Bài tổng quan
Hạn Dương Cửu, Bách Lục và quẻ hạn từng năm, tháng, ngày
Một người sinh năm Giáp Tuất, đến ba mươi tuổi, được tính ra rơi vào quẻ Hàm. Quẻ ấy không đến từ một lần gieo ngẫu nhiên mà từ số năm giờ sinh, số trời đất và một phép trừ vòng sáu mươi bốn. Từ đó lần xuống từng tháng, từng ngày, và cả từng giờ…
Một đời người không đi thẳng một đường. Có những chặng được đẩy lên, có những chặng bị đẩy xuống, và môn Thái Ất chia các chặng ấy bằng hai thứ hạn mang tên chín dương và một trăm lẻ sáu. Từ ngày giờ sinh, người xưa tính ra một quẻ, từ quẻ ấy tìm ra hào đang vận, rồi lần xuống từng năm, từng tháng, từng ngày, từng giờ. Bên cạnh đó còn có một cặp hạn khác, hạn Lộc và hạn Ngựa, đưa người đi qua những cung nào thì mỗi cung lại mang theo cát hung riêng.
Hạn chín dương: năm hành quyết định bước khởi
Muốn tìm hạn chín dương, lấy can của ngày sinh, rồi dùng năm hành theo gốc sống để khởi hạn. Giáp và Kỷ hóa Thổ, khởi năm tuổi ở cung Ngọ. Ất và Canh hóa Kim, khởi bốn tuổi ở cung Tỵ. Bính và Tân hóa Thủy, khởi một tuổi ở cung Thân. Đinh và Nhâm hóa Mộc, khởi ba tuổi ở cung Hợi. Mậu và Quý hóa Hỏa, khởi hai tuổi ở cung Dần.
Có người hỏi mười can hóa khí là như thế nào, thì được trả lời bằng hình ảnh con Rồng: Thìn là đầu, Rồng lừng lững là thần Rồng của trời. Rồng hay biến hóa nên cách tính theo ý ấy mà nên. Phép ẩn nói rằng Giáp Kỷ hoàn trên Giáp. Từ năm Giáp Tý đếm đến tháng Thìn thì gặp can Mậu, mà Mậu Kỷ đều thuộc Đất, cho nên Giáp Kỷ hóa Đất. Từ Bính Tý đếm đến Thìn thì gặp Canh, mà Canh thuộc Kim, nên Ất Canh hóa Kim. Hóa Thủy, hóa Mộc, hóa Hỏa cũng theo lệ đó mà suy.
Giáp Kỷ hóa Đất, được số năm, từ Ngọ khởi số năm, trai thuận, gái ngược, mỗi năm một cung. Thí dụ mệnh trai ngày Giáp Kỷ, từ lúc sinh đến năm tuổi thì hạn chín dương ở cung Ngọ, từ sáu tuổi đến mười tuổi thì ở cung Mùi. Chỗ khác phỏng theo thế. Hạn chín dương vào cung nào thì xem cung ấy họa phúc ra sao mà so sánh.
Hạn một trăm lẻ sáu: tính bằng số sinh thành
Nếu hạn chín dương là bước chân, thì hạn một trăm lẻ sáu là nhịp thở: nó lấy cả giờ ngày sinh, cả số của trời đất.
Phép này dùng số can chi của ngày và giờ sinh, cùng số thu mầm, thêm số sinh thành tức số trời đất là năm mươi lăm, rồi trừ dần sáu mươi cho đến khi không trừ được nữa. Số dư là số hạn. Từ ngày sinh đếm ngược về trước đúng số hạn, gọi là ngày chịu khí. Can của ngày chịu khí theo khí hóa của hạn chín dương: Thủy một, Hỏa hai, Mộc ba, Kim bốn, Thổ năm, rồi khởi đi từ phương gốc sống. Hạn lớn mười năm qua một cung, hạn nhỏ mỗi năm qua một cung. Hạn lớn thì trai thuận gái ngược, hạn nhỏ thì trai ngược gái thuận.
Số sinh thành giải thích cho số hạn. Trời một sinh Thủy, Đất sáu thành Thủy, cộng lại là bảy. Đất hai sinh Hỏa, Trời bảy thành Hỏa, cộng lại là chín. Nhâm, Quý, Hợi, Tý và thu mầm cũng thuộc Thủy, Bính, Đinh, Tỵ, Ngọ thuộc Hỏa, và các can chi khác cũng suy như vậy. Các số một, ba, năm, bảy, chín là số Trời, cộng được hai mươi lăm. Các số hai, bốn, sáu, tám, mười là số Đất, cộng được ba mươi. Số Trời Đất thông nhau thành năm mươi lăm, vận chuyển biến hóa.
Thí dụ một người đến năm tuổi ba mươi, sinh năm Giáp Tuất thuộc Hỏa, tháng Tân Mùi thuộc Thổ, ngày Giáp Tý thuộc Kim, giờ Bính Dần thuộc Hỏa. Lấy ngày Giáp Tý, số thu mầm của can chi được ba mươi mốt. Giờ Bính Dần được hai mươi chín. Cộng ngày giờ được sáu mươi. Thêm năm mươi lăm, được một trăm mười lăm, trừ sáu mươi còn năm mươi lăm. Đó là số chịu khí. Từ ngày sinh Giáp Tý đếm ngược năm mươi lăm, tới ngày Canh Ngọ, là ngày chịu khí. Ất Canh hóa Kim, được số bốn, gốc sống ở cung Tỵ, nên Tỵ là nơi khởi hạn. Từ Tỵ, trai đi thuận, gái đi ngược.
Hạn lớn một trăm lẻ sáu, từ Tỵ tới Thân, được ba mươi năm. Hạn nhỏ thì từ Tỵ đi ngược, mỗi năm một cung. Đến ba mươi tuổi, hạn nhỏ rơi vào cung Tý. Chỗ khác lấy đó mà suy ra. Như vậy cùng một người, hạn lớn cho biết mười năm đang ở cung nào, hạn nhỏ cho biết từng năm đang ở cung nào, và hai thứ ấy được so sánh với nhau khi xét cát hung.
Ba chặng đời lành dữ của hạn chín dương
Hạn chín dương còn được chia làm ba chặng, mỗi chặng có lành có dữ. Chặng đầu từ một đến hai mươi lăm tuổi. Trong chặng ấy mà cung có sao tốt thì không có họa mà còn có phúc, đầu đời sẽ giàu sang, phát đạt lớn. Nếu gặp cung chặn, giam, ép, kích, lại thêm sao hung thì tuổi nhỏ phá tổ, thân đơn côi. Nếu vào thân mệnh thì hình họa phát nặng.
Chặng giữa từ hai mươi sáu đến năm mươi tuổi. Gặp sao lành thì không thành họa mà còn thêm phúc, tuổi trung giàu sang. Nếu rơi vào cung cách, ép, đối, kích thì tuổi trung nhiều thương tổn, hôn nhân và con cái bị phá hại, có điên cuồng. Vào hai cung thân mệnh thì có chuyện thương đổ.
Chặng cuối từ năm mươi mốt đến bảy mươi lăm tuổi. Gặp cung cát, sao lành thì không thành họa, lại thêm phúc, tuổi già vui vẻ phúc dày. Rơi vào cung chặn, giam, ép, tuyệt, lại thêm sao hung, gặp hình họa, vào thân mệnh mà hội với sao hung thì chắc chắn gặp cảnh tuyệt vọng, làm sao yên lành trọn đời.
Từ hạn một trăm lẻ sáu vào quẻ, tìm hào hạn
Từ nhịp thở đã đếm, đến lúc hiện thành hình vạch của một quẻ Dịch.
Lấy can chi của năm, tháng, ngày, giờ sinh, số thu mầm, số sinh thành, cộng lại rồi thêm năm mươi lăm của trời đất. Dùng vòng sáu mươi bốn quẻ mà trừ dần. Số dư đếm từ quẻ Kiền khởi đầu, đếm đến đâu thì được quẻ ấy, gọi là quẻ ra đời, hay quẻ kiếp sống. Quẻ này cho biết cuộc đời tiến lui lành dữ.
Sau đó tìm hào vào việc, chỉ lấy khí lúc sinh: dương dùng hào dương, âm dùng hào âm. Dương đi từ dưới thăng lên, âm đi từ trên giáng xuống. Lấy quẻ gốc là quẻ ra đời, tức quẻ dựng nghiệp, và quẻ biến là quẻ hạn dựng nghiệp. Từ hào vào việc đi lên, hào dương trị chín năm, hào âm trị sáu năm. Vận hành hết vòng thì sang quẻ biến, theo đúng thứ tự mà rõ ra cuộc đời dựng nghiệp, mọi việc hay dở lành dữ.
Thí dụ cho một người sinh năm Giáp Tuất: quẻ ra đời được Kiền. Muốn tìm hào vào việc, xem hạn một trăm lẻ sáu chịu khí ngày Giáp Tý giờ Bính Dần là Canh Ngọ quản khí. Ngọ thuộc dương, dương đi từ dưới lên nên bắt đầu từ hào sơ của quẻ Kiền. Đếm Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ từ dưới lên trên, hết vòng lại trở lại, thì Ngọ rơi vào hào sơ cửu. Hào dương chín năm qua một hạn. Đến ba mươi tuổi, người ấy ở hào cửu tứ được ba năm. Hào sơ cửu động thì quẻ Kiền biến thành quẻ Cấu, gọi là quẻ dựng nghiệp, hạn của nửa sau đời.
Quẻ của năm qua và quẻ của từng tháng
Quẻ của năm qua, gọi là lưu niên, lấy từ hạn kiếp sống, thêm số tuổi của năm cần xét, rồi trừ vòng sáu mươi bốn quẻ. Số dư vào quẻ nào thì đó là quẻ năm qua. Hào động lấy theo cách giống phép đoán hạn lúc ra đời. Như số một là Kiền, số mười một là Thái, cứ thế mà tính.
Với người sinh năm Giáp Tuất đang ở tuổi ba mươi: bốn trụ sinh cùng số thu mầm cộng lại được một trăm ba mươi tám, thêm năm mươi lăm của trời đất thành một trăm chín mươi ba. Trừ ba lần vòng sáu mươi bốn còn dư một, tức quẻ Kiền. Cộng thêm tuổi ba mươi, được ba mươi mốt, rơi vào quẻ Hàm, đó là quẻ hạn năm qua. Muốn biết hào động, xem hạn một trăm lẻ sáu đến cung nào. Hạn đến cung Thân thuộc dương, nên chỉ dùng hào dương, bắt đầu từ hào cửu tam, khởi từ Canh Tý thuận đến Thân thì được hào cửu ngũ. Đó là hào vào việc. Luật là dùng dương thì không lấy âm, dùng âm thì không lấy dương.
Quẻ tháng lấy quẻ năm qua, thêm hai toán của trời đất. Tháng giêng ở Dần làm đầu, mỗi tháng thêm một toán, đến tháng mười hai thì thêm mười hai toán. Dùng vòng sáu mươi bốn quẻ mà trừ, số dư vào quẻ tháng đang cầu việc. Muốn biết hào động của tháng, lấy quẻ cầu được, tháng dương dùng hào dương đếm từ dưới lên, tháng âm dùng hào âm đếm từ trên xuống, theo cùng cách ấy thì được hào vào việc.
Tiếp tục thí dụ: quẻ năm qua của người ấy là ba mươi mốt tức Hàm, vào việc dùng số ba mươi mốt, thêm hai toán đầu thành ba mươi ba. Tháng giêng ở Dần thêm một toán, cộng lại ba mươi bốn, quẻ tháng là Đại Tráng. Tháng hai ở Mão thêm hai toán, tổng ba mươi lăm, được quẻ Tấn. Cứ thế mà tìm thì được quẻ vào việc của từng tháng, rồi lấy hào động như trên.
Quẻ ngày và quẻ giờ
Quẻ ngày lấy từ số của quẻ tháng đã tìm, thêm số ngày trong vòng sáu mươi ngày Giáp Tý. Dùng vòng sáu mươi bốn quẻ mà khử, số dư vào quẻ ngày. Ngày Giáp Tý thêm một, Giáp Tuất thêm mười một, Ất Hợi thêm mười hai, cứ thế mà theo. Quẻ ngày là quẻ của việc cầu trong ngày ấy. Ngày dương dùng hào dương, ngày âm dùng hào âm, đếm từ trên xuống hoặc từ dưới lên như trên.
Quẻ giờ cũng tính theo lệ quẻ ngày. Tóm lại, quẻ và hào của kiếp sống cho biết đời sống tiến lui lành dở. Quẻ và hào của năm qua cho biết mọi việc trong năm ấy. Quẻ và hào của tháng, ngày, giờ cho biết việc của một tháng, một ngày, một giờ.
Hạn Lộc bay và hạn Ngựa bay
Ngoài hai hạn lớn ấy còn một cặp hạn nữa, đi cùng nhau như con nai và con ngựa, một con chạy xuôi một con chạy ngược.
Lấy can của năm sinh, chiếu theo số sinh của năm hành, rồi từ cung gốc sống mà khởi hạn. Mười năm là một rời, tức là qua một cung. Hạn Lộc đi xuôi, hạn Ngựa đi ngược. Hạn đến cung nào thì xem cung ấy có sao cát hay sao hung, nặng hay nhẹ mà biết lành dở. Mỗi cung có ba sao hoặc bốn sao, chia ra thiện và ác để đoán.
Nguyên tắc chung là cát nhiều, hung ít, không hại thì cát. Hung nhiều, cát ít, không hại thì hung. Từ nét lớn mà nhìn, người đời không ai toàn mười phần, nên phải châm chước nặng nhẹ, nở mòn, sâu nặng. Cát nhiều hung ít mà sao hung đứng nơi cao cường thì vẫn thành họa hoạn được. Hung nhiều cát ít nhưng sao phúc đến cung mạnh khá thì phúc cũng sáng tỏ. Điều diệu nằm ở việc cân nhắc quyền lượng nhẹ nặng để xét sự biến thông, không thể bám cứng một lối.
Thí dụ người sinh năm Giáp hoặc Ất thuộc Mộc, loại số ba, hạn Lộc khởi từ ba tuổi ở cung Hợi, mười năm một cung. Các can khác suy theo đó mà tìm.
Nguồn: Nguyễn Bỉnh Khiêm, Thái Ất thần kinh.
