Bài tổng quan
Núi nước cân nhau và dáng núi báo chức tước, danh vị
Núi cao thì nước thấp, nước lớn thì núi phải cao to, đất tốt nằm ở chỗ hai bên cân nhau. Bên tả dựng cờ, bên hữu đặt trống thì sinh võ tướng; trước có trướng, sau có bình phong thì sinh quan văn. Chỉ một dáng thú hơi khác đi thôi mà phúc phận đã đổi hẳn, vậy làm sao phân biệt?
Mục lục · 7 phần
- 01Núi nước cân nhau thì đất mới phát
- 02Trâu đất sợ dây căng, mãnh hổ sợ tên bắn lén
- 03Những hình núi quý ở minh đường và thủy khẩu
- 04Đào huyệt nông sâu và những điềm báo trước huyệt
- 05Cờ trống, bình phong và dáng núi đoán nghề nghiệp
- 06Sinh diệu, sinh quan, văn tinh và thiên trụ
- 07Những hình dễ nhầm: hổ và sư tử, hươu và ngựa
Núi nước cân nhau thì đất mới phát
Gặp đất tốt thì phát, gặp đất hung thì bại.
Núi cao mà nước thấp thì minh đường rộng và bằng phẳng. Nước lớn mà núi nhỏ thì núi tổ tông phải cao to, long mạch nhấp nhô lên xuống rồi mới kết huyệt phú quý. Long đi giữa các khe núi thì uốn lên uốn xuống, đứt rồi lại nối. Sang đến bình địa thì nối liền nhau, đứt đâu lại nối đấy, đó là sự thay hình đổi sao. Nơi nó đi tới tận cùng sẽ là đất lớn đại phú quý.
Nơi dòng nước theo long chảy đến mà lại có một dòng khác, kênh hay mương, uốn quanh như cánh cung thì chủ nhân phát phúc lâu dài.
Thiên quan và Địa trục chứng tỏ phú quý nhanh hay chậm.
Thiên quan là cổng trời, tức những ngọn núi lạ đá lạ nơi dòng nước chảy tới. Địa trục là sản vật của đất, tức gò đống và đá như chiếc ấn chắn nơi nước chảy đi. Hai thứ ấy giữ hai đầu của dòng nước, nhìn vào đó mà biết phú quý đến sớm hay muộn.
Trâu đất sợ dây căng, mãnh hổ sợ tên bắn lén
Cổ nhân dùng hình ảnh con vật để dặn những điều kiêng kỵ trước huyệt, sau huyệt và hai bên.
Trâu đất sợ dây thừng căng. Mãnh hổ sợ mũi tên bắn lén.
Trâu đất chỉ huyệt, mà huyệt sợ nước chảy thẳng như sợi dây, không có chỗ dừng tụ, chủ chết chóc thất bại. Hổ ở đây là long huyệt, không phải Bạch Hổ bên phải. Khi long qua mạch, nếu chân núi nhọn chĩa vào lưng huyệt hoặc dòng nước xối mạnh vào sau lưng, đó gọi là bị bắn lén, sinh khí tan tác.
Huyền Vũ không nên lè lưỡi. Dư khí trước huyệt kéo dài mà hai bên không có gì bao bọc, gọi là Huyền Vũ lè lưỡi. Huyệt pháp có câu: Huyền Vũ lè lưỡi thì điểm huyệt trên cao. Chu Tước kỵ nham nhở: núi trước huyệt lồi lõm lở lét sẽ gây nhiều họa. Trước huyệt kỵ thấy hầm hố, vì hố sâu gọi là âm tuyền, không còn chân khí dư, chủ chết chóc thất bại.
Trên hai cánh tay Thanh Long, Bạch Hổ kỵ có đường cắt ngang, gọi là giao đao, chủ sát thương tù đầy. Phía trên mà chênh vênh không ngay thì long mạch tán loạn, chủ hung hiểm. Nước chảy sang tả mà bên tả trống trải, dù bên hữu có nhiều sa vây kín cũng vô dụng, vì chân khí phải được sa bên tả giữ lại.
Có khi bề ngoài tựa như sa và nước đều vô tình, không thể làm huyệt; nhưng leo lên huyệt nhìn ra thì thấy tình ý có thừa. Trường hợp ấy cần phân biệt kỹ. Nói chung, cái lớn là chính, cái nhỏ là phụ: long huyệt phân minh, sa nước yểm trợ đầy đủ thì mấy chỗ thiếu sót nhỏ cũng có thể đổi hung thành cát.
Lại có điều lạ: vì sao long hiển lộ tinh thần lại là điềm hung, mà long ẩn khuất lại là điềm cát? Vì chỗ ẩn khuất mới có tông tích kỳ dị, còn chỗ phô ra phần nhiều là huyệt giả.
Những hình núi quý ở minh đường và thủy khẩu
Trước minh đường có lớp lớp gò đống như chuông úp, như quân sĩ đồng loạt tuân lệnh thì là đất cực phú quý. Một ngọn núi nhô cao gọi là hoa biểu, hai ngọn cùng nhô gọi là hãn môn; thủy khẩu được hoa biểu và hãn môn trấn giữ thì bên trong tất là đất cực quý.
Núi cao tròn lô nhô gọi là lâu đài sơn, núi nhọn chĩa lô nhô gọi là cổ giác sơn. Bày la liệt trên la thành thì kết thành đất cực quý. Sơn thủy hội tụ lớn, cục thế khoáng đạt thì có thể dựng đế đô hay châu quận, nhỏ nhất cũng thành thị trấn, thôn trang nổi danh.
Quần sơn tụ lại chầu vào thì chủ nhân vừa giàu vừa sang. Quần sơn quần thủy cùng hội về thì sinh khí vượng, phúc lộc không cùng. Sơn và thủy chỉ khi tương xứng mới cát, toàn thiện toàn mỹ; sơn hơn thủy hay thủy hơn sơn đều là hung. Thanh Long, Bạch Hổ quý ở chỗ hòa nhau, nhường nhịn nhau, không tranh đấu.
Bát môn là tám hướng. Nếu có hướng nào khuyết, gió từ bốn phía thốc vào huyệt, chôn ở đó thì có người chết đói, dù giàu đến đâu cũng khó giữ. Ngược lại, bốn dòng nước quy về minh đường, bốn thú hộ vệ xung quanh, tức Thanh Long, Bạch Hổ, Chu Tước, Huyền Vũ, thì dù sinh ra trong nhà nghèo cũng làm đến công khanh.
Trong đột có quật, trong quật có đột, nên cắm huyệt.
Đột là chỗ nhô lên, thuộc dương; quật là chỗ lõm xuống, thuộc âm. Trong đột có quật là dương giấu âm, trong quật có đột là âm giấu dương. Cả hai đều là cát.
Tìm long tốn bao công sức rồi, thấy gò đất giữa bình địa thì lấy ngay. Khe núi là đoạn đầu của lưng long, khí thịnh nên dễ có núi cao. Đến vùng bình địa, khí mạch ẩn tàng, nên ở đó gò nào nhô lên chính là nơi chân khí vượng.
Núi đẹp đẽ mà vang lên tiếng nước réo thì huyệt vô cùng hung hiểm. Ấy là nước xối thẳng, gấp, âm thanh hỗn tạp, sinh khí tán loạn. Chỗ nước chảy gấp, núi thế hiểm ác không thể làm nhà hay xây mộ, chỉ dựng được đền miếu.
Đào huyệt nông sâu và những điềm báo trước huyệt
Nơi núi cao, nơi đồng bằng, mỗi chỗ một cách đào; còn điềm hung điềm cát thì đọc được ở dòng nước và hình núi trước mặt.
Dù ở núi cao hay đồng bằng đều phải đào huyệt cho sâu. Núi cao chân khí trầm xuống, đào sâu là hợp lẽ. Đồng bằng khí nổi nông, cớ sao vẫn đào sâu? Là để người, cây cối và súc vật không xâm phạm được. Riêng vùng bình dương thì mới đào nông, nhưng phải lấy đất nơi khác đắp mộ cho cao.
Phong thủy quý ở chỗ long và huyệt chân chính, nước và sa phân minh. Lên núi thấy một dòng nước chảy xéo thì chủ nhân mất chức. Vào huyệt thấy quần sơn quay lưng thì chủ nhân phải bỏ quê. Thấy ngọn núi nhọn cô độc, ao hồ nước đục, thì tốn công đèn sách mà rốt cuộc không nên danh. Trước huyệt dù có văn bút phong đẹp mà lẻ loi, dù ao hồ đầy mà nước đục, mài kinh sử mấy cũng không thành.
Sa hai bên tròn trịa gọi là tài sơn, phải chầu vào mới cát. Nếu bị nước kéo đi thì tiền của rơi hết vào tay người khác, như hoa bị ong hút sạch nhụy mật.
Một năm đổi chức nhiều lần, ấy là dấu huyệt có nước uốn lượn chín khúc. Làm quan mười năm không lên, chắc chắn là vì núi chưa đủ toàn mỹ. Nước uốn lượn hữu tình thì dù không hợp tinh tú cũng cát; núi nghiêng lệch thì dù hợp quẻ cũng hung. Tuyệt tự là vì núi cùng nước tận. Tán gia bại sản là vì núi bay nước tán.
Sự cao thấp của tước vị do long pháp quyết định.
Thiên Ất và Thái Ất là hai ngôi sao ở hai phương Tốn và Tân, đứng hai bên phía sau huyệt. Hai sao ấy nhô cao thì sinh đại thần. Hai sao Cầm và Thú ở thủy khẩu thì sinh viện sĩ hàn lâm. Mấy ngọn núi chĩa lên tận mây thì sinh công khanh; Đào công nói núi chĩa lên trời như ngọn tháp bút thì có hào kiệt. Nước chín khúc tụ minh đường thì có người làm tể tướng, song nếu thân long không quý, huyệt pháp không đúng, thì dù núi vút trời, nước chầu minh đường cũng chẳng ứng.
Cờ trống, bình phong và dáng núi đoán nghề nghiệp
Bên tả có cờ, bên hữu có trống thì sinh võ tướng. Mặt trước có trướng, mặt sau có bình phong thì sinh quan văn. Dáng trâu ngắm trăng thì sinh thần đồng; trăng ấy là Kim tinh, thanh tú thấp nhỏ. Văn bút phong nối liền với Cáo trục sơn thì chủ nhân đỗ tiến sĩ. Tịch mạo sơn nối với Ngự bình sơn thì làm quan soạn thảo thư từ chiếu chỉ. Dãy núi nhọn uốn vòng như đao như kiếm ở hai bên thân long thì sinh đại tướng cầm quân viễn chinh.
Năm ngọn sa phong liền nhau kiểu cổ giác, mai hoa mà giữa có một ngọn nhô cao thì làm quan trị châu. Ngọn núi nhỏ tròn như chiếc lọ bạc chủ đại phú, giàu tựa Thạch Sùng. Nước uốn quanh gọi là đai ngọc, Kim tinh nhỏ xảo gọi là cá vàng; gộp lại là ngọc đới kim ngư, thấy trước huyệt thì chủ nhân quý hiển. Nhiều ngọn sa hình hoa sen chồng nhiều lớp thì sinh đại thần.
Nga My sơn trông như trăng non, là Thái Âm Kim tinh, chủ con gái xinh đẹp được ân sủng như vương phi. Kim cáo sơn là Thổ tinh, như chiếc kỷ án đặt ngang, hai đầu hơi cao, gần đó có Nga My tương xứng thì con trai lấy công chúa làm phò mã. Ngư đại sơn ở cung Đoài, tức phương Tây thuộc Kim, gọi là túi cá vàng, chủ xuất hiện quan đại thần. Thiên Mã sơn cao vút ở phương Nam gọi là Mã tinh, nằm trong viên cục thì sinh quan lớn đến chức công hầu; hai ngựa giao nhau cũng thế. Trác kỳ sơn là Hỏa tinh, nhô cao thì sinh tướng quân.
Văn võ bất đồng.
Hắc Nang kinh viết: long của quan văn là lâu đài, phượng các; huyệt của quan văn là Hoa Cái, Tam Thai; sa của quan văn là cờ trống, quý nhân; nước của quan văn là chảy đi chảy đến thẳng băng hai bên. Long của quan võ là Hỏa tinh, Mộc tinh; huyệt của quan võ như lá cờ đỏ xuất thân; sa của quan võ là đao kiếm chầu về; nước của quan võ là Hỏa tinh kéo dài.
Muốn biết chủ nhà sẽ nhậm chức ở châu hay quận nào, cứ xem phương hướng của ngọn núi cao quý rồi đối chiếu với sự chia chín châu là rõ. Thân long có núi hình thương hình khố, cao tròn lớn là thương, vuông vức là khố, mà nơi long dừng kết huyệt hai bên lại có thêm sa thương khố yểm trợ thì chủ nhân thành đại phú.
Sinh diệu, sinh quan, văn tinh và thiên trụ
Thanh Long, Bạch Hổ có dư khí bốc lên gọi là diệu khí. Phía sau án sơn có sơn phong cúi chào thì gọi là quan tinh. Diệu và quan cùng chiếu huyệt thì danh nổi như sóng cồn, khắp thiên hạ đều hay.
Văn tinh mà thấp bé thì kẻ học văn chết yểu như Nhan Hồi. Thiên trụ nhô cao thì người sống thọ như Bành Tổ. Có ấn nổi trên mặt nước thì văn chương xuất sắc. Có nước tụ ngay thiên tâm thì phú quý. Vật chất muôn loài, hình thể đa dạng; khi điểm huyệt phải xem hình thế ngũ tinh mà định cát hung.
Những hình dễ nhầm: hổ và sư tử, hươu và ngựa
Cùng một dáng thú nhưng thân hình khác một chút là phúc phận khác hẳn.
Hổ và sư tử trông tương tự nhau: mãnh hổ thân cao lớn mà tròn trịa, sư tử thì vuông vức hơn. Đại nhạn và phụng hoàng cũng gần nhau: nhạn đầu đuôi tương đối ngắn, phụng hoàng thì dài hơn. Ngọn núi mang hình chim chóc thì mệnh vận cao quý. Hươu gầy mà đầu bằng, ngựa mập mà đầu cao nên rất dễ nhầm. Giun ngắn, rắn thân dài hơn nên cũng dễ lẫn.
Văn bút và họa bút, nha đao và sát đao, có gì khác?
Nếu dãy núi đẹp đẽ thì sát đao hóa thành nha đao. Nếu chủ nhân non kém thì văn bút biến thành họa bút. Giáo mác là hung khí nhưng gặp võ sĩ lại có hiệu quả kỳ diệu. Xác chết nổi vốn xấu nhưng gặp bầy quạ lại hay. Ấn kiếm chỉ thiên sư mới biết dùng, hương lô là vật của thầy mo. Núi ấn kiếm thì sinh thiên sư hoặc tăng lữ, núi hương lô sinh thầy mo, núi hồ lô sinh thuật sĩ, y sĩ.
Rốt lại, long mạch và huyệt vị mới là chính. Long thật huyệt đúng thì sa phong hung hiểm cũng biến thành cát. Long hèn huyệt giả thì sa phong cát lợi cũng thành hung. Cổ nhân nói: sa phong giống như mỹ nữ, sang hèn đều tùy ở người chồng; nước giống như binh lính, tiến lui đều tùy ở tướng.
Nguồn: Lưu Bá Ôn, Địa Lý Toàn Thư, tập 2.
