngồi tĩnh tọa, cùng một nhịp tăng giảm vẫn chảy.

Phối với tiết khí trong phép tính lịch

Ưu thế của quái khí khi ghép với tiết khí nằm ở chỗ tượng số kết hợp với quái khí càng chứng minh được quy luật tăng giảm âm dương của bốn mùa. Tám khí trong hai mươi bốn tiết là hai phân, hai chí và bốn lập, tức xuân phân, thu phân, đông chí, hạ chí, lập xuân, lập hạ, lập thu, lập đông, ăn khớp với bát quái. Bát quái không chỉ được lấy làm dấu hiệu cho tám khí về mặt thời gian mà còn về mặt không gian, vị trí. Nên ảnh hưởng của cách kết hợp này đối với phép tính lịch về sau rất lớn, và còn gợi ý nhiều cho cửu cung đồ của Dịch vĩ. Thuyết quái khí bát quái của Kinh Phòng cùng bát cung quái lần lượt là bản vẽ cho thuyết cửu cung trong thiên Càn tạc độ của Dịch vĩ, và ảnh hưởng rất lớn đến thuyết cửu cung bát phong của Hoàng đế nội kinh.

Hoàng đế nội kinh lấy thuyết quái khí bát quái của Kinh Phòng làm cơ sở, lấy cửu cung đồ của Dịch vĩ làm khung, thu thập thuyết bát phong của Lã thị xuân thu, rồi dùng cán Bắc Đẩu theo tháng để dựng nên bối cảnh thiên văn. Nó không chỉ lấy sự vận động của mặt trời làm cơ sở mà còn thêm căn cứ thiên văn là sao Bắc Đẩu, nên cửu cung bát phong mà nó tạo ra có điều kiện tốt nhất để dự báo khí tượng, thời gian và không gian thời cổ.

Gợi ý cho việc luyện nội đan

Thuyết quẻ mười hai tháng và thuyết quái khí do Mạnh Hỷ và Kinh Phòng tạo ra được Ngụy Bá Dương dùng trong Chu dịch tham đồng khế làm căn cứ lý luận cho việc luyện đan, gồm cả nội đan lẫn ngoại đan, đặc biệt gợi ý quan trọng cho việc luyện nội đan. Tác giả tóm thành mấy điều.

Điều thứ nhất là nêu quy luật về độ lửa của luyện nội đan. Tham đồng khế lấy mười hai quẻ tiêu tức do Mạnh Hỷ thời Tây Hán sáng tạo làm nền, đưa ra căn cứ lý luận cho việc nắm độ lửa là tiêu tức âm dương. Từ quẻ Phục đến quẻ Càn là giai đoạn dương tức âm tiêu, từ quẻ Cấu đến quẻ Khôn là giai đoạn âm tức dương tiêu. Ý nghĩa của việc giữ độ lửa là: ở giai đoạn dương tức thì thuận theo xu thế tự nhiên của khí dương mới sinh mà tăng thêm lửa dương, ở giai đoạn âm tức thì thừa lúc âm tăng mà giảm dấu hiệu âm.

Tiến dương hỏa nghĩa là luyện nội đan chủ yếu vận khí đi lên, hơi thở chủ yếu là hít vào, có ý dẫn khí đi lên để tăng cường độ luyện. Thoái âm phù là vận khí chủ yếu đi xuống, hơi thở chủ yếu là thở ra, có ý dẫn khí đi xuống để giảm cường độ luyện mà vẫn giữ một độ lửa nhất định. Vì sao dương tức phải tiến dương hỏa, âm tức phải thoái âm phù? Tác giả giải thích rằng mười hai quẻ tiêu tức ứng với mười hai tháng trong năm, mà nền thiên văn là sự vận động hằng ngày và hằng năm của mặt trời. Trong một năm, giai đoạn từ quẻ Phục đến quẻ Càn, và trong một ngày từ giờ tý đến giờ ngọ, là lúc dương tăng âm giảm, hợp để tiến dương hỏa. Ngược lại, trong năm từ quẻ Cấu đến quẻ Khôn, trong ngày từ giờ ngọ đến giờ tý, là lúc âm tăng dương giảm, hợp để thoái âm phù. Cho nên độ lửa luyện nội đan phải theo xu thế tăng giảm âm dương của tự nhiên, đó là nguyên tắc quan trọng. Bí quyết mà giới đan gia nhấn mạnh là vận động mà theo thời, tránh làm trái nền trời.

Điều thứ hai là đặt cơ sở lý luận cho việc luyện trong đan phòng. Bát quái, mười hai quẻ tiêu tức và thái cực âm dương được coi là tiêu chuẩn của sự thăng giáng vận khí theo Tham đồng khế. Sách ví mười hai quẻ tiêu tức như một lò luyện đan, gồm cả cơ thể người. Khảm và Ly như khung ngoài của lò, Càn và Khôn như cột trụ chính, còn khí thì chảy khắp sáu hư, lên xuống không cố định. Từ mười hai quẻ ấy, sách còn đưa ra hoàng chung gặp tý, nhuy tân gặp ngọ. Hoàng chung và nhuy tân là hai trong các âm luật, một cách chế luật thời cổ chia tám độ thành mười hai nửa âm không hoàn toàn đều nhau, rồi dựa vào chẵn lẻ chia làm sáu luật dương và sáu luật âm. Sáu luật dương gồm hoàng chung, thái thốc, cô tẩy, nhuy tân, di tắc, vô xạ, sáu luật âm gồm đại lữ, giáp chung, trọng lữ, lâm chung, nam lữ, ứng chung. Việc thăng giáng ở tý và ngọ ẩn chứa quan hệ âm dương nương nhau mà tồn tại.

Tham đồng khế cũng nhấn mạnh rằng việc luyện đan phải căn cứ quy luật tiêu tức, tiến dương hỏa, thoái âm phù, và phải chú ý quy luật âm dương nương tựa nhau. Cho nên luyện đan phải ngậm nguyên ôm chân, giữ tinh không để tản. Càn cương, Khôn nhu, phối hợp bọc lấy nhau, dương ban cho âm nhận, trống mái đi liền nhau, trống không ở một mình, mái không ở lẻ loi, như cặp rồng rùa rắn, như đôi cưu cùng nâng đỡ nhau. Theo tác giả, lý luận ấy là cơ sở cho việc luyện trong đan phòng.

Điều thứ ba là nêu rõ nguyên tắc vận khí khi luyện nội đan. Quái khí nạp giáp của Kinh Phòng không chỉ được Tham đồng khế phát triển thành thuyết nguyệt thể nạp giáp mà còn được dùng làm căn cứ cho độ lửa nội đan. Hoài Nam tử, thiên Thiên văn huấn, ghép mười hai luật với mười hai tháng, gọi là thập nhị nguyệt nạp luật, và cho tháng mười một là hoàng chung. Thuyết quái ghép càn khôn với luật lịch, Kinh Phòng suy mười hai luật ra sáu mươi luật ứng với sáu mươi quẻ. Câu hoàng chung gặp tý và nhuy tân gặp ngọ trong Tham đồng khế nghĩa là mười hai luật ứng với mười hai quẻ tiêu tức, quẻ Phục ứng hoàng chung ở tý, còn nhuy tân ở ngọ. Giờ tý là lúc hoàng chung, vận khí đang tăng, giờ ngọ là lúc nhuy tân, vận khí đang giảm.

Âm luật từ hoàng chung đến nhuy tân là luật dương, âm cao dần ứng với dương tức. Ngược lại từ nhuy tân đến hoàng chung là luật âm, âm thấp dần ứng với âm tức. Tham đồng khế nói dương cực thì sang âm, từ cao xuống thấp chính là tiêu chuẩn của thăng giáng vận khí, và đúc thành câu rằng tiêu tức ứng với chung luật, thăng giáng theo cán Bắc Đẩu. Tác giả kết rằng Tham đồng khế đã kết hợp quái khí với âm luật, làm âm dương tiêu tức và âm luật phối hợp, tạo ra tiêu chuẩn của thăng giáng vận khí. Người tập luyện thuận theo dòng ấy, biết xu thời mà vận động, thì tránh được chuyện làm trái nền trời.

Quan hệ người với tự nhiên và giá trị triết học của quái khí

Khi trăng, mặt trời và sao đều được ghi bằng cùng một ngôn ngữ vạch, người và trời cũng nói được với nhau.

Quái khí phối bát quái, mười hai quẻ và mười hai tháng, từ đó phát triển quan hệ tương ứng giữa người và tự nhiên, điều có ý nghĩa quan trọng với dưỡng sinh học. Liên hệ giữa quẻ Càn trong Kinh Dịch và bối cảnh thiên văn là quái khí sớm nhất, thể hiện mối liên hệ mật thiết giữa bát quái và tự nhiên. Mười hai quẻ tiêu tức của Mạnh Hỷ phối mười hai quẻ với mười hai tháng, sinh ra mối quan hệ giữa bát quái và sự vận động của mặt trời. Rồi Tham đồng khế dựng nguyệt thể nạp giáp, mở ra mối quan hệ giữa bát quái và sự vận động của mặt trăng. Từ đó quái khí không chỉ phản ánh được chu kỳ năm và chu kỳ ngày liên quan đến mặt trời mà còn phản ánh chu kỳ tháng liên quan đến mặt trăng, cung cấp căn cứ lý luận cho chu kỳ sinh vật trong liên hệ giữa con người và tự nhiên, có ý nghĩa lớn trong khoa học dưỡng sinh. Tham đồng khế có câu nói Khảm là sáng của trăng, Ly là ánh của mặt trời, mặt trời mặt trăng là Dịch, cương nhu đối nhau. Sách còn nhấn mạnh Dịch thống nhất ở lòng trời, tức mặt trăng và mặt trời, chứng tỏ sự tăng giảm âm dương trong Dịch học lấy chuyển động của mặt trăng và mặt trời làm trọng tâm.

Câu thăng giáng theo cán Bắc Đẩu cho thấy quái khí nối chặt bát quái với mặt trời, mặt trăng và sao, bộc lộ cơ sở vật chất chắc chắn. Theo tác giả, quái khí có nhiều ưu thế như vậy chính vì tính vật chất của nó. Do quái khí ứng với tiết khí và cả với nguyệt thể nạp giáp, nên có nền thiên văn sâu sắc, làm tăng tính vật chất của bát quái và khiến bát quái vốn giàu triết lý càng thuyết phục hơn. Vì vậy sự ra đời của thuyết quái khí có giá trị quan trọng không chỉ về khoa học tự nhiên mà cả về triết học.

Trong Dịch truyện, bát quái đã dùng để chỉ vật chất ngũ hành, như Càn là kim, Khôn là đất, Khảm là nước, Ly là lửa, Tốn là gỗ, Cấn là núi, Đoài là đầm, Chấn là sấm. Từ quái khí trong Dịch truyện đến quái khí của Mạnh Hỷ và Ngụy Bá Dương là một bước nhảy vọt. Khi bát quái có nền thiên văn về sự vận động của mặt trời và mặt trăng, tính vật chất của quái khí tăng, có lợi cho việc nêu quy luật chuyển hóa âm dương. Lý luận quái khí âm dương lấy thiên văn làm nền đã phá vỡ thuyết tuần hoàn ngũ hành của Trâu Diễn, thay thế ngũ hành âm dương của Trâu Diễn, trở thành cơ sở lý luận để triết học đời sau phân tích sự vận động âm dương. Lý luận quái khí Hán Dịch không chỉ ảnh hưởng sâu đến tượng số học bát quái mà còn đặt nền cho sự phát triển tượng số học Tống Dịch, như tiên thiên thái cực đồ nổi tiếng của Trần Đoàn cũng bắt nguồn từ quái khí.

Tổng hợp mọi điều đã nói, tác giả kết luận rằng văn hóa khí là sự thăng hoa của văn hóa âm dương, có tác dụng quan trọng đối với việc hình thành nền văn hóa truyền thống Trung Hoa lấy âm dương làm hạt nhân.

Nguồn: Kinh điển văn hóa 5000 năm Trung Hoa - Tập 1 (Dương Lực), thuật lại có lược bớt.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Khuyên Thiện