Bài tổng quan
Mười lăm dấu hiệu năm hạn, phản ngâm phục ngâm và phép di chuyển
Có những năm không cần chuông báo: đại vận xung đề cương, tuế vận cùng gặp, một hành vượng cực lại gặp xung. Người xưa gom những dấu hiệu ấy thành mười lăm điều, rồi đem đối chiếu với những cuộc đời đã đi qua: người gãy chân vì một năm phản ngâm, người mất trọn xe hàng vì hai xe đâm nhau giữa đường. Và lời khuyên chung rút ra lại ngắn gọn, chỉ một chữ: động...
Có những năm không cần chuông báo: đại vận xung đề cương, tuế vận cùng gặp, một hành vượng cực lại gặp xung. Người xưa gom những dấu hiệu ấy thành mười lăm điều, rồi đem đối chiếu với những cuộc đời đã đi qua: người gãy chân vì một năm phản ngâm, người mất trọn xe hàng vì hai xe đâm nhau giữa đường. Và lời khuyên chung rút ra lại ngắn gọn, chỉ một chữ: động...
Mười lăm dấu hiệu năm hạn trong Tứ trụ
Một: dụng thần bị khắc lại gặp năm có kỵ thần vượng. Ví dụ quan tinh là dụng thần mà rơi vào vận thương quan thì năm ứng hạn, người có chức sẽ bị hạ chức, người dân thường ứng vào đau ốm. Có cứu thì gặp hung hóa cát, không cứu thậm chí có thể tử vong. Thương quan gặp quan, gặp tài là có cứu, phần nhiều ban đầu trắc trở về sau tự hóa giải.
Hai: tuế vận cùng gặp, nhất là gặp kình dương, thất sát. Nói chung đều gặp tai ách nhất định, nặng thì không chết mình cũng mất người thân. Nếu tài, quan, ấn là dụng thần thì trước lo sau qua được. Năm ứng hạn có thể liên lụy đến lục thân nên phải xem xét toàn diện; năm ứng hạn thường tự mình giải lấy, chủ yếu căn cứ hỉ, kỵ thần để lợi dụng hay tránh.
Ba: đại vận xung đề cương, cộng thêm năm, tháng, ngày hay giờ của tứ trụ gặp xung, thì cần đề phòng bản thân hoặc người thân gặp nạn; nếu dụng thần còn bị xung thì hạn nặng hơn. Rất nhiều người không qua khỏi những năm như vậy, nên phải xem thật kỹ trường hợp hai xung một. Bốn: năm thiên khắc địa xung ở các tuổi sáu, năm mươi tư, sáu mươi sáu; vận tốt thì gặp xung hóa cát, vận xấu thường khó tránh tai nạn. Năm: năm bản mệnh, chẳng hạn sinh năm mão gặp lưu niên mão. Sáu: trụ ngày xung khắc lưu niên thì tai ách rơi vào bản thân, vợ, con hoặc cha. Bảy: mệnh ngũ hành thiên khô thì năm hay vận vượng cực hoặc nhược cực sẽ ứng nghiệm tai ách. Tám: năm gặp ba xung một hoặc một xung ba, tuế vận của tứ trụ xung loạn lên.
Chín: một hành nào đó của tứ trụ vượng mà gặp ngũ hành xung khắc. Ví dụ ngọ hỏa vượng mà gặp năm tý, thủy nhược xung hỏa vượng thì phần nhiều bị bệnh thận; ngược lại cũng thế. Mười: những năm giao nhau giữa hai vận. Như các năm khởi vận mười lăm, mười sáu tuổi, hay hai mươi lăm, hai mươi sáu tuổi, phải đặc biệt chú ý, vì khí trường dao động lớn; năm chuyển tiếp giữa hai vận phải hết sức đề phòng, nếu còn gặp xung thì dễ sa lầy, khó thoát. Mười một: năm hay vận mà nhật can nhập mộ, hoặc mộ bị xung khai, thường ứng nghiệm; nhật chủ nhược thì càng nặng. Mười hai: năm hay vận có hung thần ác sát, vong thần, bạch hổ trùng điệp thì phải đề phòng đổ máu.
Mười ba: năm kề trước hoặc kề sau năm hung. Ví dụ nhật chủ là Mậu thìn, năm 1994 là Giáp tuất, thiên khắc địa xung, thì nửa cuối năm 1993 đã phải chú ý; nếu năm 1994 chưa hóa giải được hoặc chưa ứng nghiệm thì năm 1995 vẫn phải đề phòng. Ấy là vì khí trường dao động, hoặc tai họa còn tiềm ẩn, chưa có cớ bùng nổ. Mười bốn: đại vận không tốt thì dù lưu niên ra sao cũng có khả năng gặp hạn; hoặc đại vận và lưu niên đều gặp hung là dấu hiệu hạn nặng. Mười lăm: đại vận, lưu niên đều tốt mà vẫn gặp nạn chết người, thì phần nhiều do mấy năm trước không tốt dẫn đến; cá biệt có trường hợp không rõ nguyên nhân thì chắc chắn là do nguyên cớ khác, chẳng hạn phong thủy đại hung.
Những lá số nhân vật lịch sử và những cuộc đời đã đi qua
Một vài lá số của các nhân vật lịch sử Trung Hoa hiện đại được dẫn ra để đối chiếu. Về Mao Trạch Đông: âm dương hài hòa, cương nhu đều đủ, Giáp mộc hai hàng, cảnh tượng hùng vĩ; kim cứng gặp hỏa, mũi kiếm càng sắc; kình dương, thất sát rõ ràng, uy khắp trời đất, cưỡi rồng đạp gió, quý đến bậc thiên tử. Năm 1976, đại vận và lưu niên đều là Bính thìn, dậu kim nhập mộ nên qua đời. Về Hạ Long: người sinh tháng hai, Giáp mộc khôi hoa, vĩ đại, mũi đao sắc nhọn lại hợp Bính Tân, là người thi thố nơi sa trường; năm 1969 kình dương gặp xung, nhật chủ phản ngâm nên qua đời. Về Bành Đức Hoài: tháng chín Canh kim, trước hết dùng Nhâm, Giáp, có hỏa tôi luyện thành vạc lớn; năm 1974 gốc bị xung phá, vượng hỏa của tam hợp đốt thiên can Nhâm thủy nên qua đời. Về Chu Đức: tháng trọng đông Ất mộc, trước dùng Bính hỏa, chi năm là tuất, là mộ kho; năm 1976 xung phạm thái tuế nên qua đời. Về Lâm Bưu: thương quan trùm lên ấn, hỏa địa diệu kỳ; vận Ất tị thương quan gặp quan, lận đận đã rõ ràng; năm 1971 phản ngâm, phục ngâm xung chiếu, máy bay tan, thân nát.
Còn đây là những ca người ngoài đời thực. Một người đàn ông có lá số Ất tị, Canh thìn, Kỷ mão, Ất sửu, đại vận Tân mùi. Năm 1991 tuế vận cùng gặp, mộ được xung khai, tháng sáu ốm thập tử nhất sinh, nhờ giúp mấy ngày mới đỡ. Năm 1993 nhật chủ phản ngâm, tháng sáu ngã gãy chân phải. Năm 1995 kình dương gặp xung, tam hợp, tam sát bao vây nhật chủ, tháng tư qua đời.
Một người phụ nữ có lá số Mậu tý, Ất sửu, Nhâm tý, Giáp thìn, đại vận Canh thân. Thủy thịnh, hỏa thiếu nên bị bệnh tim; từ 1990 đến 1993 liên tục bất lợi, mắt bị mù. Năm 1994 là năm giao vận, tuy có dụng thần nhưng vẫn qua đời. Một người phụ nữ khác có lá số Giáp thìn, Nhâm thân, Giáp ngọ, Đinh mão, đại vận Mậu thìn: đầu thu hỏa khí mạnh, bốn mộc hai hỏa càng giúp thế. Vận trước cơ thể đã không tốt, khí sắc xấu. Năm 1994 phạm xung thái tuế, bệnh tim bộc phát; sau khi nằm viện chữa khỏi, năm 1995 kết hôn. Năm 1996 vừa là giao vận lại xung nhật chủ; mùa thu đi Quế Lâm phẫu thuật nhưng thất bại, buồn bực mà mất.
Một người đàn ông có lá số Bính tý, Nhâm thìn, Quý dậu, Ất mão, đại vận Mậu tuất. Năm 1994 hai tuất xung đề cương, mắc bệnh động mạch vành, chữa không hiệu quả, kéo sang tháng tư năm 1995 thì mất. Một người phụ nữ có lá số Mậu ngọ, Bính thìn, Nhâm tý, Ất tị, đại vận Kỷ dậu: năm 1995 thương quan gặp quan, thìn gặp dậu hợi thành tự hành kim; mùa đông phát bệnh, kéo sang năm 1996 kình dương gặp xung, tháng hai thì mất.
Những ca gần đây hơn. Một người phụ nữ có lá số Canh thìn, Mậu dần, Quý mão, Ất mão, đại vận Quý dậu: hai năm 1992, 1993 bệnh tim chưa nghiêm trọng lắm; năm 1994 vào viện mổ; năm 1995 rơi vào khủng hoảng tinh thần nặng, may được cứu kịp; năm 1996 sức khỏe phục hồi. Một người phụ nữ khác, tháng sáu năm 1995 đi xe đạp về phía đông nam, bị ô tô đâm gãy mấy xương sườn, về sau chữa khỏi; mùa đông năm ấy dùng lò sưởi than đặt dưới giường, người chồng bị ngộ độc khí than suýt chết, đến nay để lại di chứng ở não, phản ứng chậm chạp. Một người phụ nữ có lá số Kỷ hợi, Quý dậu, Tân mão, Đinh dậu, đại vận Đinh sửu: năm 1995 là năm tài, vận sát, làm ăn còn khá, nhưng tháng mười bỗng trúng phong, cấm khẩu mấy ngày; chữa nhiều bệnh viện không hiệu quả, đến lúc gần chết mới được một thầy đông y chữa khỏi.
Một người đàn ông có lá số Quý mão, Tân dậu, Mậu tuất, Quý sửu, đại vận Mậu ngọ: năm 1994 nhật chủ phản ngâm; tháng chín đưa hàng đi Quảng Châu, giữa đường hai xe đâm nhau, hàng cháy trụi, người bị thương rất nặng; mất của nhưng may còn giữ được mạng. Hai anh em, một người có lá số Nhâm tý, Canh tuất, Canh dần, Canh thìn, một người có lá số Ất mão, Quý mùi, Mậu thìn, Giáp dần, cùng gặp lưu niên Tân mùi: năm 1991 hai anh em tranh chấp, không ai nhường ai, người em đâm dao vào người anh suýt chết.
Qua các ca ấy thấy giàu nghèo, sang hèn đều chịu ảnh hưởng của mệnh vận. Năm gặp tai ách không nên có tâm lý may rủi: nếu năm ấy qua được thì chẳng qua tai nạn còn tiềm tàng, tích lâu nhất định sẽ bộc phát.
Phản ngâm và phục ngâm: tăng áp lực lên nhật chủ
Có hai cách để một năm đè lên người: đối diện xô vào, hoặc chồng lên và ép xuống.
Tam mệnh thông hội viết: tuế và vận ngược với nhật chủ là phản ngâm; tuế và vận áp lên nhật chủ gọi là phục ngâm; cả hai trường hợp đều không lợi cho lục thân, không phá tài thì cũng chẳng phải điều tốt. Tuế, vận ngược với nhật chủ nghĩa là tuế, vận cùng trụ ngày thiên khắc địa xung: nhật nguyên Bính tý gặp lưu niên Canh ngọ, hay nhật nguyên Quý mùi gặp lưu niên Đinh sửu đều gọi là phản ngâm. Tuế, vận áp lên nhật chủ là can chi của tuế vận giống can chi trụ ngày: nhật nguyên Bính tý gặp lưu niên Bính tý, hay Đinh sửu gặp Đinh sửu, gọi là phục ngâm.
Suy rộng ra, mỗi trụ của tứ trụ và của tuế vận đã gặp xung đều gọi là phản ngâm. Phản là phản đối, đối xung, gặp xung tất bị tổn thương. Mỗi cặp can chi giống nhau trong tứ trụ hay tuế vận đều gọi là phục ngâm. Phục là tăng áp lực, làm cho chịu không nổi. Vì các trụ khác có tác dụng bổ hay tả quyền hành cho trụ ngày, nên gặp phản ngâm hay phục ngâm chưa chắc đã xấu. Trụ ngày là nhật chủ; dù vượng hay suy, cường hay nhược, gặp phản ngâm hay phục ngâm thì đặc biệt nghiêm trọng, nên phản, phục ngâm là nói đối với nhật chủ.
Tính của thiên can là động; động gặp xung chưa chắc đã xung, động gặp phục ngâm chưa chắc đã tăng áp lực. Tính của địa chi là tĩnh; tĩnh gặp xung chưa chắc đã xung, nhưng tĩnh gặp phục ngâm thì chắc chắn tăng áp lực. Cho nên phản ngâm, phục ngâm, lưu niên, thái tuế phần nhiều nói theo địa chi. Nếu cả thiên can lẫn địa chi đều phản hay phục ngâm thì tai ách đương nhiên nặng hơn.
Đối với bản thân tứ trụ thì có những câu xưa: đề cương gặp xung là bại tan tổ nghiệp, ấy là trụ tháng phản ngâm; trụ ngày xung khắc trụ năm là người không nương được tổ nghiệp, ấy là trụ ngày phản ngâm với trụ năm; chi tháng giống chi năm là tổ tiên không để lại cơ đồ, ấy là trụ năm và trụ tháng phục ngâm. Trụ năm xung phạm thái tuế phần nhiều gặp tai nạn, đó là trụ năm phục ngâm. Năm gặp bản mệnh phần nhiều gặp tai nạn, cũng do trụ năm phục ngâm. Năm đại vận gặp xung phần nhiều gặp tai nạn, do đại vận phản ngâm. Tuế vận đều gặp thì không chết mình cũng chết người thân, do đại vận phục ngâm. Nhiều can chi của tứ trụ và tuế vận cùng xung khắc một trụ nào đó là phục ngâm cộng thêm phản ngâm, gọi là phản, phục ngâm; nếu dụng thần bị tổn thương thì hạn càng nặng. Hiểu rõ những điều này thì hóa giải được nhiều tai ách; và phản, phục ngâm ở đây đều nói theo nghĩa rộng.
Can chi là trường lực có hướng: vì sao phải di chuyển
Thiên can, địa chi là những ký hiệu đại biểu cho trường lực trong không gian ở một thời điểm nào đó, có tính định hướng như từ trường. Các đường sức của một can hay một chi luôn song song, không giao nhau. Ví dụ phương tây bắc của người Bắc Kinh khác với phương tây bắc của người Quảng Tây, nhưng khi gặp thìn tuất xung nhau, người Bắc Kinh có thể đi đến Nội Mông, còn người Quảng Tây đi lên phía Tây Tạng hoặc Tân Cương. Nhâm, quý, tý hướng bắc; sửu, dần hướng đông bắc; giáp, ất, mão hướng đông; thìn, tị hướng đông nam; bính, đinh, ngọ hướng nam; mùi, thân hướng tây nam; canh, tân, dậu hướng tây; tuất, hợi hướng tây bắc; mậu, kỷ thuần thổ, tính trung nên hướng không rõ. Tứ trụ có tám can chi; nếu tám can chi đều khác nhau thì có tám hướng, và kết quả tác dụng của trường lực tám can chi ấy định hướng hành vi của con người. Nếu tác dụng cân bằng, can chi có thể kéo một hành thiên lệch trở về cân bằng, và can chi ấy thành dụng thần hay hỉ thần.
Cho nên người có tứ trụ hỏa quá vượng thì trường lực hướng về phương bắc, và đi về phương nam rất tự nhiên mà dễ gặp tai nạn. Ấy là nguyên lý vật tụ theo loại, người tụ theo nhóm. Nếu trong tứ trụ có ngọ, gặp năm tý phản ngâm sẽ phát sinh trường lực nam bắc đối nhau. Vì tý là trường lực của vũ trụ, lực lớn, nên suy ra con người tránh trường lực tý ngọ thì vô hại. Đó là nguyên nhân gặp phản ngâm thì năm ấy di chuyển nhiều hơn năm bình thường là cách hóa giải tốt nhất. Nếu không di chuyển, hoặc di chuyển theo phương tý ngọ mà dụng thần lại nhược, thì nguy hiểm chẳng khác trứng chọi với đá, khó thoát tai ách. Nếu có hai hoặc ba tý xung một ngọ thì nguy hiểm càng lớn. Ngược lại, trong tứ trụ có mùi hợp chặt ngọ thì khó xung khai nên tránh được tai họa. Trong tứ trụ đã có ngọ, lại gặp năm ngọ phục ngâm thì càng nặng thêm; hoặc vì có ngọ mà trường lực tăng thêm, đi về phương nam sẽ khó tránh tai họa. Dù kết quả ra sao, ban đầu cũng là buồn bực, trầm uất, nặng nề dần; nếu tổ hợp có cứu thì gặp hung hóa cát.
Từ đó rút ra: dù là phản ngâm hay phục ngâm, về nguyên tắc nên di chuyển, nếu không sẽ bị xung đổ hoặc bị áp đảo. Di chuyển lớn là đi xa, ít ra thì dời chỗ ở trong nhà, cố tránh xa thái tuế và trường lực đối xung. Đến những phương có lợi, di chuyển sẽ hóa giải được. Nhưng không riêng phản ngâm, mọi cách hóa giải tai nạn về nguyên tắc đều cần động: động là tránh xa, dựa vào địa lợi để chống lại thiên thời. Vì thế mà bậc thánh nhân lập ra Dịch thật có ý nghĩa sâu xa. Khổng Tử nói: chữ không nói hết lời, lời không nói hết ý. Ý của thánh nhân ta không thể nào hiểu hết.
Nguồn: Thiệu Vĩ Hoa, Trần Viên, Dự đoán theo Tứ trụ.
