Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Đạo Gia

Bài tổng quan

Lõm lồi, ngửa sấp: cách nhận ra Âm Dương trên thế đất

Đạo Học - Đạo Gia06/10/202617 phút đọc2 lượt đọc
Lõm lồi, ngửa sấp: cách nhận ra Âm Dương trên thế đất

Hai thầy địa lý cùng đứng trước một gò đất nhỏ: một người quả quyết đó là Âm, người kia chắc mẩm đó là Dương, và cả hai đều dẫn cổ thư để bênh vực mình. Chuyện ai đúng ai sai từng khiến cả một dòng truyền thừa phải quay lại soi nguồn gốc của chính nó. Vậy rốt cuộc bàn tay ngửa hay bàn tay úp mới là Dương?


Đạo lý Âm Dương trong địa lý bắt nguồn từ Hà đồ và Lạc thư: số lẻ thuộc Dương, số chẵn thuộc Âm, dùng các con số ấy để định vị trí. Dương sinh từ số lẻ, Âm thành từ số chẵn, đạo lý ấy đã thành định luật, không còn gì để hoài nghi. Nhưng khi đứng trước một thế đất cụ thể, muốn phân Âm Dương người ta phải dựa vào một dấu hiệu nhìn thấy được, đó là thế ngửa và thế sấp của sự vật.

Ba triều đại đầu tiên, việc bàn về Âm Dương ra sao nay không còn ai biết rõ. Từ Tần, Hán trở đi mới thấy nhiều cổ thư lần lượt xuất hiện: Chu Tiên Đào có "Sưu Sơn Ký", Thanh Ô đời Hán có "Táng Kinh", Hoàng Thạch công có "Thanh Nang Chính Kinh", rồi đến Đông Tấn thì Trịnh Cảnh Thuần có "Táng Thư" và Đào công có "Tróc Mạch Phú". Năm bộ cổ thư ấy thuộc ba triều đại khác nhau, đều nói đến Âm Dương, nhưng đều chưa phân tích đến tận cùng lẽ biến hóa của nó. Phải đợi đến đời Đường cực thịnh, khi những bậc như Dương Quân Tùng, Tăng Văn Địch xuất hiện, hỏi đáp rõ ràng, chỗ khó giải nhất của lý Âm Dương mới được làm sáng. Từ đó, thư tịch nở rộ tới mấy chục nhà, thi, ca, từ, phú mỗi thể một vẻ nhưng cùng quy về một lý.

Một vụ nghi ngờ lớn về lý Âm Dương

Chuyện rối bắt đầu khi người ta đem so sánh quan điểm của Dương công với quan điểm trong cuốn "Tiết Thiên Cơ", được cho là của Liêu Vũ, tự Kim Tỉnh. Cuốn ấy nói Dương là động, Âm là tĩnh, tức là đảo ngược cách hiểu của Dương Quân Tùng và Tăng Văn Địch. Người đọc không biết nên nghe bên nào. Trời đất bao la, hai khí Âm Dương vận hành xảo diệu, núi sông bày ra theo trật tự rõ ràng, không thể tùy tiện đảo lộn; vậy chẳng lẽ riêng một mình Liêu công lại đi ngược cả một dòng truyền thừa?

Để làm rõ, có người tìm đọc kỹ "Hành Thực Lục" của chính Liêu công. Năm bốn mươi tuổi ông còn là một môn khách bình thường trong nhà họ Trương ở Kiền Châu, đến khi tham gia tu sửa phủ thành thì nói câu nào trúng câu ấy. Người phụ nữ họ Trương thương ông tài giỏi mà chưa được trọng dụng, bèn đem toàn bộ bí lục mà cha bà là Ngô Cảnh Loan đời Tống để lại truyền cho ông. Học xong, ông vì nghèo khó mà lên núi Kim Tỉnh tìm đất cầu phúc. Mảnh đất ấy có thể làm ông giàu lớn trong một vài năm, nhưng để quá hai mươi năm không sửa sang thì dòng họ sẽ tuyệt diệt. Từ đó danh tiếng ông nổi như cồn, người ta coi ông như bậc thánh, ngày nào cũng mời đi xem đất.

Mười tám năm, ông chọn cho họ Trương bảy mươi bốn mảnh đất quý. Đến tháng tám năm Nhâm Tý, ông xin về quê sửa lại mộ tổ vì sợ sắp hết kỳ hạn hai mươi năm, nhưng nhà họ Trương cố giữ thêm bốn năm nữa. Khi ông trở về núi Kim Tỉnh thì đại họa đã xảy ra: các con đều đã mất, chỉ còn bà vợ già, một đứa cháu nhỏ và đứa cháu ngoại họ Tạ. Ông đau buồn thành bệnh, qua đời ở tuổi sáu mươi hai. Ông học thuật này năm bốn mươi tuổi, hành nghề hai mươi hai năm và được mọi người kính trọng vì giúp được nhiều người.

Còn nguồn gốc môn thuật của ông thì rõ ràng: Liêu công học từ con gái Ngô Cảnh Loan, Ngô Cảnh Loan học từ Trần Đoàn, Trần Đoàn học từ Tăng Văn Địch, Tăng Văn Địch học từ Dương Quân Tùng. Dương Quân Tùng và Tăng Câu Kỷ vốn là bạn thân; cuối đời Đường Hi Tông, khi loạn Hoàng Sào đánh vào Trường An, hai người nhân lúc hỗn loạn đã lấy được "Quốc nội thiên cơ thư" cất trong kho Quỳnh Lâm. Đó vốn là bộ kinh do Khâu Đình Hàn, người huyện Vân Hi, Hà Đông, dâng lên triều đình. Khâu Đình Hàn từng được thần tiên truyền kinh, thông đạo Âm Dương, làm đâu trúng đó, nên thu nhận học trò và còn viết ba quyển "Lý Khí Ấn Tâm Kinh" dâng vua Đường Huyền Tông, được cất trong hộp ngọc, rương vàng như một quốc bảo. Một người học đúng dòng ấy mà lại đi dựng lý luận trái hẳn với thầy tổ, đó là điều khó tin thứ nhất.

Điều khó tin thứ hai nằm ngay trong cuốn "Tiết Thiên Cơ". Lời bạt ở cuối cuốn ấy không hề do Liêu công viết. Thuật phong thủy của Dương Quân Tùng được truyền cho Tăng Văn Địch, Tăng Văn Địch truyền cho Tiểu Tăng công, còn Liêu Vũ là đệ tử của Tiểu Tăng công. Họ chỉ truyền miệng theo kiểu xem đất cụ thể, chưa từng ghi chép thành luận thuyết. Liêu công sợ để lâu sẽ mất chân truyền nên vẽ đồ hình để lại cho cháu ngoại là Tạ Vĩnh Tích. Hai người hầu là Trần Thất và Hồ Ngũ không biết chữ, chỉ nhờ theo chân ông từ nhỏ mà nhớ được nghề, rồi cũng nổi tiếng. Đinh Ứng Tôn ở Lâm Xuyên học nghề từ Trần Thất, truyền sang một người họ Đàm, rồi Cốc Tất Hữu, Ngô Thuấn Cử, Lưu Sư Vân, Dư Chi Tôn. Dư Chi Tôn dựa vào lý luận của Cốc Tất Hữu mà viết thành lời ca, chia thành Long, Huyệt, Sa, Thủy, bát quái, giải thích khá trọn vẹn.

Dư Chi Tôn truyền cho Hoàng Xung Lý, Hoàng Xung Lý truyền cho Trình Văn Cương, rồi tới Ngô Văn. Người đứng ra hiệu đính nay là học trò của Ngô Văn. Binh lửa làm cháy hết thư tịch trong nhà, chỉ còn đúng một bản may mắn sống sót; ông vội sao chép, in ấn nên nhiều chữ nhầm, nhiều câu thiếu. Mãi đến năm Ất Tỵ mới có thời gian sửa chữa, kéo đến tháng sáu năm Đinh Mùi mới xong. Khi xem lại bài "Thiên Cơ Truyền Phái Ca" ở mặt trước cuộn thư, ông thấy bài ca nói rằng Dương công khai sáng bản phái, Tăng công nối ngọn nguồn, truyền cho họ Hoàng, họ Lệ, chỉ riêng Liêu công học được tinh hoa, và chỉ kẻ sĩ thanh nhã mới nhận được tinh hoa ấy. Một vị nho sĩ tiền bối đã ghi chú bên cạnh: Liêu công lẽ nào lại tự khoe mình được tinh hoa? Câu "Hải Đại Thanh Sĩ Dư Chi Tôn cẩn bạt" ở cuối "Lập Minh Nghi" càng làm rõ người viết cuốn ấy là Dư Chi Tôn, còn Ngô Văn chỉ là hậu bối của ông ta.

Chứng cứ thứ ba đến từ chính hậu duệ họ Liêu. Có người trực tiếp tìm đến hai người cháu đời thứ mười lăm, mười sáu của Liêu công, một người tên Cấn Phong, một người tên Kế Mai. Nhà họ còn giữ những bản gia truyền về thuật Âm Dương phong thủy, đều khớp với thuyết của Dương công mà khác hẳn "Tiết Thiên Cơ". Trong gia truyền ấy còn có cả phần Lộc Tồn, Văn Khúc chia thành sinh tử, nội kiếp, ngoại kiếp, luận cát hung đúng như Tăng công truyền lại, và không có một lời nào nhắc đến "Tiết Thiên Cơ". Thiên hạ làm gì có chuyện hậu duệ đi ngược hẳn với tổ tiên? Vì thế, cuốn "Tiết Thiên Cơ" bị xem là ngụy thư, và lý luận Âm Dương của Dương, Tăng, Lưu, Tạ mới là chỗ nên dựa vào. Một chữ nhầm hôm nay có thể dẫn đến muôn vạn nhầm lẫn cho đời sau, nên cần trình bày lại cho rõ nghĩa thực của lẽ biến hóa Âm Dương.

Hình và khí: lõm là Dương, lồi là Âm

Tăng công hỏi: Âm là gì, Dương là gì? Dương công đáp rằng hai chữ ấy là cốt lõi của phong thủy, do Hình và Khí tạo hóa mà thành. Hình dùng để biểu hiện Khí, Khí dựa vào tượng mà thành Hình. Khi Hình và Khí đã phân minh thì mới khảo sát được biến hóa bên trong. Khí Dương có hình lõm, khí Âm có hình lồi. Chỗ nào lõm như oa, như kiềm là Dương; chỗ nào đầy, nổi, như đột, như nhũ là Âm.

Từ đó có quy tắc nền: Dương long đến thì Âm thụ huyệt, Âm long đến thì Dương thụ huyệt. "Lai" nghĩa là từ trên phủ xuống; "thụ" nghĩa là ngẩng lên đón. Hỏi thế nào là Âm lai Dương thụ, câu đáp là: mạch đến có sống lưng nổi lên (tích), vào huyệt lại có chỗ lõm (oa). Hỏi Dương lai Âm thụ, câu đáp là: thế mạch đến tương đối hòa hoãn, nơi vào huyệt có chỗ nổi (đột).

Tích là âm, ngưỡng là dương; thế đến như bàn tay ngửa là Dương, như bàn tay úp là Âm.

Mạnh yếu, cương nhu: tiểu nhân và quân tử trong thế đất

Lưu Đông Giang trong "Chí Bảo Kinh" dạy phải phân biệt cường và nhược. Mạch cường là thế đến thuần Âm, nhìn như mũi kiếm, sống kiếm, khí thế cương mãnh, lộ hết ra ngoài không giấu giếm và không có ý tiếp nhận ai, giống tính kẻ tiểu nhân. Mạch nhược là thế đến thuần Dương, mềm mỏng như không chịu nổi sức, tình thế ẩn giấu chứ không phô bày, chỉ có ý đón nhận chứ không hung hăng, giống phẩm cách bậc quân tử. Cũng trong bài ấy có một hình ảnh dễ nhớ: thế đến như bàn tay đặt ngửa là Dương, như bàn tay úp xuống là Âm.

Cũng bài kinh ấy còn dặn khi xem huyệt phải tách riêng hai việc: Âm Dương của thế mạch lúc đến và Âm Dương của chỗ huyệt kết. Khí thế Âm cương mãnh, mạch đến gấp gáp, từ dưới sinh lên trên, gọi là thiên khí giáng xuống. Khí thế Dương nhu nhược, như bàn tay ngửa, như vật tròn trầm xuống, từ dưới sinh lên, gọi là địa khí đi lên.

Tạ Giác Trai trong "Đáo Trượng Thi" nói rõ hơn. Âm từ trời xuống, mạch thế đâm thẳng, biến hóa sâu xa trong lúc tăng hay giảm; nơi khí giao tiếp giống như thân kiếm lộ ra, như nụ hoa hay cành cây vươn thẳng, đều là Âm. Sống kiếm thuần Âm như một tép hành hay một con tôm cong. Dương khí thì sinh từ dưới lòng đất mà lớn lên, hướng từ dưới lên mới là chân hình; dạng thì lõm, dạng thì ngửa, nhẹ nặng mỗi nơi một khác. Nếu thuần Dương thì khí mạch ẩn tàng, thúc đẩy nguyên khí tăng lên; dù có kết thành nhũ hay chu cũng rất trầm tĩnh và nhỏ bé. Đạo lý nghênh đón và thừa nhận nhất định phải làm rõ.

Hai chữ Âm Dương rất khó rõ, mấy ai hay cái tinh của tạo hóa trong đó. Hình nhũ lồi của Âm giống hình tượng sinh dưỡng của nam, hình oa lõm của Dương giống hình tượng sinh dưỡng của nữ. Nếu hình giống như của nam thì không được làm tổn thương phần đầu, nếu giống như của nữ thì không được làm hỏng hai bờ. Cương với Âm vốn là một lý, sai một phân là nguy hiểm; Dương thì nhu nhược, thấy Dương mà lại giấu trong nhược thì sẽ thoát khí. Vì thế phải nhớ: nghênh hợp, giao tiếp mới là hướng cát.

Thai và phục, khai và hợp

Dương Mậu Thúc trong "Thai Phục Luận" ví thai và phục như một cặp thư hùng song long. Thai sinh trước, hòa hợp với Dương mà thành thư, tinh thần soi lên trên. Phục sinh sau, hòa hợp với Âm mà thành hùng, tinh thần soi xuống dưới. Thai và phục trước sau chiếu ứng, thần khí hòa nhau, dòng nước bao quanh đẹp đẽ, sự thai nghén bên trong thành tựu. Nghênh lên cao là Dương, phủ xuống thấp là Âm; hai thứ tinh thần ấy giá trị ngàn vàng.

Lưu Đôn Tố trong "Kim Hàm Phú" nói Âm cương, Dương nhược; nhược gần cương mà sinh vạn vật, vì tính Dương mềm, tính Âm cứng, cứng gần mềm mới hóa thành sinh khí. Ông còn viết: Dương lấy Âm làm bản tính, Âm lấy Dương làm hình thể; chủ của động là tĩnh, chủ của tĩnh là thể. Ở trên trời Dương vận động, Âm đứng yên. Ở dưới đất thì ngược lại, Dương yên và Âm động. Bản tính nhờ có hình thể mà tĩnh, hình thể nhờ có bản tính mà động.

Đồ Mục Đường trong "Phát Vi Luận" phân định thật rõ: nếu thế đất có thể thụ huyệt mà giống oa, kiềm, hoặc mở rộng ra, thì tinh khí phát ra ngoài, ấy là Dương. Nếu giống nhũ, phủ, đột, tinh khí đọng lại bên trong, ấy là Âm. Nhưng trong oa mà có đột thì gọi là Dương lai Âm thụ; ở đầu nhũ mà có oa thì gọi là Âm lai Dương thụ.

Tư Mã Đà dùng hình ảnh cây cối: cây nảy mầm, đâm chồi, ra lá là khí đang vận hành bên trong, giống như long đang hành. Rồi đơm hoa kết trái là khí ngừng, giống như huyệt đã kết. Nụ hoa nở thành đóa chính là khí tán phát ra ngoài, đó là tính Dương của oa và kiềm; trái chín rụng xuống là khí đọng lại bên trong, đó là tính Âm của nhũ và đột. Đạt Tảng dùng khái niệm khai và hợp: khai là oa và kiềm, hợp là nhũ và đột. Hình thế mở thì Dương phát tán, khí nổi lên nên thuộc Dương; hình thế khép thì Âm tích tụ, khí trầm uất nên thuộc Âm. Khí Dương lớp mỏng, dễ dẫn dắt, nên khép lại để giữ nó; khí Âm lớp dày, dễ khai thông, nên mở nó ra mà phát tán.

Có người nhận thấy hai bài luận ấy tưởng mâu thuẫn: "Phát Vi" xếp phủ thuộc Âm và trầm thuộc Dương, còn Đạt Tảng lại xếp ngược. Nhưng nhìn kỹ thì mỗi bên dựa vào một căn cứ khác. "Phát Vi" xét theo sự ẩn tàng hay hiển lộ của mạch: Âm mạch có sống lưng, hình chất nổi; Dương mạch bằng phẳng, hình chất trầm. Đạt Tảng xét theo sự thăng giáng của khí: nhũ Âm phủ xuống, khí đi từ trên xuống nên hình nổi mà khí trầm; oa Dương ngửa lên, khí đi từ dưới lên nên hình trầm mà khí nổi. Hai quan điểm thực ra tương đồng.

Nhu thắng cương, cương chế nhu: cách đặt huyệt

Diệp Thất Tiên đưa một ví dụ: Âm điệp giống thân người nam, sinh ra thuộc Dương, chỉ riêng nơi sinh dưỡng thuộc Âm, tinh khí phát tán ra ngoài, nên với nhũ và đột có hình cầu không được làm thương tổn. Dương điệp giống thân người nữ, sinh ra thuộc Âm, chỉ nơi sinh nở thuộc Dương, hình thế ẩn tàng, khí đọng bên trong; nên oa và kiềm phải thu vào trong mới có được khí trung hòa. Một câu quyết khác nói: bàn tay ngửa là Dương, khí ngưng kết ở trên mà tiêu tán ở dưới; bàn tay úp là Âm, khí tiêu tán ở trên mà kết tụ ở dưới. Người đi xem đất nhiều năm thấy oa và yêm nhiều thì lấy làm Thiên huyệt, nhũ và đột nhiều thì lấy làm Địa huyệt, và nhận thấy rất nhiều ứng nghiệm.

"Nhất Lạp Túc" nói khi khí Dương đến thì như bàn tay ngửa, khi khí Âm giáng thì như sống kiếm. Khi cương tới thì nhu có thể chế nó, khi nhu tới thì cương cũng có thể chế nó. Lúc khí dồi dào thì không thể không dung nạp; lúc khí thiếu hụt thì dù ở gần cũng không đạt được. Khí vận hành, không chậm, không mau. Câu quyết ghi nhớ: khí thuần Âm thì thế đến như sống kiếm, bản tính cương mãnh; khí thuần Dương thì thế đến như bàn tay ngửa, bản tính nhu nhược.

"Long Cốt Kinh" dặn táng pháp phải phân rõ hoãn và cấp. Khi khí mạch từ phía sau chạy đến với thế như sống kiếm, không lay động được, thì gọi là "Cô Âm bất thành địa", một mình Âm không thành đất. Chỗ nào tình cờ có nơi bằng phẳng thì ấy là trong Âm có Dương, có thể đặt huyệt dưới vật hình cầu; phải mở rộng ra xung quanh ba thước mới thành sinh khí. Còn khi có Dương mạch từ phía trước đến, thế như bàn tay ngửa, thì gọi là hoán mạch, cần phân thủy và táng dưới đường phân thủy, tuyệt đối không để khí tán phát ra ngoài. Hai chữ "phân thủy" là tinh hoa của mạch pháp: trong Dương có Âm mới đạt được cách "bất tử nhi sinh".

Trịnh Thụy giải thích "Táng Thư": sự vật có bản tính Dương thì tương đối nhu nhược, về lý phải nương vào nó, nhưng nếu quá gấp gáp thì phải rút lại vài thước để hóa giải. Sự vật thuộc Âm, bản tính cương cường, vốn nên thu rút; nhưng nếu bản tính chậm chạp thì cần nới thêm bảy tám tấc để thúc nó. Họ Lưu nói "rút lại" nghĩa là đặt vào hình cầu, hướng phía trước, gần với khí Âm. Nhũ Âm phải tránh việc giết mạch, không được nghênh diện thẳng lên.

Một không thể sinh, sinh vật phải có hai

Họ Tạ giải câu trong "Tuyết Tâm Phú" như sau: long mạch khi chạy đến mà hình thể và khí thế như sống kiếm thì gọi là Cô Âm; chạy đến như bàn tay ngửa thì gọi là Độc Dương.

Nhất bất năng sinh, sinh vật tất lưỡng.

Âm và Dương không giao nhau chẳng khác gì người nam không vợ, người nữ không chồng, làm sao sinh đẻ? Cho nên trong Âm phải tìm Dương, trong Dương phải tìm Âm; Âm Dương phải giao với nhau thì mới không tuyệt diệt, đất lớn nhờ đó mới sinh ra.

Họ Lại giải thích câu "Sơn là Thể, Thủy là Dụng, liền mạch mà thành" trong "Ngọc Xích Kinh": các nhà phong thủy cho cao là Âm, thấp là Dương; địa thế cao vút là Âm, bằng phẳng tròn trịa là Dương; phủ xuống là Âm, ngửa mặt là Dương; vật có mũi nhọn là Âm, chỗ lõm xuống là Dương. Còn quan niệm coi Tĩnh là Âm, Động là Dương thì xuất phát từ thể chất và tính chất của núi sông. Lưu Thanh Điền bàn rằng đất bằng phẳng vốn không có Âm, nhưng chỗ nào có nhiều dòng nước hội hợp thì Âm đã hiện diện, thật là xảo diệu.

Đồ Mục Đường kết lại bằng một cặp hình ảnh dễ nhớ: tam Âm từ trời hạ xuống, vì gốc rễ của Âm nằm trong Dương, nên Âm mạch phải trên nhỏ dưới lớn. Tam Dương từ đất thăng lên, vì gốc rễ của Dương nằm trong Âm, nên Dương mạch phải trên lớn dưới nhỏ. Cho nên Dương thở ra thì vạn vật sinh, Âm hít vào thì vạn vật thành.

Nguồn: Lưu Bá Ôn, Địa Lý Toàn Thư, tập 1.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Đạo Gia