Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Khuyên Thiện

Bài tổng quan

Quái khí: sáu mươi bốn quẻ đo nhịp âm dương theo tiết khí

Đạo Học - Khuyên Thiện01/10/202614 phút đọc2 lượt đọc
Quái khí: sáu mươi bốn quẻ đo nhịp âm dương theo tiết khí

Một nét liền mọc thêm dưới đáy quẻ, và mùa đông bắt đầu nhường chỗ cho mùa xuân. Người xưa đã dùng đúng những nét vạch ấy để đếm từng bước chân của một năm, tiết nào quẻ nào...


Quái khí là gì và ai đã dựng nên nó

Nếu quẻ là một bức ảnh đứng yên, thì quái khí là cuốn phim quay cả năm bốn mùa.

Tác giả mở đầu mục này bằng một câu của nhà sư Nhất Hành đời Đường trong thiên Quái nghị, được ông hiểu là cái ý quan trọng nhất của Dịch chính là khí. Theo ông, quái khí là nội dung cơ bản của Dịch khí. Thuyết quái khí do Mạnh Hỷ sáng lập: ông ghép quẻ và hào với hai mươi bốn tiết khí để phân tích cách âm dương tăng giảm qua bốn mùa trong một năm. Thuyết ấy gồm ba phần: thuyết tứ chính quái, thuyết mười hai quẻ ứng mười hai tháng, và thuyết sáu mươi quẻ ứng với bảy mươi hai hậu, tức bảy mươi hai thời đoạn nhỏ của năm.

Kinh Phòng sau đó phối bát cung quái và sáu mươi bốn quẻ vào hệ thống, và sáu quẻ con cùng được xếp theo. Tóm lại, quái khí là cách cho sáu mươi bốn quẻ ứng với hai mươi bốn tiết khí, bao gồm một năm, bốn mùa, mười hai tháng và bảy mươi hai hậu.

Trọng tâm của lý luận quái khí

Mọi chuyện đều xoay quanh một câu hỏi: khi một nét liền dịch chỗ hay thêm một nét đứt, âm dương trong quẻ đổi thay ra sao?

Quái khí là tượng số dựa trên bát quái, phản ánh quy luật khí hóa âm dương của tự nhiên. Ưu thế của nó nằm ở chỗ phản ánh được một cách tinh tế sự tăng giảm của âm dương. Quẻ và hào trong quái khí đều được gán một thành phần âm dương nhất định, và cả vị trí lẫn con số của hào đều phản ánh quy luật ấy. Vì vậy các nhà Dịch học dùng quẻ tứ chính, mười hai quẻ tiêu tức và sáu mươi bốn quẻ để thể hiện nhịp tăng giảm của tự nhiên.

Hào tượng và sự đổi thay lượng âm dương

Tượng gồm hào tượng và quẻ tượng. Hào âm và hào dương đều có thuộc tính âm dương riêng, và tác dụng của chúng trong quái khí rất lớn. Đặc biệt, khi vị trí của hào đổi, hoặc số hào thêm bớt, thì lượng âm dương của cả quẻ đổi theo, kéo theo sự biến đổi của âm dương.

Mười hai quẻ tiêu tức của Mạnh Hỷ, cũng gọi là quẻ mười hai tháng, là ví dụ điển hình. Từ quẻ Phục, nơi một hào dương vừa sinh sau lúc âm cực, rồi quẻ Lâm có hai dương, quẻ Thái ba dương, quẻ Đại tráng bốn dương, quẻ Quải năm dương, cho tới quẻ Càn đủ sáu dương, dương cực thịnh, đó là giai đoạn dương lớn dần mà âm tiêu mòn dần. Rồi từ quẻ Cấu, nơi dương cực mà một âm bắt đầu lớn, đến quẻ Độn hai âm, quẻ Bĩ ba âm, quẻ Quan bốn âm, quẻ Bác năm âm, đến quẻ Khôn thì sáu hào đều âm, âm từ nhỏ đến cực lớn, thể hiện giai đoạn âm lớn dần mà dương mòn dần.

Nhìn từ bát quái tiên thiên cũng vậy: quẻ Khôn toàn hào âm, quẻ Chấn là âm cực mà sinh một dương, quẻ Ly và quẻ Đoài có hai dương, đến quẻ Càn cả ba hào đều là dương, thể hiện dương lớn âm tiêu. Rồi quẻ Tốn là dương cực mà một âm lớn lên, quẻ Khảm và quẻ Cấn có hai âm, đến quẻ Khôn ba hào đều âm, thể hiện âm lớn dương tiêu.

Tác giả nói bát quái tiên thiên thường không dùng để biểu thị quẻ khí, mà dùng để biểu thị tứ chính quái của bát quái hậu thiên. Tức là Mạnh Hỷ dùng sự lên xuống của vị trí các hào để giải thích sự chuyển hóa tăng giảm. Quẻ Khảm có một dương giữa hai âm, âm khí thịnh, dương khí ẩn bên trong. Quẻ Chấn là hào dương tuy ở vị trí thấp nhưng đã thoát khỏi vòng bao bọc của hào âm. Quẻ Ly ngược lại, hai dương bao một âm, dương khí thịnh, âm khí nằm bên trong. Quẻ Đoài có hào âm ở trên cùng, âm khí bắt đầu thịnh. Từ đó suy ra sự đổi vị trí của hào cũng trình bày được quy luật tăng giảm.

Số của hào và khí của quẻ

Sự biến đổi của số hào có hai tác dụng quyết định đối với quái khí. Một là qua việc thay đổi số hào âm và hào dương mà ảnh hưởng đến lượng độ của quẻ khí. Hai là dùng ý nghĩa xác định của con số hào để tác động đến tính chất của quẻ. Mạnh Hỷ dùng số hào của bốn quẻ chính trong bát quái hậu thiên để chứng tỏ sự tăng giảm âm dương của tự nhiên.

Trong Kinh Dịch, số chín là số dương, cực dương, đại diện cho dương thịnh. Số bảy là thiếu dương, khởi đầu của số dương, thể hiện dương khí tương đối lớn. Số sáu là tinh túy của âm, số cực âm, đại diện cho âm cực thịnh. Số tám là thiếu âm, khởi đầu của số âm, thể hiện âm khí còn yếu. Cho nên khi nói hào của quẻ Dịch, hào dương dùng chín làm đại diện, hào âm dùng sáu làm đại diện, vì dương chủ tiến nên chín là cực dương, âm chủ lui nên sáu là cực âm.

Cách giải thích của Thuyết quái về Khảm, Chấn, Ly, Đoài cũng căn cứ vào số hào. Hào dương trong quẻ Khảm là số bảy, số thiếu dương, nên dương khí hơi suy. Hào dương trong quẻ Chấn là số chín, dương thịnh. Hào âm trong quẻ Ly mang số âm, thể hiện âm khí. Tác giả nói điều này chứng tỏ Thuyết quái đã dùng số của hào để biểu thị sự tăng giảm khí âm dương, tức một lớp nghĩa nữa của quái khí.

Ba chặng trên đường phát triển của quái khí

Từ con rồng mọc rồi lặn trên bầu trời đêm đến chiếc đồ hình thái cực, quái khí đã đi một chặng đường dài.

Thuyết này có nguồn gốc từ Kinh Dịch, vì hào âm và hào dương trong bát quái là cái nôi sớm nhất của âm dương quái khí. Sự phát triển của nó trải qua ba giai đoạn.

Chặng thứ nhất: Kinh Dịch và Dịch truyện

Giai đoạn đầu là quái khí Càn Khôn trong Kinh Dịch, dùng con rồng của quẻ Càn qua các bước ẩn, hiện, nhảy, bay, quá cao. Theo tác giả, các bước ấy phản ánh bảy chòm sao Thanh Long: sự dịch chuyển của các vì sao trên thực tế là cách phản ánh sớm nhất vận động trong một năm của mặt trời thời cổ, và cũng là quái khí sớm nhất. Lời hào của Càn chép như sau.

Sơ cửu: Tiềm long, vật dụng.

Cửu nhị: Kiến long tại điền, lợi kiến đại nhân.

Cửu tam: Quân tử chung nhật càn càn, tịch dịch nhược lệ, vô cữu.

Cửu tứ: Hoặc dược tại uyên, vô cữu.

Cửu ngũ: Phi long tại thiên, lợi kiến đại nhân.

Thượng cửu: Kháng long hữu hối.

Nghĩa là rồng còn ẩn thì chưa đem tài ra dùng, rồng hiện ở cánh đồng thì ra mắt bậc đại nhân có lợi, người quân tử suốt ngày hăng hái tự cường đến tối còn thận trọng như lo sợ thì không lỗi, rồng có khi bay có khi nằm trong vực thì không lầm, rồng bay trên trời thì ra mắt đại nhân có lợi, rồng lên quá cao thì có hối hận. Tác giả nói qua các bước ấy Kinh Dịch đã phản ánh quá trình dương khí tăng giảm trong một năm, và đó là quái khí sớm nhất.

Dịch truyện mở rộng quái khí từ phía ngũ hành. Thuyết quái truyện gán cho các quẻ thuộc tính: Càn là kim, Khôn là đất, Khảm là nước, Ly là lửa, Tốn là gỗ, Đoài là đầm, Cấn là núi, Chấn là sấm. Tác giả cho rằng quái khí trong Dịch truyện có tác dụng thúc đẩy sự phát triển của học thuyết ngũ hành.

Chặng thứ hai: Mạnh Hỷ, Kinh Phòng và Ngụy Bá Dương

Giai đoạn thứ hai là quái khí của Mạnh Hỷ, Kinh Phòng và Ngụy Bá Dương. Từ sự ứng nhau giữa mười hai quẻ và mười hai tháng, Mạnh Hỷ thời Hán dựng nên mười hai quẻ tiêu tức. Kinh Phòng nối bát quái, lục quái và các tháng với nhau, lập ra quái tiêu tức, liên hệ bát quái với sự vận động của mặt trời, bộc lộ ưu thế của chu kỳ âm dương của năm và của ngày trong quái khí.

Cùng lúc ấy, Ngụy Bá Dương thời Đông Hán dựng ra bát quái nguyệt thể nạp giáp. Cách này thêm vào quái khí bối cảnh thiên văn của hình trăng, bổ sung chu kỳ âm dương theo tháng, theo sự biến đổi hào âm dương của sáu mươi bốn quẻ, nêu lên nguyên lý thiên văn và phát triển tác dụng hai khí âm dương của bát quái. Từ đó, vì quái khí được trao bối cảnh thiên văn rõ ràng về sự vận hành của mặt trăng, nó càng thể hiện đầy đủ ưu thế phản ánh chu kỳ tăng giảm âm dương của tự nhiên, đặt nền móng cho sự phát triển của tượng số học Dịch.

Chặng thứ ba: Trần Đoàn và Lưu Mục

Giai đoạn thứ ba là quái khí của Trần Đoàn và Lưu Mục. Trên nền quái khí Hán Dịch của Mạnh Hỷ, Kinh Phòng, Ngụy Bá Dương, Trần Đoàn đời Tống phối quái khí với đồ thái cực, sáng tạo ra tiên thiên thái cực đồ, bộc lộ chu kỳ tăng giảm âm dương của bát quái. Sự ra đời của đồ hình ấy ảnh hưởng sâu đến tượng số học quái khí. Lưu Mục thì phối phương vị bát quái với Hà đồ, Lạc thư theo thuyết cửu cung của Kinh Phòng, làm quan hệ giữa bát quái và Hà đồ, Lạc thư chặt hơn.

Từ đó bát quái không chỉ gắn với đồ thái cực mà còn gắn với Hà đồ, Lạc thư. Mối liên hệ giữa quái khí, Hà đồ và thuyết cửu cung được dồn lại trong bát phong cửu cung của Hoàng đế nội kinh, thêm nền thiên văn là sự vận hành của sao Bắc Đẩu, rồi ứng dụng vào y học, có ý nghĩa hướng dẫn nhất định cho việc dự báo khí tượng và chữa bệnh. Ba giai đoạn ấy, tác giả nói, ảnh hưởng sâu đến Dịch học tượng số và triết học đời sau.

Quái khí và hai mươi bốn tiết khí

Bốn quẻ, mỗi quẻ sáu hào, mỗi hào giữ một tiết: một năm tròn đầy hai mươi bốn bước chân.

Từ thời Hán, quái khí đã được các nhà Dịch học ghép với hai mươi bốn tiết khí để làm phong phú phép làm lịch cổ của Trung Hoa. Hai mươi bốn tiết khí dựa theo vị trí của mặt trời trên hoàng đạo, thực ra là vị trí trái đất quay quanh mặt trời, chia một năm thành hai mươi bốn đoạn: lập xuân, vũ thủy, kinh trập, xuân phân, thanh minh, cốc vũ, lập hạ, tiểu mãn, mang chủng, hạ chí, tiểu thử, đại thử, lập thu, xử thử, bạch lộ, thu phân, hàn lộ, sương giáng, lập đông, tiểu tuyết, đại tuyết, đông chí, tiểu hàn, đại hàn.

Những ghi chép sớm về tiết

Tiết khí có nguồn gốc rất xa, vì từ Kinh Dịch đã có phân tích sự biến đổi khí hậu và thiên tượng, như sáu hào của con rồng ở Càn ghi lại sự đổi vị trí của chòm sao rồng gồm bảy sao. Đó là ghi chép từ thời Ân Chu. Kinh Thi cũng có các câu về tiết, như tháng bảy sao Hỏa trôi xuống, tháng tư cỏ yêu trổ hoa, tháng năm ve kêu. Bài thơ ấy, qua việc miêu tả khí hậu và việc nhà nông, phản ánh được sự đổi tiết trong một năm, và là ghi chép sớm nhất về tiết ở Trung Hoa.

Sau đó Lễ ký, thiên Nguyệt lệnh, ghi cụ thể hơn. Tháng đầu xuân, mặt trời ở sao Doanh Thất, buổi tối sao Sâm giữa trời, buổi sáng sao Vĩ giữa trời, gió đông làm tan băng, côn trùng thức, cá nổi lên băng, rái cá tế cá, nhạn về, rồi lập xuân. Kể ra các tiết lập xuân, lập hạ, lập thu, lập đông và bạch lộ, tiểu thử, sương giáng đã được nhắc tới. Lã thị xuân thu của Lã Bất Vi đời Tần dùng mười hai kỷ, chia thành mạnh xuân, trọng xuân, quý xuân, mạnh hạ, trọng hạ, quý hạ, mạnh thu, trọng thu, quý thu, mạnh đông, trọng đông, quý đông, và còn dẫn các lời của Nguyệt lệnh để phân tích tiết. Ví dụ tháng trọng xuân có mưa đầu mùa, hoa đào hoa lý nở, chim hoàng oanh hót. Tháng quý xuân sinh khí đang thịnh, dương khí tỏa ra. Tháng trọng hạ có tiết tiểu thử đến, bọ ngựa sinh ra, chim bắt đầu hót. Tháng quý hạ đất ẩm, mưa lớn đúng thời. Tháng trọng thu gió mát nổi lên, chim hậu bay đến, chim én về. Tháng quý thu sương bắt đầu xuống. Tháng trọng đông băng dày thêm, đất bắt đầu nứt. Tháng quý đông băng đang thịnh, nước đầm xuống thấp, số sắp hết, năm sắp đổi mới.

Hoài Nam tử, thiên Thiên văn huấn, bàn về hai mươi bốn tiết bằng cách theo cán sao Bắc Đẩu chỉ hướng. Sách nói cứ cách bốn mươi lăm ngày lại đổi một hướng gió trong tám hướng, đông chí thì cán sao Bắc Đẩu ở phương bắc, âm khí đến cực mà dương khí nảy mầm. Hạ chí thì cán sao ở phương nam, dương khí cực mà âm khí nảy mầm. Rồi cứ thêm mười lăm ngày thì sang tiết kế tiếp: tiểu hàn, đại hàn, rồi vũ thủy, kinh trập, rồi xuân phân sấm bắt đầu vang. Thêm mười lăm ngày tới thanh minh, rồi cốc vũ, rồi bốn mươi lăm ngày thì lập hạ, rồi tiểu mãn, mang chủng, đến ngọ thì dương khí cực nên mới có bốn mươi sáu ngày rồi hạ chí. Sau đó tiểu thử, đại thử, lập thu, xử thử, bạch lộ, thu phân, hàn lộ, sương giáng, lập đông, tiểu tuyết, đại tuyết, và đến chỗ tý thì dương sinh ở tý, âm sinh ở ngọ, rồi lại đến đông chí khi chim thước bắt đầu làm tổ. Tác giả kết luận các nhà Dịch học thời Hán đã phối quái khí với hai mươi bốn tiết để phân tích quy luật tăng giảm bốn mùa trong một năm.

Tứ chính quái và mười hai tháng

Phương pháp ấy do Mạnh Hỷ sáng lập, gồm tứ chính quái là Khảm, Chấn, Ly, Đoài, mười hai quẻ tiêu tức, sáu mươi quẻ, và hai mươi bốn tiết tương ứng. Kinh Phòng lại phối bát quái và sáu mươi bốn quẻ với chúng.

Ở thuyết tứ chính quái, bốn quẻ Khảm, Chấn, Ly, Đoài tương ứng với hai mươi bốn tiết. Mỗi quẻ có sáu hào, mỗi hào ứng một tiết, một năm vừa đủ hai mươi bốn tiết. Quẻ Khảm gồm các tiết từ đông chí qua tiểu hàn, đại hàn, lập xuân, vũ thủy đến kinh trập. Quẻ Chấn gồm xuân phân, thanh minh, cốc vũ, lập hạ, tiểu mãn, mang chủng. Quẻ Ly gồm hạ chí, tiểu thử, đại thử, lập thu, xử thử, bạch lộ. Quẻ Đoài gồm thu phân, hàn lộ, sương giáng, lập đông, tiểu tuyết, đại tuyết.

Ở thuyết quẻ khí của mười hai tháng, mười hai quẻ tiêu tức ứng với mười hai tháng, phối với hai mươi bốn tiết, mỗi quẻ ứng hai khí. Quẻ Phục ứng đông chí và tiểu hàn, quẻ Lâm ứng đại hàn và lập xuân, quẻ Thái ứng vũ thủy và kinh trập, quẻ Đại tráng ứng xuân phân và thanh minh, quẻ Quải ứng cốc vũ và lập hạ, quẻ Càn ứng tiểu mãn và mang chủng. Rồi quẻ Cấu ứng hạ chí và tiểu thử, quẻ Độn ứng đại thử và lập thu, quẻ Bĩ ứng xử thử và bạch lộ, quẻ Quan ứng thu phân và hàn lộ, quẻ Bác ứng sương giáng và lập đông, quẻ Khôn ứng tiểu tuyết và đại tuyết.

Tác giả nhắc thêm rằng thuyết quẻ khí của mười hai tháng, tức mười hai quẻ tiêu tức, đã được Chu dịch tham đồng khế dùng vào việc tu luyện khí của thân người, ảnh hưởng sâu sắc đến nội đan của Đạo gia và đến khí công của đời sau.

Nguồn: Kinh điển văn hóa 5000 năm Trung Hoa - Tập 1 (Dương Lực), thuật lại có lược bớt.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Khuyên Thiện