Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Nhập môn

Bài tổng quan

Âm thanh, luật lã và chín sao Bắc Đẩu của Thái Ất

Bói Dịch - Nhập môn03/10/202610 phút đọc3 lượt đọc
Âm thanh, luật lã và chín sao Bắc Đẩu của Thái Ất

Trước khi có lời nói đã có một tiếng ầm ầm không ai nghe rõ chạy khắp vũ trụ. Người xưa tin rằng hơi thở của một con người cũng đi theo đúng khuôn của tiếng ấy, qua ba nhịp hút, nín và thở. Và trên cao có chín sao Bắc Đẩu quay quanh một ngôi sao ẩn…


Trước khi có chữ viết, trước cả lời nói, đã có một tiếng ầm ầm không ai nghe rõ chạy khắp vũ trụ. Người xưa tin rằng tiếng ấy chính là cội nguồn của mọi âm thanh, và rằng nhịp thở của một con người cũng bước theo đúng khuôn của nó. Từ chỗ đó họ bước vào cái mà họ gọi là cái học tột cùng của Kinh Thái Ất: âm thanh.

Âm thanh là đơn vị của âm dương

Cái học tột độ của người xưa trong Kinh Thái Ất là âm thanh. Âm thanh được đo bằng một đơn vị âm dương đặc biệt, ứng với cả vòng sao chạy trên bầu trời, ứng với sông núi và ứng với hơi thở của con người, tạo nên âm điệu. Cặp lưỡng nghi âm và thanh còn gọi là Luật Lã, lấy lý rằng Luật là mẹ, Lã là con.

Âm thanh thì vô cùng, như hơi thở của người: một hô, một hấp. Hô thì mở, hấp thì đóng. Hút khí vào gọi là hạp, tống hơi từ đan điền lên, từ nơi mà bao trung, bao lạc cùng một thể với đan điền, thì gọi là hô, là thở ra, là phát âm. Cái thở hút của trời đất gọi là hạp tịch, mở đóng. Cách phát âm của mỗi người, mỗi phương mỗi khác, nhưng đều chung một luật gốc, đó là độ số của âm và độ số của thanh. Khi hút vào, khí âm dương của trời đất biến ra khí sống, hóa thành dương, rúc xuống đan điền mà thành hình thức âm thanh.

Khó lấy trí thức mà suy diễn âm thanh là gì, ngoài việc coi nó là sự va chạm, rung động, vận hành, cử động của khí Nguyên, tức khí Tiên Thiên, cùng một thể với khí Vô Cực. Chứng cứ là người ta đo được tần số âm thanh, mà lại có luồng hạ âm không thể đo cũng không nói thành lời được.

Chín sao Bắc Đẩu và bánh xe Hồng Quân

Trên cao có một ngôi sao ẩn đứng giữa làm trụ, tám ngôi sao khác quay quanh nó như tám người cùng giữ một nhịp.

Kinh Thái Ất cho rằng Thái Ất, số Một cả, thống hành chín sao trong tòa Bắc Đẩu, thuộc Tử Vi Viên. Người xưa biết trong tòa Bắc Đẩu có một sao ẩn gọi là Trung tâm Thiên Cực, mang tên Bắc Thần, làm trụ, và bảy sao chính cùng một sao ẩn xoay quanh, xếp thành tượng hình cái ghế, con gấu, cái gáo khổng lồ. Khoa học ngày nay mới tìm ra ngôi sao ẩn đó nằm gần sao giữa của chuôi cán, nơi bốn sao tạo bầu gáo và ba sao tạo chuôi. Truyền thuyết Ấn Độ gọi cặp sao ấy là Mizar và Alcor. Khoa học cũng cho rằng tòa Bắc Đẩu là một bầu mặt trời, và mỗi mặt trời trong bầu gáo, trong cán chuôi đều sẽ đổi hình thay dạng theo thời gian. Ngược về năm Chúa giáng sinh thì tòa sao vẫn gần giống cái gáo lớn. Ngược tới năm mươi nghìn năm trước, hình ấy không còn đúng là cái gáo. Ngược tới một trăm nghìn năm trước thì không còn nhận ra đó là Bắc Đẩu.

Người học Thái Ất đều biết câu Tam quang, tứ mộ, nghĩa thông thường là ba sáng, bốn mờ, chỉ hai phần sáng mờ của tòa Bắc Đẩu. Sáng mờ cùng một thể cử động, cùng một chất chính thực, và chất chính ấy là tinh thần thể hiện nơi vật chất đầu tiên, tức ngũ hành.

  • Bốn sao mờ tạo bầu gáo gọi là phần Khôi, gồm Khu, Toàn, Cơ, Quyền, ứng với bốn vị thế Trời, Đất, Người, Thời.
  • Sao ẩn nằm cách giữa hai phần có tên là Ngọc Hành, giữ về âm thanh.
  • Ba sao sáng tạo chuôi cán gọi là phần Tiêu: Xung, ở vị thế Âm, tên khác là Tiêu. Khai Dương, ở vị thế Luật, tên khác là Dao. Dao Quang, ở vị thế Độ làm Phụ Bật, tên khác là Du.

Bộ ba Tiêu, Dao, Du làm nên ngũ hành, tức ngũ âm, làm nên Nhân quân, và tượng hình cho vận động bằng tên Đế Xa, tức bánh xe Hồng Quân. Khoa Tử Vi gọi bảy sao ấy là Tham Lang, Cự Môn, Lộc Tồn, Văn Khúc, Liêm Trinh, Vũ Khúc, Phá Quân.

Vùng tối của vũ trụ và tiếng ầm ầm đầu tiên

Trước mọi hiện tượng có một vùng tối không bờ, không số mà tròn đầy, viên mãn, chứa trong nó một khí Vô Cực, tức Hỗn Nguyên nhất khí. Câu nói Thiên nhất sinh Thủy, Địa lục thành chi diễn tả vòng số một bởi số sinh, vòng bọc ngoài là số sáu làm số thành. Vùng tối bao la ấy luôn luôn rung động, đổi mới, chỉ lộ ra bằng các hiện tượng, trong đó âm thanh chiếm phần số một và đi trước tất cả: đó là Đại Âm Hy Thanh.

Bốn nguyên tố ban đầu tỏa ra từ cõi rung động ấy, vận hành thành Đại Âm Hy Thanh, tiếng ầm ầm rộn mà không tỏ lời. Nguyễn Du gọi nó là Không thanh. Theo lối Nam Hoa Kinh thì nó là ông Hỗn Độn, theo lối Thái Ất thì là Thái Ất Chân Nhân. Bốn nguyên tố ấy ở giai đoạn thể khí, khí và vật chất còn trộn lẫn như gió lốc. Từ đó phát ra một thể chất đổi mới gọi là Hơi sống. Từ đó nảy sinh cặp lưỡng nghi giao hoán nhau: tinh thần thể hiện ra vật chất. Tinh thần được ví như mẹ, như thể, như âm luật, như hơi sống của vũ trụ. Vật chất được ví như chính chất tinh ròng ban đầu đã nhập thể và nhập thế, tức có phục biến âm thanh.

Chu trình của âm thanh vì vậy có sinh, có thành, có phục biến từ âm sang thanh. Nói cách khác, hơi sống và sức động là nguồn gốc của âm thanh.

Ba nhịp thở sinh ra tiếng nói

Nơi con người, âm thanh trở thành tiếng nói và chữ viết sau ba chu kỳ: hút vào, thở ra và nín hơi sâu trước khi thở ra, gọi là đạo dẫn hay đạo khí. Cả ba cùng một thể với câu Một sinh hai, hai sinh ba, ba sinh vạn vật.

  • Nhịp hút vào diễn ra ở tâm điền và đan điền. Hơi sống và sức sống được vận hành bằng sự hút vào thân xác, xưa gọi bằng tiếng Phạn là Prâna. Hơi hút ấy biến ra thể dương gọi là Apâna, nghĩa là hợp nhập, hội tụ, hòa đồng với cơ quan phát tiếng, tên là Udâna, và lẫn với khí đan điền bên trái vùng rốn, tên là Samâna.
  • Nhịp nín hơi diễn ra trong im lặng, tức thiền định, đạo dẫn. Hơi hút vào tự phân cực. Một thể đi lên mở lối cho cơ quan thứ bảy là Manas, trí khôn, ý thức và tinh thần, gọi là chân nguyên khí, tượng bằng vị thần nữ Lời Nói. Thể kia hòa vào khí đan điền. Hai thể lưỡng nghi phân cực chuẩn bị cho nhịp sau. Nhịp này tạo ra biểu tượng mới là vòng tròn trắng, hình như số không viên mãn, tức Mẹ tạo dựng vũ trụ lời nói và trí khôn hợp làm một.
  • Nhịp thở ra diễn ra khi hơi sống đã thành năng lực thì được tống ra qua cơ quan phát thanh, cộng hưởng với dây thanh ở huyệt Thước kiều và với Manas thành âm. Âm ấy cộng hưởng nữa với cửa miệng, lưỡi, môi, răng, mũi thành thanh, tức tiếng nói.

Tổng thể ba nhịp ấy là sự cộng hưởng của cả ba thể khí hội tụ, biến hóa từ một sang hai, từ hai sang ba. Con số ba là biểu tượng của việc đại hóa, và văn chương ghi lại bằng câu Thiên tam sinh Phong mộc. Cho nên âm thanh hiện ra từ gốc Phong mộc và ứng với ngũ hành mang tên Ngũ âm. Ngũ âm lấy Thổ vận làm trung ương diện cực, cho các âm khác quay vòng tương sinh theo Thái và Thiếu. Người xưa gọi đó là Ngũ âm kiến vận, Thái Thiếu tương sinh và Ngũ bộ thôi vận. Các tiên nho cũng quan sát rằng người phương Đông nói từ răng phát ra, gọi là xỉ âm. Người phương Tây nói từ môi, gọi là thần âm. Người phương Nam nói từ cửa miệng, gọi là ngạc âm. Người phương Bắc nói từ cổ họng, gọi là hầu âm.

Cung Thương làu bậc Ngũ âm

Khí ở ngũ vận trong chủ vận phân ra thái quá, bất cập, có chính hóa, kiêm hóa, rồi lại phải ứng với lục khí của khách vận. Cho nên âm luật trước hết phải đem âm phối hợp với ngũ hành. Thiệu Khang Tiết nói rằng âm là hấp của hô, tức ba chu kỳ tạo ra sự diễn tiến của âm thanh thành hình, nói về thể âm. Thể âm có ba lần, ba chu kỳ đi lần lượt vòng quanh trung cung, gọi là tiếng cung thương. Khi thăng giáng theo khí địa chi, gọi là tức, gọi là tiêu, thì thành hai lần tiếng. Tiếng là thanh, gặp số tỏ thì trong, ứng khi khí hô, mở ra, tức hạp. Gặp số chấn thì đục, ứng khi khí hấp, đóng lại. Đó là gốc tạo hình âm thanh qua ba chu kỳ đã kể, cần lọc để tự phân cực âm dương ra ngũ âm, gọi là Luật Lã.

Luật gọi sáu âm trong, dương thanh. Lã gọi sáu âm đục, âm thanh. Người xưa dùng nhạc khí để hòa hợp ngũ âm. Dùng ống sáo thổi ra sáu âm thuộc Luật, đặt tên là Hoàng Chung, Thái Thốc, Cô Tẩy, Nhuy Tân, Di Tắc, Vô Dịch. Dùng tiêu, tức sáo đất, ống dài và to, thổi dọc, khác với sáo thổi ngang, để hòa âm thuộc Lã, âm đục nặng, đặt tên là Đại Lã, Giáp Chung, Trọng Lã, Lâm Chung, Nam Lã, Ứng Chung.

Luật xướng thì Lã hòa, và số hòa là số ứng với cung thương, trước hết là định luật hòa số của Thái Ất. Âm thanh trọng nhất ở chỗ hòa. Âm thanh phải lấy số mà khởi, lấy độ, tức cung bậc, âm điệu, mà hợp. Như vậy gọi là toàn số âm thanh, gồm lý khí, lý số khí, số ngũ âm, số nạp giáp, số can chi, số nạp âm, số hợp quẻ, số hòa, và nhiều số khác mà Thái Ất cung cấp. Nhờ toàn số âm thanh, trong đó cung thương làm chủ lẽ âm hòa, dương hòa, âm dương hòa hợp theo số Thái Ất, người ta dự đoán được những việc lành dữ, thành bại, trị loạn, hưng suy, hoãn cấp, cương nhu, chậm mau, xa gần như thật xảy ra trước mắt. Biết sáo trời, tức đạo trời, sáo đất, tức đạo đất, sáo người, tức nghệ sĩ tài ba, thì biết việc trời đất, luật lệ vạn vật thiên nhiên xưa nay, tình hình các nước trong ngoài và tính tình các dân tộc khắp bốn phương. Câu thơ Nguyễn Du viết trong Truyện Kiều: Cung Thương làu bậc ngũ âm, được hiểu theo nghĩa hòa số gốc ở cung thương, hòa âm hòa dương, đó là bậc đại nhạc sĩ.

Sáu cặp can chi thuộc về sáu quẻ

Trong việc gắn ngũ âm với các quẻ, người xưa nêu ra một bảng sáu nhóm: Canh thuộc Chấn, Tân thuộc Tốn, Mậu thuộc Khảm, Kỷ thuộc Ly, Bính thuộc Cấn, Đinh thuộc Đoài. Mười hai chi chia theo đó: Tý và Ngọ thuộc Canh, Sửu và Mùi thuộc Tân, Dần và Thân thuộc Mậu, Mão và Dậu thuộc Kỷ, Thìn và Tuất thuộc Bính, Tỵ và Hợi thuộc Đinh.

Nguồn: Nguyễn Bỉnh Khiêm, Thái Ất thần kinh.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Nhập môn