Bài tổng quan
Huyệt xấu xí, đại long ngàn dặm và điềm báo hoàng cung
Tổ tông tử tế sinh con cháu xấu xí, chỉ ông bà thông minh mới dám gả con gái xinh đẹp cho nhà ấy. Long tốt cũng thường tạo ra huyệt dị hình, người thiếu mắt nhìn đi qua mà bỏ mất. Một dòng đại long dài hàng ngàn dặm có thể dựng cả kinh đô, nhưng nhìn từ đâu mới thấy huyệt thật?
Mục lục · 12 phần
- 01Nước sông Kinh, sông Vị và chiếc cầu không bị cuốn trôi
- 02Loan phụng, tổ yến, hồ lô, quan tài, xe và nón lá
- 03Cờ, thương, đao, kim và cách xem thủy khẩu
- 04Lên cao mới thấy hình rừng, lùi xa mới thấy lâu đài
- 05Con cháu xấu xí của dòng tích thiện
- 06Nước vào núi, rắn ở gò, Long Hổ ngang tài
- 07Hoa, liễu, sương và rồng, rắn: huyệt nằm ở đâu trong hình vật
- 08Đừng chỉ nhìn phần đầu đẹp, đừng bỏ chỗ dốc nghiêng
- 09Đại long dài ngàn dặm và núi tổ tông
- 10Chân long trong gió mây, sóng lớn và chốn triều đình
- 11Minh đường rộng, hơi thở của người và mạch ở bụng, ở tay
- 12Nước từ cung Ngọ và điềm báo nơi hoàng cung
Nước sông Kinh, sông Vị và chiếc cầu không bị cuốn trôi
Trên mặt đất có hai loại nước, một trong một đục như sông Kinh và sông Vị, cần quan sát kỹ để chọn dòng nước trong.
Trên cành đào đỏ lại nở hoa đào xanh: ý nói long có biến đổi. Nước lớn có thể làm sạt núi nhưng chiếc cầu bắc qua sông không bị cuốn trôi; gió dữ quật gãy cây to nhưng cành lá sẽ mọc lại. Sườn núi bị lũ làm sạt lở, núi tuy bị xung phá nhưng thạch cốt chỗ quá mạch vẫn còn nguyên. Long mạch bền như thân cây gãy rồi lại nảy chồi tươi tốt.
Loan phụng, tổ yến, hồ lô, quan tài, xe và nón lá
Mỗi hình vật ngầm một cách đặt huyệt, và mỗi cách đặt có thứ bậc quý tiện riêng.
Hồng loan không ngủ trong tổ, chim yến lại sinh trong tổ. Núi hình loan phụng phần nhiều kết huyệt ở nơi thoáng đãng, còn huyệt hình tổ yến thì quý ở chỗ có tổ tương ứng.
Tám cái hồ lô có thể tính thông thân thuật, ba cái mộc tiêu có thể biết huyền diệu và chân giả; có quan tài tất có thể phân rõ sáu đường. Sáu loại quan tài ấy là thượng thủy quan, hạ thủy quan, đình quan, cải quan, tích mãi quan, mỗi loại cát hung khác nhau. Huyệt hình xe thừa nhất định có ba bánh: bánh hậu ngự, bánh bàn, bánh trị xa, mỗi bánh phân quý tiện. Nón lá cũng có năm hình thể: phương sơn lạp, nhai trướng lạp, khất cái lạp, nhiêu phát lạp và hình thích lạp.
Cờ, thương, đao, kim và cách xem thủy khẩu
Cờ có bốn loại nhưng thực chất chỉ là một: môn kỳ, hợp kỳ, tướng quân kỳ, tặc kỳ. Thương đao có đến mười loại, khó kể hết và cũng khó tả cho rõ. Có hung có cát: thương thì có mã thương của tướng quân, thuận thương, nghịch thương. Dáng nhọn như bút thì có bút trạng nguyên, bút học sĩ, bút tể tướng, bút họa công. Đao thì có nha đao, mã đao, đao pháp trường. Kim thì có xuyên châm, thích diện châm. Tất cả phải phân biệt kỹ mới được.
Cổng lớn mở rộng thì không thể phong tỏa, thủy khẩu khép chặt thì phải khép cho thật kín: đó là chuyện của minh đường và thủy khẩu. Khách thích ngồi đối diện chủ. Ở thủy khẩu có núi lớn như mãnh hổ thì long khí trong huyệt nhất định rất chính trực, như khách đã đứng ngoài cửa thì chủ nhà không cần bước ra. Cá tham ăn dưới đáy nước thèm mồi câu trên núi: ở thủy khẩu có từng đàn cá bơi ngược dòng, vì trong núi có đất quý.
Nước chảy loạn trên ruộng đồng thì tìm chỗ có cầu mà qua; dưới sông có núi đi qua, đứng ở bờ đã có thể biết. Nếu long đi từ ruộng đồng ra thì kênh rạch ngang dọc rất khó nhận biết, phải tìm chỗ long chạy qua. Cách bờ nhìn lại thấy giống chiếc cầu bắc ngang thì nhất định là chỗ long quá mạch. Nếu long chui xuống sông mà vượt qua thì cách bờ sẽ thấy gò đất nhô cao, chứng tỏ chỗ quá mạch của long.
Lên cao mới thấy hình rừng, lùi xa mới thấy lâu đài
Cây cối trong rừng phải nhìn từ trước núi. Muốn thấy cây cối trong thôn xóm thì phải lên núi mới phân biệt được địa hình dài ngắn, thẳng cong. Khí vào rừng, cây mọc loạn, dĩ nhiên rất khó chọn. Cho nên muốn xem thế núi, tất phải lên cao mới thấy rõ hình dạng chân thực và chính huyệt của long.
Lâu đài trên bờ sông có thể nhìn thấy từ dưới đáy nước. Đứng gần thì khó thấy, lùi ra xa lại nhìn rõ bóng lâu đài in dưới nước. Nơi long mạch chân thực xúc kết thành chính huyệt, dòng nước nhất định giao hội ở đó, nên cách xem đất là trước hết xem tình ý của nước. Nếu có nước giao hội uốn quanh thì nơi ấy nhất định có thành đẹp, giống như nhìn bóng in dưới nước mà biết có lâu đài trên bờ.
Trong núi có tiếng vọng lại thì người đi đường nên quay đầu. Đứng ngoài nói to mà trong núi có hồi âm thì khỏi cần vào, nên quay ra, vì khí mạch không tụ, thân núi rỗng nên mới có tiếng dội. Núi như vậy cao và âm u, hoặc dây leo chằng chịt, không thấy nắng, chỉ thấy ánh trăng sao, không nên hạ huyệt. Trong nước có tiếng kêu bi thương thì ma quỷ xuất hiện: trong ngoài huyệt đều khuyết, nước chảy qua mà có tiếng bi thương thì thi thể không yên ở đó, nhà tất gặp họa. Đó là tình huống trước minh đường nghe tiếng suối ai oán.
Con cháu xấu xí của dòng tích thiện
Có một cách ví để nói về huyệt xấu xí. Tổ tông tử tế, linh lợi mà sinh con cháu ngoại hình xấu xí, thì chỉ người thông minh mới đem con gái xinh đẹp của mình gả cho người xấu xí.
Ý nói long tốt phần lớn sinh ra huyệt xấu xí, dị hình, khiến người ta khó nhận ra. Chỉ có bậc nhân sĩ tài năng mới biết chân huyệt của long, nơi khí giao hội, nên không ngần ngại dùng huyệt xấu mà hưởng phúc thâm hậu. Cũng như con trai nhà kia, tổ tông rất tốt đẹp nhưng con cái diện mạo xấu xí, chẳng ai chịu gả con gái. Chỉ có những ông bà thông minh biết đấy là dòng họ tích thiện, nên không ngần ngại gả con cho họ để cùng hưởng phúc lộc thâm hậu.
Nước vào núi, rắn ở gò, Long Hổ ngang tài
Nước chảy vào trong núi thì long ưa thích. Minh đường như đáy chảo đọng nước thì thần long dừng lại đó mà làm huyệt. Giữa đồng ruộng gò đống thì rắn tìm đến: đất quý hình rắn nhất định có rùa, nghêu, sò triều ứng mới là huyệt hình rắn thật sự. Không có triều ứng thì chỉ là du long làm tán khí, hoặc chỉ che thủy khẩu, hoặc quấn dưới chân long, đều không thể làm huyệt. Cho nên giữa đồng ruộng phải có gò đống như trái núi nhỏ, giống rùa, nghêu, sò, chuột, nghênh bái triều ứng thì mới cắm được.
Thanh Long và Bạch Hổ nếu ngang tài ngang sức thì đấu nhau. Chuột với rắn cùng huyệt thì cũng không hợp, vì chúng không thể triều ứng với nhau.
Long có ẩn tàng hay không, trước phải hiểu rõ. Huyệt vị dù tinh diệu mấy cũng khó chỉnh tề. Mẹ dù đẹp cũng có thể sinh con gái xấu, mà con nhà danh giá thì không chọn con gái bề ngoài xấu làm vợ. Long mạch đẹp thường tạo ra huyệt kỳ dị. Người thấu hiểu long thật thì không cần huyệt khéo tạo. Phụ nữ cần đức hạnh chứ không cần sắc đẹp; người khôn chỉ hỏi đó là con nhà ai. Chỗ hay của một bộ máy đều kín đáo, không lộ liễu, mắt người phàm khó nhận ra. Nhiều khi tìm đến chân long mà không biết cắm huyệt chỗ nào, dễ bỏ qua chỗ quý. Rất ít người trên đời biết nhận ra huyệt kỳ diệu.
Hoa, liễu, sương và rồng, rắn: huyệt nằm ở đâu trong hình vật
Hình thế khuyết lệch thì khỏi cần xét, chỉ nên tìm phía dưới đường cục; thông qua đường cục mà quan sát thì sẽ thấy. Bông lúa nhỏ lép thì nhìn là biết, tức khí lực của long huyệt nhỏ yếu. Hoa thược dược xưa nay kết nụ bên trong, tức huyệt tâm hoa nằm rất sâu. Lá ngô đồng sinh quý tử: cành ngô đồng là chính long nhưng nó lại mọc trên lá. Đầu cành dương liễu có thể sinh chính tâm: cành liễu là long lệch lạc nhưng ở đầu cành lại là chính tâm.
Một chút sương rơi trên cỏ: huyệt hình thảo mộc đều nằm ở chỗ cuối cùng. Hương vị đậm đà nhất ở giữa tâm hoa: huyệt hình hoa tươi nằm ở trung tâm. Lâu đài bên sông đều in bóng dưới nước, cây trong rừng đều lan ra ruộng: ý nói hình núi, huyệt nằm ở đây mà hưởng ứng với chỗ khác. Đầu rồng nhất định ngóc lên mây, huyệt hình rồng thì đầu não nhất định ngẩng cao. Cổ rắn khó lôi ra khỏi núi: hình rắn nhất định in hình trong ruộng.
Đừng chỉ nhìn phần đầu đẹp, đừng bỏ chỗ dốc nghiêng
Muốn biết núi tổ tông tốt xấu, có thể xem chỗ chuyển biến trên tổ tông sơn, nhìn sa phong phía trước. Nếu chỉ chạy theo phần đầu đẹp dễ coi để làm huyệt thì huyệt giả thường nhô đầu đẹp. Không quan sát sự chuyển biến của tổ tông và sự hô ứng của sa phong phía trước thì huyệt giả dễ đánh lừa người.
Chỗ khai chỉ vẫn có che chắn như cũ nhưng chỗ quá mạch không có châm tuyến thì biết là giả. Hai bên huyệt có cành lá hộ long tạo nên giả huyệt; loại huyệt giả ấy có long che chắn như thật, nhưng chỗ long quá mạch không có đường kim chỉ nên biết là giả.
Người đời bàn sơn thủy rất nhiều, nhưng đa số không am hiểu, chẳng biết thế nào là long thật long giả, không biết tình huống chân long tạo huyệt. Táng sai chỗ thường vì người ta chỉ ưa nơi chính diện. Táng không đúng chân huyệt, ấy là vì người ta bỏ chỗ dốc nghiêng. Người chỉ cầu chính diện thường chỉ chọn nhầm huyệt giả ở lưng long. Huyệt thật do chân long tạo nên lại thường nằm ở chỗ dốc nghiêng, mà đa phần người ta bỏ qua. Họ đâu biết chỗ thực sự huyền diệu. Bậc thánh nhân thường chọn chỗ nghiêng lệch mà hạ huyệt, như người phụ nữ nết na nhưng không đẹp, chỉ người có phúc mới nhận ra. Một huyệt tốt không nhất thiết phải khéo léo.
Đại long dài ngàn dặm và núi tổ tông
Chỉ cần ngọn nguồn của long mạch tốt là được, như nhà kia chỉ cần xem ông bà có tốt không. Cho nên chỉ cần xem tổ tông sơn tốt là đủ. Huyệt đất đẹp phần lớn hình thành huyệt xấu xí khó coi, điều này khó giải thích với người đời. Nếu mọi huyệt tốt đều lộ rõ thì bí mật thiên cơ chẳng bị tiết lộ hết ư? Đại long trải dài chân tay, hậu sinh cách xa tổ tông sơn hàng nghìn dặm, chỗ huyền diệu ẩn giấu có khi cách xa mấy trăm dặm.
Một khúc quành, một nhánh rẽ của đại long đều dài rộng, đi cả ngày chưa hết. Lá nhỏ của đại long có thể làm châu, phủ, huyện. Trên đại can, chi lớn có thể dựng kinh đô. Phú quý của đại can lớn lao khó nói hết. Chỉ cần có một tòa Hỏa tinh ứng thì ngọn lửa của tám mươi dặm đất cũng bốc lên trời. Có khi trên dải đất bằng chỉ có vài gian nhà. Có khi như muôn ngựa từ trên cao phi xuống, có lúc như ngàn binh sĩ phất cờ gióng trống mà tới. Hình núi như lầu vàng điện ngọc thì chỗ cao quý nằm ở chiếc mũ miện. Người tháp tùng, tướng quân với cấm vệ đều là vệ sĩ, khó giải thích rõ. Không dễ lần theo long mạch, vì có chỗ long đứt đoạn.
Đáy nước lòng sông đều có đá làm dấu vượt qua, tức chỗ long xuyên tâm qua nước có đá ngầm. Đồng ruộng mênh mông dài tám mươi dặm, đi bộ khó lĩnh hội chỗ huyền diệu, nghĩa là rất khó tìm long mạch trên cánh đồng. Huyệt phần lớn nằm ở đài hoa có nhiều lá bao quanh như hoa sen, không dễ thấy như lá cọ. Huyệt tâm hoa hiện ra từ khe hiệp cốc, có thể nhìn thấy ở chỗ quá mạch. Mỹ nữ ngồi dựa sau xe: đại long mạch có hình xe kiệu và thị nữ.
Chân long trong gió mây, sóng lớn và chốn triều đình
Ánh mặt trời chiếu từ bên tả, ánh trăng rọi từ bên hữu, tức nhật nguyệt chiếu vào hai bên long mạch. Trong cảnh mây gió đổi thay, nhìn quạ bay mà tìm long mạch, vì chân long như con quạ lửa giữa gió mây. Trong sóng lớn thấy cá chép nhào lộn: chân long nơi đất bằng như có chỗ cá chép lộn mình trong sóng lớn sông biển.
Vạn vũ điệu giữa triều đình, tức quần sơn như các vũ công đang múa. Lại như trăm quan đứng trong đại điện thâm nghiêm. Vạn vũ điệu là quần sơn hiện ra nhưng tán loạn, còn trăm quan là quần sơn có hình thế chỉnh tề. Cung điện thâm nghiêm có chín tầng cửa hộ vệ, bên trong chỉ có một người dung mạo đặc biệt: người ấy ngụ ý huyệt. Qua châu vượt huyện, lộ trình long còn xa, tức long từ rất xa đến. Quần sơn chầu bày ra đâu ra đấy, như quan viên tháp tùng đều đã chuẩn bị đủ.
Minh đường rộng, hơi thở của người và mạch ở bụng, ở tay
Minh đường dù hẹp cũng chu vi hai mươi dặm, rộng thì chứa được muôn ngựa mà trông như đàn kiến bò bên trong. Minh đường rộng như thế thì thử hỏi chỗ nào mới xác định được chân huyệt, nặng nhẹ cao thấp thật khó chọn.
Hơi thở ra từ mũi đổi theo từng lúc. Một ngày đêm chia mười hai giờ, hơi thở người đổi theo giờ, nên cần xét kỹ chỗ chân khí tụ hợp. Mạch máu ở bụng nối liền mạch máu ở tay: ngụ ý phải làm cho mạch trong huyệt nối liền với mạch hai bên tả hữu. Trăng mọc phía tây thì trời phía đông sáng, sắc mây bờ bắc hô ứng với sinh khí bờ nam: đó là cái khó của việc kết huyệt.
Nhờ ngũ hành mà quyết định nông sâu của huyệt, rồi dựa vào con số ngũ hành mà xác định kích thước huyệt. Trước hết xác định hình dạng ngũ tinh, sau đó dùng số ngũ hành để quyết định nông sâu và kích thước. Nguyệt hoa không được tiết lộ bí mật nơi ngủ, đáy quan tài phải sát đất. Nguyệt hoa là chân khí của nơi nằm. Vua chúa khi chôn thường có quan trong quách ngoài, theo lối đó thì không nối được địa khí, nên nói đáy quan tài phải sát đất.
Nước từ cung Ngọ và điềm báo nơi hoàng cung
Cùng một dòng nước, một hình núi mà dài ngắn khác nhau, đến vận mệnh cả triều đình cũng đổi.
Nước chảy từ cung Hỏa, tức cung Ngọ, nghe rõ tiếng chảy. Nước từ cung Ngọ ra thì như đức hạnh cao cả của minh chúa, ơn huệ trải khắp thiên hạ, không như người bình phàm. Nếu gió động cỏ mọc lại thêm sấm chớp thì con trai trưởng chủ trì việc cúng tế. Tốn là gió, Chấn là sấm, đều thuộc Mộc ở phương Đông, Chấn lại là con trưởng nên nói như vậy.
Thanh Long dài mà Bạch Hổ ngắn, cung Ly không sáng thì mẫu hậu lâm triều, thế chỗ thiên tử, tức âm khí thắng dương khí. Nếu có dáng hổ gục đầu thì chủ nhân bị coi thường; nếu có ngọn núi lẻ loi hiện ở minh đường, đầu hổ chúi xuống thì chủ nhân tuyệt tự, mỹ nhân không thể có thai. Thanh Long ngắn rụt, Bạch Hổ nghênh dài thì hoàng đế ngự giá đi tuần du xa kinh đô. Chân Bạch Hổ dài thẳng mà đầu ngắn rụt thì công chúa phải gả cho người rợ Hồ, hoặc phải gả cho Hung Nô.
Đường trong hầm mộ dài thẳng, không uốn lượn quanh co kín đáo thì hoàng hậu không sinh con trai, bị phế truất. Núi Bạch Hổ nhọn, chân duỗi dài, dưới chân hẫng hụt thì mọc cánh bay về cố hương: cũng là điềm hoàng hậu bị phế.
Sơn phong đổ nghiêng về cung Chấn thì hậu duệ ngu muội, tin dùng bọn tiểu nhân gian thần. Trăm ngọn sơn phong nham nhở tán loạn thì quân sự rối loạn. Thủy tinh xung phá Hỏa tinh ngay chỗ Không vong thì quyền thần chiếm quyền trong triều, làm loạn triều đình. Tướng quân gõ cửa phần nhiều đột nhập lối sau, nghịch thần vào kinh phần lớn mang tội phản nghịch, ngụ ý núi lộ đầu. Những điều nói đây phải giữ kín, không tiết lộ dễ dàng, chỉ cần hiểu đại ý.
Nguồn: Lưu Bá Ôn, Địa Lý Toàn Thư, tập 2.
