Bài tổng quan
Quầng thái cực, nguyên thần thủy và những hình nước trước huyệt
Nước xối thẳng vào đầu mộ thì người nhà phù thũng, nước tụ giữa thiên tâm thì đại phú đại quý. Người xưa vẽ hàng chục hình nước, từ nước ôm bao sau lưng đến nước cắt chân núi. Hình nào là phúc, hình nào là họa?
Có một thứ nước chỉ hiện ra như cái bóng: nhìn từ xa thì có, đến gần lại chẳng thấy gì, nhìn từ hai bên thì có, đứng sát trước mặt thì mất. Người xưa bảo đó là quầng thái cực bao quanh chân huyệt, và nếu cuốc xẻng xới làm tan nó thì nước tràn vào quan tài. Còn những dòng nước nhìn rõ hơn thì được chia thành hàng chục hình, mỗi hình một lời báo phúc hay họa.
Hợp khâm thủy: hai vạt áo khép lại trước huyệt
Hợp khâm thủy là dòng nước hình thành ở phía trước huyệt do hai long mạch phân ra ở trên, hợp lại ở dưới, giống như hai vạt áo trước của bộ quần áo khoác trên thân người được khép lại. Có ba chỗ nước hợp khâm có thể kết tụ: một là ở trước và sau nền huyệt; hai là gặp nhau ở Thanh Long, Bạch Hổ; ba là hội tụ tại thiếu tổ chủ sơn. Ba trường hợp ấy gọi là nội minh đường, tiểu minh đường và ngoại minh đường, hay còn gọi là thiên tụ, nhân tụ, địa tụ.
Khép lại trông như hình râu tôm, cánh ve, có chỗ dựa chắc ở phía sau, thân thiết nhau ở phía trước, có Thanh Long, Bạch Hổ hộ vệ hai bên thì là cách hợp khâm tốt nhất. Các thầy phong thủy nói hình chữ cá, chữ tam, chữ nghĩa, giống dấu chân gà, cánh ve là tốt; còn hình chữ thập tựa hai cây đao giao nhau thì đáng ngại. Người xưa còn vẽ một thức hợp khâm phần trên tròn như quả cầu, phần dưới như nước nhỏ giọt từ mái hiên, gọi là cầu trịch. Về hợp khâm thủy còn nhiều lập luận quái đản của những người không am hiểu thuật phong thủy, không cần liệt kê ra.
Quầng thái cực: cái bóng của nước quanh chân huyệt
Có thứ nước chỉ được nhận ra bằng cách không nhìn thẳng vào nó.
Chân huyệt nhất định có quầng thái cực bao quanh. Quầng ấy ẩn ẩn hiện hiện, phảng phất như có bóng nước nhưng nhìn kỹ lại chẳng có gì. Từ xa nhìn tới thì hình như có, đến gần lại chẳng thấy gì; từ hai bên nhìn thì đột nhiên có, tới sát trước mặt mà nhìn thì lại không thấy, thật khó hiểu rõ. Đó chính là thái cực vựng, tức quầng thái cực. Liêu công nói nếu dùng cuốc xẻng xới làm tiêu tán quầng thái cực thì nước trong quầng sẽ xâm nhập vào quan tài ở âm trạch. Người xưa vẽ bốn hình để so sánh: hình có phân cực là chân, hình không phân cực là giả.
Nguyên thần thủy và nước phá thiên tâm
Nguyên thần thủy là nước hợp lưu ở phía trước nền huyệt, giữa Thanh Long và Bạch Hổ; bất kể là dòng chảy hay dòng khô, đều gọi là nguyên thần. Điều tối kỵ là làm cho long khí của long mạch bị tiết lộ ra, nên hai bên nguyên thần thủy cần có sa chặn giữ thì mới cát lợi. Họ Bốc nói nếu nguyên thần thủy từ giữa tim chảy thẳng ra thì quá hung hiểm; còn thế núi ở bên ngoài bao bọc, ngăn cản thì hình thế nguyên thần thủy kiểu này là cát lợi. Người xưa vẽ bốn cách chắn: lan thủy, lan sơn, lan sa và vô lan.
Chính giữa minh đường, ở phía trước nền huyệt, gọi là thiên tâm. Nếu dòng nước xuyên qua minh đường mà chảy thẳng đi thì gọi là thủy phá thiên tâm. Nếu nước xối mạnh vào đầu mộ thì cũng gọi là thủy phá thiên tâm. Kinh thư nói nước xối thẳng vào đầu mộ thì người nhà mắc bệnh phù thũng mà chết, tuyệt tự luôn. Họ Bốc nói nước tụ ở thiên tâm, mấy ai biết đó là cách làm cho người nhà đại phú lại đại quý; nếu gia đình tuyệt tự, chẳng qua là vì bị thủy phá thiên tâm.
Suối rót trước huyệt và nước tích trữ lộc
Chân ứng thủy là nước suối rót vào phía trước nền huyệt, vừa vặn tương ứng giao hòa với long mạch tại đó. Khí thế long mạch vô cùng thịnh vượng, sau khi giao hòa ở đó, khí linh tú không tràn ra hết mà thành nước suối; điểm huyệt ở đây là cực tốt. Nước suối lớn hay nhỏ không quan trọng, chỉ cần nước trong sạch, vị ngọt là được; như vậy còn gọi là linh tuyền, chủ vinh hoa phú quý.
Lộc trữ thủy là nước dung hợp, giao hội, giống như của cải được tồn trữ, tích lũy. Ở phía trước, sau, hai bên và nền huyệt, nếu có chỗ nước hội tụ như đầm, hồ, ao thì đều gọi là có lộc trữ thủy. Có câu rằng nước tích trữ tại một nơi thì giàu sánh một nước.
Trong các loại suối, chỉ suối nào có màu trong trắng, vị ngọt và thơm, như lễ tuyền, là tối cát lợi. Các loại suối khác đều không cát lợi. Suối nước nóng, đồng tuyền, long thụ tuyền mang địa khí lạnh giá; hồng tuyền có nhiều chất kết tủa; lãnh cưỡng tuyền có địa khí yếu; một tuyền, hoàng tuyền, lậu tuyền thì sinh khí dễ nhiễm bẩn; thông tuyền, tàn tuyền thì sinh khí ít ỏi; lãnh tuyền thì sinh khí âm lạnh, mang sát khí; suối thác thì sinh khí nóng ấm mà thê thảm. Tất cả đều không thể tụ kết dung nạp, không nên đặt huyệt mộ ở những nơi này.
Những hình nước trước huyệt: thế nào là cát, thế nào là hung
Nước ở trước nền huyệt có nhiều hình thế, cục diện khác nhau, dẫn đến cát hung, họa phúc cũng khác hẳn. Người xưa vẽ ba mươi mốt hình để phân biệt, trong đó có những hình sau.
Triều hoài thủy là nước đến trước mặt triều bái. Dương công nói nước lớn mênh mông đến trước mặt triều bái thì giống như dâng mâm cỗ lên bàn thờ cúng tế. Tử Kế Thiện nói nước chảy ngược một ngày mới có thể giàu lớn; nước chảy đến chỉ cần có một muỗng cũng đủ cứu cảnh nghèo khổ.
Vệ thân thủy là long mạch kỳ dị, đột nhiên giữa hồ nước lại nhô lên một khối đất cát, nước tích tụ quanh đó thành hình mộ huyệt. Dân gian có câu vầng trăng chìm dưới sông, hà bá quẫy mình gây sóng lớn, như dâng đài sen lên cao khỏi mặt nước; hình dạng như vậy sinh đại phú gia giàu nhất quận, quan vận hanh thông, làm đến công hầu khanh tướng.
Tụ diện thủy là nhiều dòng chảy kết tụ ở trước nền huyệt. Sách "Tuyết Tâm Phú" nói nước tụ ở thiên tâm, ai không biết nhà này sẽ lập tức phú quý? Thang củ thủy là thế nước như cái bao, cái túi vải đựng nước trước huyệt mộ; nước sâu lắng, chảy từ từ, ý là nhiều dòng kết ở trước huyệt, gia đình nhất định dư dả tiền của, nhân đinh hưng vượng, phát đạt. Củng bối thủy là nước chảy bao sau lưng, tức Huyền Vũ, huyệt mộ; "Tuyết Tâm Phú" nói gia đình phát phúc lâu dài, nhất định nhờ có nước ôm bao Huyền Vũ.
Dung trữ thủy là nước tụ sâu và chậm, luẩn quẩn một chỗ, không rõ cuối cùng nước chảy đến hay chảy đi. "Tuyết Tâm Phú" nói sa sơn trước huyệt nếu rối loạn, không rõ đầu mối thì chỉ có tìm ao hồ tích nước. Yêu đới thủy, tức nước như dây lưng, là nước bao vòng lấy huyệt như ôm. Họ Bốc nói nước đến uốn lượn mà không loạn thì long khí được bảo toàn; thế nước này đại phú đại quý. Dân gian nói nước như đai bạch ngọc thì làm quan nhất định thanh vận đắc lộ.
Thương bảng thủy là nước ở ruộng đến triều bái. Đổng công nói không lao xông xộc, không tràn ngang, không xối thẳng, chỉ có nước đồng ruộng là có thể hơn nước biển. Hồi lưu thủy là dòng chảy gần như chảy vòng tròn. Sách "Táng Thư" nói nước đến thong thả, nhàn hạ, chảy vòng lại trước huyệt mộ, giống như không nỡ chảy đi. Lời quyết dân gian nói nước đọng lại trước, sau mới chảy đi từ từ rất chậm, gọi là hồi thủy.
Ám củng thủy là trước huyệt không thấy nước đến; nước ở bên ngoài sa sơn, hoặc do triều sơn bao tụ mà thành. Kinh thư nói có khi chân long hoàn toàn không có dòng nước nhỏ chảy tới, chỉ cần xem triều sơn bảo hộ ở gần, còn nước chầu thì ở mãi bên ngoài án sơn mà ngấm ngầm tuần hoàn. Nhập khẩu thủy là nước chảy đến minh đường rồi hồi lưu, được sa sơn thu hồi. Ngạn ngữ nói triều thủy cần được hấp thu, án sơn cần được nhìn thấy.
Minh hà thủy là nước khi chảy vào ruộng, đất trũng hoặc khe đá thì nhỏ giọt tí tách, nghe rõ thành tiếng. Họ Bốc nói nước đến nhỏ giọt, thanh âm nghe rõ như tiếng chim là cát lợi. Sách "Tử Vi" nói có loại nước chảy tí tách nghe như tiếng gõ trống. Cửu khúc thủy là nước đến, nước đi uốn éo quanh co. Họ Bốc nói cửu khúc thủy chảy đến minh đường thì gia đình có người làm tể tướng trong triều; nếu trong một năm được thăng quan đến chín lần thì nhất định nhờ cửu khúc lai thủy.
Cũng là nước, nhưng nước đổ ập xuống và nước xối thẳng vào người thì lại là cảnh khác.
Bộc diện thủy là huyệt ở dưới thấp mà thế nước ở trên cao và lớn, như áp chế huyệt. Liêu công nói nước đến có khi thế quá hung hãn, hùng dũng mà huyệt lại ở thấp thì là tướng tối hung. Xung tâm thủy là nước đến gấp gáp, chảy thẳng vào minh đường. Đào công nói nước xộc tới trước huyệt thì đời con cháu ắt đói rét, bần hàn. Xạ hiệp thủy là nước chầu xối thẳng vào hai bên sườn huyệt; xối thẳng là xạ, tràn ngang là xuyên, dòng chảy hai bên không có gì ngăn cản. Ngô công nói nước quý ở chỗ khúc khuỷu, ngoằn ngoèo, tối kỵ xối thẳng vào tim, vào bên sườn.
Quả đầu thủy là nước đến như cái mũ trùm, bọc lấy đầu, lấn sát vào sơn cước. Lời quyết nói nước lấn loát, xối thẳng, ập tới chân núi thì long mạch suy sút, đời con cháu đói rét, cô đơn.
Khiên ty thủy, nghĩa là nước dắt mũi, là thần sơn nguyên thần kéo dắt dòng nước chảy ra mà không có gì ngăn giữ; phía trước huyệt tối kỵ dòng nước bị dẫn đi như vậy. Xuyên tý thủy, tức nước xuyên cánh tay, là nước từ hai bên tả hữu huyệt chảy xuyên đi. Lời quyết nói nước hai bên xuyên sườn mà chảy xuống chỗ trũng gọi là quỷ kiếp, tối hung. Phản thân thủy là nước chảy đến trước huyệt lại quay mình đi. Họ Bốc nói nước vừa đến trước huyệt đã ngoặt mình chảy đi thì triều thủy như thế một xu cũng không đáng.
Cát cước thủy, nghĩa là nước cắt chân, là huyệt vị không có nhiều sinh khí mà nước đến lại vỗ vào chân núi. Lời quyết nói nước chầu hai bên cắt sơn cước thì gia tài không vượng, nhân đinh chẳng hưng. Lậu tai thủy là hai bên huyệt vị có hai lỗ, nước từ trong lỗ rỉ ra không ngừng. Thủy pháp nói lậu tai thủy không giống nước chầu; nó đọng kết tạp chất, không cho chảy đi, nên nước rỉ ra trông trong vắt và có vị ngọt nhưng không mát. Lâm đầu thủy là phía trên huyệt không có long mạch mà nước xối thẳng vào đầu huyệt mộ. Kinh thư nói nước xối vào đầu mộ thì người nhà sẽ mắc bệnh phù thũng mà chết.
Nguồn: Lưu Bá Ôn, Địa Lý Toàn Thư, tập 1.
