Bài tổng quan
Vượng đinh thoái tài, vượng tài tổn đinh và phép luận sao theo vận
Có ngôi nhà đông con cháu, khỏe mạnh mà của cải cứ hao dần; lại có ngôi nhà tiền vào như nước mà người nhà đau yếu, hiếm muộn. Cả hai đều có sao tốt đứng trọn vẹn, chỉ khác ở chỗ nó đứng. Người xưa gọi hai cách cuộc ấy bằng những cái tên nghe như chơi chữ…
Vượng đinh thoái tài: người đông đủ mà của cải hao dần
Ngoài châu bảo tuyến, còn một cách cuộc nữa cũng làm nhân đinh vượng lên, gọi là “song tinh đáo tọa”. Cách cuộc này gồm hai đặc điểm hợp lại:
- Long thần sơn bao bọc đáo tọa.
- Long thần thủy bao bọc thướng sơn.
Hai đặc điểm ấy kéo theo hai hệ quả trái ngược. Long thần sơn bao bọc đáo tọa khiến người trong nhà thêm đông đúc, khỏe mạnh. Còn long thần thủy bao bọc thướng sơn lại khiến tài vận và sự nghiệp ngày càng suy thoái. Bởi vậy gặp cách cuộc vượng đinh thoái tài (song tinh đáo tọa) cần thận trọng dùng các bố cục phong thủy để bổ cứu chỗ khiếm khuyết.
Song tinh đáo tọa là gì
Cách cuộc này do “vượng sơn” và “thướng sơn” hợp thành; “song tinh” là chỉ hai lệnh tinh của sơn long và thủy long, như sao Thất Xích là lệnh tinh vận 7, sao Bát Bạch là lệnh tinh vận 8. Tuyến tọa hướng của cách cuộc này có rất nhiều tổ hợp. Xin nêu ba ví dụ:
- Nhà tọa Mùi hướng Sửu, vận 7: phương tọa là cung Mùi tụ tập cả lệnh tinh của sơn bàn lẫn lệnh tinh của hướng bàn. Đây gọi là “song tinh đáo tọa”, cũng gọi là “song tinh đáo sơn”, “song Thất đáo tọa”, “song Thất đáo sơn”.
- Nhà tọa Tý hướng Ngọ, vận 7: phương tọa là cung Tý tụ tập hai lệnh tinh ấy, cũng là “song tinh đáo tọa”, “song Thất đáo sơn”.
- Nhà tọa Ngọ hướng Tý, vận 8: phương tọa là cung Ngọ tụ tập lệnh tinh sơn bàn và lệnh tinh hướng bàn, đây gọi là “song tinh đáo tọa”.
Các tuyến vượng đinh thoái tài trong chín vận
- Vận 1 (12 tuyến): Tọa Giáp hướng Canh; Tốn hướng Kiền; Tỵ hướng Hợi; Ngọ hướng Tý; Đinh hướng Quý; Khôn hướng Cấn; Thân hướng Dần; Dậu hướng Mão; Tân hướng Ất; Tuất hướng Thìn; Nhâm hướng Bính; Sửu hướng Mùi.
- Vận 2 (6 tuyến): Tọa Mão hướng Dậu; Ất hướng Tân; Bính hướng Nhâm; Canh hướng Giáp; Tý hướng Ngọ; Quý hướng Đinh.
- Vận 3 (6 tuyến): Tọa Ngọ hướng Tý; Đinh hướng Quý; Khôn hướng Cấn; Thân hướng Dần; Nhâm hướng Bính; Sửu hướng Mùi.
- Vận 4 (6 tuyến): Tọa Tốn hướng Kiền; Tỵ hướng Hợi; Bính hướng Nhâm; Tuất hướng Thìn; Tý hướng Ngọ; Quý hướng Đinh.
- Vận 5: không có tọa hướng nào vượng đinh thoái tài.
- Vận 6 (6 tuyến): Tọa Thìn hướng Tuất; Ngọ hướng Tý; Đinh hướng Quý; Kiền hướng Tốn; Hợi hướng Tỵ; Nhâm hướng Bính.
- Vận 7 (6 tuyến): Tọa Bính hướng Nhâm; Mùi hướng Sửu; Tý hướng Ngọ; Quý hướng Đinh; Cấn hướng Khôn; Dần hướng Thân.
- Vận 8 (6 tuyến): Tọa Giáp hướng Canh; Ngọ hướng Tý; Đinh hướng Quý; Dậu hướng Mão; Tân hướng Ất; Nhâm hướng Bính.
- Vận 9 (12 tuyến): Tọa Mão hướng Dậu; Ất hướng Tân; Thìn hướng Tuất; Bính hướng Nhâm; Mùi hướng Sửu; Canh hướng Giáp; Kiền hướng Tốn; Hợi hướng Tỵ; Tý hướng Ngọ; Quý hướng Đinh; Cấn hướng Khôn; Dần hướng Thân.
Vượng tài tổn đinh: tiền vào như nước mà người thưa dần
Quay sang mặt đối nghịch, ta gặp cách cuộc đổi người lấy của.
Ngoài châu bảo tuyến đủ sức làm vượng tài lộc, còn một cách cuộc khác cũng làm vượng tài, gọi là “song tinh đáo hướng”. Hai đặc điểm hợp thành cách cuộc này là:
- Long thần thủy bao bọc đáo hướng.
- Long thần sơn bao bọc đáo hướng (long thần sơn bao bọc xuống thủy).
Hệ quả như sau: long thần thủy bao bọc đáo hướng giúp vượng tài, sự nghiệp phát triển thuận lợi; trái lại, long thần sơn bao bọc đáo hướng khiến không có con cái, nhà ấy khó tìm được người, người trong nhà nhiều bệnh, sức khỏe ngày càng suy thoái. Vì vậy gặp cách cuộc vượng tài tổn đinh (song tinh đáo hướng) cũng cần thận trọng dùng bố cục phong thủy để bổ cứu chỗ khiếm khuyết.
Song tinh đáo hướng là gì
Cách cuộc này do “vượng hướng” và “há thủy” hợp thành; “song tinh” vẫn là hai lệnh tinh của sơn long và thủy long. Tuyến độ của cách cuộc này cũng có nhiều tổ hợp. Ba ví dụ:
- Nhà tọa Sửu hướng Mùi, vận 7: đầu hướng là cung Mùi, tụ tập lệnh tinh của hướng bàn và lệnh tinh của sơn bàn.
- Nhà tọa Ngọ hướng Tý, vận 7: đầu hướng là cung Tý tụ tập lệnh tinh hướng bàn và lệnh tinh sơn bàn; đây gọi là “song tinh đáo hướng”, cũng gọi là “song Thất đáo hướng”.
- Nhà tọa Mão hướng Dậu, vận 8: đầu hướng là cung Dậu tụ tập lệnh tinh hướng bàn và lệnh tinh sơn bàn; đây là “song tinh đáo hướng”, cũng gọi là “song Bát đáo hướng”.
Các tuyến vượng tài tổn đinh trong chín vận
- Vận 1 (12 tuyến): Tọa Mão hướng Dậu; Ất hướng Tân; Thìn hướng Tuất; Bính hướng Nhâm; Mùi hướng Sửu; Canh hướng Giáp; Kiền hướng Tốn; Hợi hướng Tỵ; Tý hướng Ngọ; Quý hướng Đinh; Cấn hướng Khôn; Dần hướng Thân.
- Vận 2 (6 tuyến): Tọa Giáp hướng Canh; Ngọ hướng Tý; Đinh hướng Quý; Dậu hướng Mão; Tân hướng Ất; Nhâm hướng Bính.
- Vận 3 (6 tuyến): Tọa Bính hướng Nhâm; Tuất hướng Thìn; Tý hướng Ngọ; Quý hướng Đinh; Cấn hướng Khôn; Dần hướng Thân.
- Vận 4 (6 tuyến): Tọa Thìn hướng Tuất; Ngọ hướng Tý; Đinh hướng Quý; Kiền hướng Tốn; Hợi hướng Tỵ; Nhâm hướng Bính.
- Vận 5: không có tọa hướng nào vượng tài tổn đinh.
- Vận 6 (6 tuyến): Tọa Tốn hướng Kiền; Tỵ hướng Hợi; Bính hướng Nhâm; Tuất hướng Thìn; Tý hướng Ngọ; Quý hướng Đinh.
- Vận 7 (6 tuyến): Tọa Ngọ hướng Tý; Đinh hướng Quý; Khôn hướng Cấn; Thân hướng Dần; Nhâm hướng Bính; Sửu hướng Mùi.
- Vận 8 (6 tuyến): Tọa Mão hướng Dậu; Ất hướng Tân; Bính hướng Nhâm; Canh hướng Giáp; Tý hướng Ngọ; Quý hướng Đinh.
- Vận 9 (12 tuyến): Tọa Giáp hướng Canh; Tốn hướng Kiền; Tỵ hướng Hợi; Ngọ hướng Tý; Đinh hướng Quý; Khôn hướng Cấn; Thân hướng Dần; Dậu hướng Mão; Tân hướng Ất; Tuất hướng Thìn; Nhâm hướng Bính; Sửu hướng Mùi.
Suy vượng của phi tinh: ba sao lành, ba sao dữ và những điều cần linh hoạt
Chín ngôi sao có tên tuổi quen thuộc, nhưng khi đứng vào từng vận, chúng thay áo.
Muốn bàn ảnh hưởng cát hung của các sao thì phải biết phối hợp với nguyên vận. Chẳng hạn năm Kỷ Mão (1999) thuộc hạ nguyên vận 7, nên sao đương vượng là Thất, tức lệnh tinh hay vượng tinh; ở đây lấy vận 7 làm ví dụ thì Thất Xích là lệnh tinh.
Thuyết tam cát và tam hung
Trong chín sao Tử Bạch có thuyết “tam cát”, chỉ ba sao: Nhất Bạch Tham Lang, Lục Bạch Vũ Khúc, Bát Bạch Tả Phù. Ngoài nhóm ấy còn có hai sao được luận là tốt vừa: Tứ Lục Văn Khúc và Cửu Tử Hữu Bật.
Đã có cát tinh tất có hung tinh. Trong số hung tinh có thuyết “tam hung” là xấu nhất, gồm Nhị Hắc Cự Môn, Ngũ Hoàng Liêm Trinh và Thất Xích Phá Quân. Ngoài ra còn một sao được luận là hung ít, đó là Tam Bích Lộc Tồn. Thật ra đó là cách luận cứng nhắc; khi ứng dụng thực tế, các nhà phong thủy Huyền Không thường phải phối hợp linh hoạt với sự suy vượng của các sao để định cát hay hung.
Thiên nguyên thủ Phù, nhân địa kiêm Tham
Dân gian có hai câu khẩu quyết: “Thiên nguyên thủ Phù, nhân địa kiêm Tham.” Trong tam nguyên cửu vận, thượng nguyên là thiên nguyên, trung nguyên là nhân nguyên, hạ nguyên là địa nguyên.
“Thiên nguyên thủ Phù” là nói ba vận 1, 2, 3 của thiên nguyên: nếu mở cửa hoặc khai thủy khẩu ở vị trí sao Bát Bạch Tả Phù thì căn nhà ấy có thể phát từ thượng nguyên tới hạ nguyên. “Nhân địa kiêm Tham” là nói ba vận 4, 5, 6 của nhân nguyên và ba vận 7, 8, 9 của địa nguyên: nếu mở cửa hoặc khai thủy khẩu ở vị trí sao Nhất Bạch Tham Lang thì căn nhà ấy có thể phát từ trung nguyên tới hạ nguyên. Ba ví dụ:
- Trong vận 1 (vận thiên nguyên), sao Bát Bạch Tả Phù chiếm phương nam; nếu mở cửa hoặc khai thủy khẩu ở phương này thì hợp cách “thiên nguyên thủ Phù”.
- Trong vận 5 (vận nhân nguyên), sao Nhất Bạch Tham Lang chiếm phương nam; nếu mở cửa hoặc thiết kế thủy khẩu ở phương này thì hợp cách “nhân kiêm Tham” trong cuộc “nhân địa kiêm Tham”.
- Trong vận 9 (vận địa nguyên), sao Nhất Bạch Tham Lang chiếm phương tây nam; nếu mở cửa hoặc thiết kế thủy khẩu ở phương này thì hợp cách “địa kiêm Tham” trong cuộc “nhân địa kiêm Tham”.
Sinh vượng tiến, tử suy thoái
Nhiều người không hiểu vì sao trong dân gian có hai câu khẩu quyết ấy. Thật ra điều tối quan trọng trong ảnh hưởng cát hung của phi tinh là xem nó phối hợp với nguyên vận như thế nào, khi ấy mới luận được cát hay hung. Sách “Âm Dương Học” viết:
Bất luận là sao nào, suy vượng sinh tử là do vận. Đương vượng thì cát; tử khí thì hung; sao nào cũng có thể hại người. Bàn về kế sách lâu dài, cát tinh sinh khí cũng không cát mãi, hung tinh cũng không hung mãi, nên không thể không tạm dùng. Sao tối cát ở vị trí sinh khí hơi xa thì có thể dùng. Sao tối hung thì tuyệt đối không dùng; nếu bất đắc dĩ thì chỉ nên dùng tạm. Cát tinh mà ở phương suy thì cũng không cát, hung tinh ở phương suy thì cũng không đại hung. Bàn về kế sách lâu dài thì không dùng. Nói về sao ở phương suy, dù là sao cát cũng có thể hung, ít nhất cũng là tiểu hung; còn sao hung thì tất nhiên là đại hung rồi.
Theo lý luận này, trong vận 1 thượng nguyên dùng sao Tả Phù thì không hung. Nhưng các vận 2, 3, 4 và 5 đều là phương tử khí, tất nhiên có đại hung, đủ để hại người. Muốn không hung phải chờ đến vận 6, còn muốn chiêu cát thì phải tới vận 8 mới được. Thời gian từ vận 2 đến vận 7 là một trăm hai mươi năm; nếu tính ba mươi năm là một đời thì phải cách tới bốn đời, ngôi mộ này mới có ảnh hưởng tốt tới hậu thế, mà khi ấy cát lực cũng đã yếu nhiều. Theo các nhà phong thủy, sức ảnh hưởng mạnh nhất là đời cha mẹ truyền cho con, sang đời cháu chỉ còn một nửa, cứ thế mà giảm. Vì vậy với trường hợp dùng sao Bát Bạch ở các vận ấy thì tuyệt đối không nên. Trường hợp Nhất Bạch cũng luận như vậy: nếu không phải vận 8 thì không nên dùng.
Từ đó có thể thấy cách luận cát hung phối hợp với nguyên vận quan trọng đến mức nào. Các nhà phong thủy Huyền Không định ranh giới của “sinh, vượng, tiến” và “tử, suy, thoái” như sau:
- Sao đương vượng: còn gọi là vượng tinh, lệnh tinh; ví dụ sao Thất Xích của vận 7, sao Bát Bạch của vận 8.
- Sao sinh khí: là sao kế theo sao đương vượng; ví dụ sao Bát Bạch trong vận 7, sao Cửu Tử trong vận 8.
- Sao tiến khí (theo chi phái Huyền Không Đô Thiên): là sao sinh khí còn hơi xa; ví dụ sao Cửu Tử trong vận 7, sao Nhất Bạch trong vận 8.
- Sao thoái khí (theo chi phái Huyền Không Đô Thiên): là sao ở phương suy; ví dụ sao Lục Bạch trong vận 7, sao Thất Xích trong vận 8.
- Sao suy khí (theo chi phái Huyền Không Đô Thiên): ví dụ sao Ngũ Hoàng trong vận 7, sao Lục Bạch trong vận 8.
- Tử khí: là các sao không nằm trong năm hạng mục trên; ví dụ các sao Tứ Lục, Tam Bích, Nhị Hắc trong vận 7.
Cùng một sao, khác vận thì khác số phận
Như vậy, điều trọng yếu là phải xem sự phối hợp của nguyên vận mới định được cát hung cho các sao. Sách “Âm Dương Luận” viết:
Không kể là sao nào, đều phải căn cứ tính chất suy vượng sinh tử của nó trong vận ấy. Bất luận sao nào cũng có thể hại người: sao đương vượng thì cát, sao tử khí thì hung. Sao ở phương suy, cho dù là cát tinh cũng không tốt, cho dù là hung tinh cũng không phải đại hung.
Nguồn: Nguyễn Vũ Anh, Thẩm Thị Huyền Không Học – Phong Thủy Trong Bối Cảnh Kiến Trúc Hiện Đại.
