Bài tổng quan
Dân giàu nước mạnh, thiên văn, thuốc men và nghề văn
Ngòi bút kể chuyện vua tôi ấy lại ngước nhìn mặt trời mặt trăng, rồi cúi xuống bắt mạch người bệnh, bàn chuyện làm giàu chính đáng và lắng nghe tiếng đàn. Ông còn nói một điều đời sau nhớ mãi: những áng văn hay nhất thường sinh ra khi con người bị dồn đến chân tường…
Bộ sử của văn hóa: lịch sử soi văn hóa, văn hóa soi lịch sử
Mở một bản kỷ ra là nghe tiếng của cả một nền văn hóa, từ cảnh đẹp thuở Viêm Hoàng đến luật lệ nghiêm ngặt nhà Tần.
Giá trị của Sử ký sớm vượt khỏi khuôn khổ lịch sử và mang theo một không gian văn hóa rộng lớn. Nó vốn là thể thống nhất giữa tích sử với văn minh văn hóa. Lịch sử là quỹ tích phát triển của văn hóa và văn minh xã hội, nên khi phản ánh lịch sử không thể tách sự việc khỏi mối quan hệ của nó. Ngay từ đầu Tư Mã Thiên đã nắm chắc quan hệ giữa lịch sử và bối cảnh văn hóa, lấy lịch sử để phản ánh văn hóa, lấy văn hóa để phản ánh lịch sử. Vì vậy Sử ký là bộ sử về văn hóa. Song nó đồng thời là văn hóa của lịch sử: qua việc mô tả ba nghìn năm lịch sử xã hội Trung Hoa, từ Tam Hoàng Ngũ Đế đến Hán Vũ Đế, Tư Mã Thiên vẽ nên bức tranh văn hóa lịch sử ba nghìn năm, tái hiện nền văn hóa rực rỡ của Trung Hoa cổ.
Chẳng hạn trong Ngũ đế bản kỷ toát lên cảnh quan đẹp đẽ của nền văn hóa Viêm Hoàng; trong Tần bản kỷ và Tần Thủy Hoàng bản kỷ hiện lên nền văn hóa pháp quyền thời Tần. Vì vậy Sử ký thành kho tư liệu phong phú, quan trọng để nghiên cứu văn hóa Trung Hoa cổ đại. Nó đã dựng nên một nền văn hóa sử học ưu tú, vượt xa Thượng Thư, Tả truyện…, và đặt nền móng cho văn hóa sử học Trung Hoa.
Tư tưởng chính trị
Như đã thấy, tư tưởng học thuật của Tư Mã Thiên lấy việc đề cao đạo Khổng, sùng bái Nho học làm chủ đạo, đồng thời phản ánh cả tư tưởng Hoàng Lão, Mặc, Đạo và cái nhìn coi nhẹ hình pháp, gia quy. Vì vậy Sử ký thể hiện tính chính trị rõ nét. Ông ca ngợi công thống nhất đất nước của Hán Cao Tổ, tán dương đạo trị nước bằng nhân, đức, chính, ủng hộ chế độ chính trị trung ương tập quyền của nhà Hán. Tuy có mâu thuẫn với Hán Vũ Đế, nhưng với ý thức tôn trọng lịch sử, ông vừa ca ngợi tài lược hơn người và khẳng định công thống nhất của Vũ Đế, vừa biểu thị thái độ phản kháng việc Vũ Đế liên tục chinh phạt mở mang bờ cõi, cuốn muôn dân vào những cuộc chiến không dứt.
Dân giàu nước mạnh: cái nhìn kinh tế đi trước thời đại
Tư tưởng kinh tế của Tư Mã Thiên chủ yếu hiện qua hai bài: "Bình chuẩn thư" và "Hóa thực liệt truyện". Hóa thực liệt truyện tuy mang tên liệt truyện nhưng thực chất là chuyên luận về tư tưởng kinh tế của ông. "Bình chuẩn thư" là chuyên luận về quan điểm kinh tế của Tư Mã Thiên và của Tang Hoằng Dương, một nhà thương nghiệp cùng thời. Hai bài ấy gom lại các quan điểm kinh tế chủ yếu của ông, và đó được xem là một trong những giá trị quý báu của Sử ký vì rất tiến bộ.
Giàu bằng sức lao động là chính đáng
Trong mắt Tư Mã Thiên, văn minh vật chất và văn minh tinh thần hợp làm một. Ông nhấn mạnh tư tưởng dân giàu nước mạnh, kể và khẳng định rằng dựa vào sức lao động mà làm giàu là con người đúng đắn, và cho rằng giá trị của giàu có ngang với quyền lực. Qua hàng loạt câu chuyện kể, nổi lên một quan hệ biện chứng: chính trị và kinh tế, vật chất và tinh thần, phú và quý luôn cùng tồn tại và gắn bó khăng khít.
Nông, công, thương cùng phát triển
Ông chủ trương phát triển mạnh nông nghiệp, thủ công và thương nghiệp để thúc đẩy nền kinh tế thị trường, từ đó phát huy tác dụng của lưu thông tiền tệ. Ông coi trọng việc khai thác và tích lũy tài nguyên vật chất, nhấn mạnh rằng khai thác và trao đổi vật chất là tiền đề cho sự giàu mạnh của đất nước, là nền tảng của đời sống xã hội. Tóm lại ông cho kinh tế là tiền đề của chính trị, thương nghiệp là trung tâm của kinh tế, thị trường là vũ đài của thương nghiệp, và nắm được một cách khoa học quan hệ biện chứng giữa nhà nước, kinh tế, thương nghiệp và thị trường, dự báo được tầm quan trọng của kinh tế hàng hóa đối với nền kinh tế quốc gia.
Trọng nghĩa hơn lợi, nhưng chưa thoát hạn chế
Trước mâu thuẫn giữa ham muốn vật chất và quan niệm đạo đức, Tư Mã Thiên chịu ảnh hưởng Nho gia nên rất trọng nghĩa, tán đồng cách giải quyết: một khi nảy sinh mâu thuẫn giữa đạo nghĩa và lợi ích thì chọn đạo nghĩa. Tuy vậy ông cũng nghiêng về chủ nghĩa công lao, coi trọng công trạng và quyền lợi, xem nhẹ danh tiết. Trong chuyện Lý Lăng, ông đề cao công lao của Lý Lăng quá mức mà ít quan tâm đến tiết tháo của một hàng tướng, nên đứng ra bênh vực và bị Hán Vũ Đế trừng phạt. Điều ấy cho thấy về mặt này, tuy ông lấy đạo nghĩa chế ngự lợi lộc, tư tưởng vẫn còn hạn chế.
Nhìn chung, tư tưởng của Tư Mã Thiên coi trọng sự thống nhất giữa kinh tế và chính trị, vật chất và tinh thần, nhấn mạnh dân giàu nước mạnh, chú ý kết hợp kinh tế kế hoạch với kinh tế thị trường, thống nhất giữa đạo pháp và quyền lợi, đạt tới đỉnh cao tư tưởng kinh tế của Trung Hoa cổ trước thời Tiền Hán. Tư tưởng quân sự của ông cũng mang sắc thái độc đáo và tiến bộ hơn nhiều sách binh khác.
Sao trời, thuốc men, sông nước và âm nhạc
Cùng một ngòi bút kể chuyện vua tôi lại ngước nhìn mặt trời, mặt trăng, rồi cúi xuống bắt mạch người bệnh và lắng nghe tiếng đàn.
Sử ký không chỉ đạt thành tựu lớn về khoa học xã hội mà còn mang lại giá trị quan trọng về khoa học tự nhiên: thiên văn, lịch pháp, địa lý, thủy lợi, y học, âm nhạc.
Thiên văn và lịch pháp
Tư Mã Thiên tán đồng quan điểm của Chu Dịch cho rằng trời đất, mặt trời mặt trăng và âm dương hợp thành một chỉnh thể thống nhất của vũ trụ. Ông bác bỏ thuyết nhà trời, và những tư tưởng này hiện trong các bài lịch thư, thiên quan thư. Ông nhấn mạnh sự luân chuyển âm dương là do vận hành của mặt trăng, mặt trời trong vũ trụ, vì vậy mọi việc đều nên tuân theo quy luật tự nhiên mới thành. Thiên văn, lịch pháp phải căn cứ vào sự vận hành của mặt trăng, mặt trời mà đoán định, và ông phản đối thuyết thần học về nhà trời. Tuy không vượt khỏi giới hạn của thời đại, quan điểm duy vật của ông về thiên văn lịch pháp là vô cùng quý giá.
Y học
Trong Sử ký đã thấy những thành tựu nhất định về y học. Qua chuyện Biển Thước và Thương Công, Tư Mã Thiên ca ngợi tài đức và y thuật xuất chúng của các danh y, qua đó khẳng định thành tựu của nền y học cổ truyền Trung Hoa thời xưa.
Địa lý, thủy lợi, âm nhạc
Tư Mã Thiên biên soạn tỉ mỉ và khoa học sự phát triển của bản đồ địa lý Trung Hoa, nên Sử ký cung cấp nhiều tư liệu quan trọng cho việc nghiên cứu địa lý. Về thủy lợi, bộ sử phản ánh những phương pháp trị sông Hoàng Hà qua các thời kỳ và những công trình thủy lợi quan trọng phục vụ kinh tế xã hội, tạo cơ sở cho nền thủy lợi nông nghiệp về sau. Về âm nhạc, qua các câu chuyện ông kể, thấy Trung Hoa từ mấy nghìn năm trước đã rất coi trọng âm nhạc. Ông mô tả sắc nét mỹ học và lý luận âm nhạc trong "Nhạc thư" và "Luật thư". Trước hết ông nhấn mạnh âm nhạc là tính tình của con người, là nhu cầu bản năng, nói rõ quan hệ mật thiết giữa âm nhạc với tâm trạng, tư tưởng con người, và mối gắn bó giữa âm nhạc với đạo đức; ông cũng nêu ý nghĩa chính trị của âm nhạc trong "Nhạc thư". Nhìn từ mọi góc độ, Sử ký thật xứng là bộ bách khoa toàn thư vĩ đại của Trung Hoa.
Viết người để kể sử, viết sử để tả người
Hàng trăm gương mặt bước ra từ những dòng chữ ấy, mỗi người mang theo dấu ấn của thời mình và tiếng vọng của cả một triều đại.
Sử ký vừa là bộ lịch sử đồ sộ vừa là tuyệt tác văn học bất hủ. Nó khơi nguồn cho dòng văn học sử lấy người để kể sử. Tư Mã Thiên nhấn mạnh chính con người là nhân tố thúc đẩy lịch sử đi tới, và lấy người, lấy việc để đánh giá sự phát triển của lịch sử. Vì vậy ông tạo ra một sắc thái riêng về lối viết lấy người tả sử, khai sáng nền sử học kỷ truyện lấy truyện ký nhân vật làm trung tâm.
Ông kể sự suy vong của nhà Tần qua truyện ký về Tần Thủy Hoàng và Trần Thiệp: qua công lao của Tần Thủy Hoàng thấy sự hưng thịnh tột đỉnh của nhà Tần, qua cuộc khởi nghĩa của Trần Thiệp thấy sự suy vong đến sụp đổ. Ông kể sự thay đổi triều chính giữa Tần và Hán qua "Hạng Vũ bản kỷ" và "Hán Cao Tổ bản kỷ". Ông kể sự hưng thịnh và suy vong của nhà Hán qua "Cao Tổ bản kỷ", "Lữ Hậu bản kỷ", "Hiếu Văn bản kỷ"… Tóm lại Sử ký lấy việc mô tả con người để phản ánh lịch sử, nêu bật vai trò của con người đối với sự phát triển của lịch sử.
Ông cũng coi trọng lối viết ngược lại: lấy sự kiện lịch sử để mô tả con người. Sử ký tuy là bộ sách lịch sử nhưng cũng là tuyệt tác văn học truyện ký lịch sử. Bằng hình thức truyện ký nhân vật, ông dựng hình tượng hàng trăm nhân vật với cá tính rõ nét, đi tiên phong và mở đường cho nền văn học truyện ký Trung Hoa. Đặc điểm văn học truyện ký của Tư Mã Thiên là qua truyện ký nhân vật khắc họa nên bức tranh lịch sử rộng lớn. Dưới ngòi bút của ông, mọi nhân vật và sự kiện đều gắn với sự hưng vong của xã hội và sự tồn vong của đất nước, nên nhân vật mang đậm dấu ấn lịch sử, tính thời đại, vừa có hình tượng phong phú vừa có cá tính rõ nét. Ông nắm chắc quan hệ biện chứng giữa viết người tả sử và viết sử tả người.
Những tư liệu ông chọn đều là các sự kiện lịch sử quan trọng, nên câu chuyện có sức lôi cuốn mạnh, bộ sử vừa là tấm gương lịch sử, vừa là một bản hịch của thời đại. Với sự quan sát tinh tế, nhạy bén từ nhiều góc độ xã hội, Tư Mã Thiên mô tả sống động các nhân vật lịch sử, từ bậc quân vương đến người thường dân, mở ra một lĩnh vực mới cho văn học sử, tạo lập một thế giới mới cho văn học Trung Hoa cổ đại, ảnh hưởng lớn đến văn học đời sau.
Khi bị đẩy đến bước đường cùng: tức cảnh thành văn
Có những áng văn hay nhất không sinh ra ở nơi bình yên, mà ở chỗ con người bị dồn đến chân tường.
Giá trị văn học của Sử ký còn hiện ở thành tựu phê bình văn học. Trong "Khuất Nguyên Giả Sinh liệt truyện", ông bình luận sắc bén về Kinh Thi, về Ly tao, và đưa ra tiêu chuẩn cho phê bình văn học.
Ông còn nêu một luận điểm nổi tiếng. Qua những câu chuyện tả thực về bối cảnh ra đời của hàng loạt tác phẩm kinh điển, như Chu Dịch của Chu Văn Vương, Xuân Thu của Khổng Tử, Ly tao của Khuất Nguyên, Quốc ngữ của Tả Khâu…, Tư Mã Thiên phản ánh một thực tế: khi bị đẩy tới bước đường cùng, các văn nhân, trí sĩ đều đã cho ra đời những tuyệt tác. Từ đó ông nêu thuyết "tức cảnh thành văn", rất thuyết phục và ảnh hưởng lớn đến hậu thế, qua việc cho ra đời những tác phẩm lớn như "Hồng lâu mộng" của Tào Tuyết Cần, "Thục đạo nan" của Lý Bạch, hay "Thất bộ thi" của Tào Thực. Tóm lại, Sử ký là tác phẩm điển hình cả về văn học sử, văn học truyện ký và văn học phê bình, có ảnh hưởng sâu sắc đến sự phát triển của văn học và sử học Trung Hoa cổ đại.
Nguồn: Dương Lực, Kinh điển văn hóa 5000 năm Trung Hoa, tập 2, thuật lại có lược bớt.
