Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Bát Tự Hà Lạc

Bài tổng quan

Thiên la địa võng, kình dương, kiếp sát, tai sát, cấu giáo, cô thần quả tú

Bói Dịch - Bát Tự Hà Lạc02/10/202617 phút đọc4 lượt đọc
Thiên la địa võng, kình dương, kiếp sát, tai sát, cấu giáo, cô thần quả tú

Người sinh ngày mồng một tháng Tuất năm Tuất đã mang thiên la cả năm, sinh ngày rằm thì mười lăm năm, thêm giờ Tuất thành ba mươi năm. Đàn bà goá gọi là quả, trẻ mất cha gọi là cô, còn cái chết của Nhạc Phi được giải bằng một ngôi kình dương gặp Thái Tuế. Những ngôi hung ấy tính thế nào, và vì sao có kẻ mang chúng mà vẫn lập công dựng nghiệp...


Thiên la địa võng: tấm lưới của những ngôi cùng cực

Người mệnh hỏa gặp Tuất, Hợi trong lá số là gặp thiên la; người mệnh thủy, mệnh thổ gặp Thìn, Tị là gặp địa võng. Thìn gặp Tị, Tị gặp Thìn thì là địa võng; Tuất gặp Hợi, Hợi gặp Tuất thì là thiên la. Từ đó có câu: nam kị thiên la, nữ kị địa võng.

Cách tra thiên la địa võng xưa nay không thống nhất. Có người lấy nạp âm của can chi năm sinh đem đối với ngày: người mệnh hỏa thấy ngày Tuất, Hợi là thiên la, người mệnh thủy thổ thấy ngày Thìn, Tị là địa võng. Có người lại lấy chi năm làm chủ, hễ địa chi trong Tứ trụ hoặc trên đại vận gặp các ngôi ấy thì cho là mệnh đã phạm. Từ đời Tử Bình trở về sau, phần đông lấy nhật nguyên làm chủ. Vì mỗi nơi tra một kiểu nên người nghiên cứu rất dễ rối. Theo kinh nghiệm của người viết, bất kể lấy chi năm hay lấy nhật nguyên, chỉ cần trong Tứ trụ có mặt các ngôi ấy là cứ coi như có thiên la hoặc địa võng.

Thuyết này có lý do của nó. Trời nghiêng về Tây Bắc, mà Tuất, Hợi là điểm cùng cực của sáu ngôi âm. Đất trũng ở Đông Nam, mà Thìn, Tị là điểm cùng cực của sáu ngôi dương. Âm dương đi đến chỗ cùng cực thì mờ tối, như người rơi vào cõi mênh mông không nhìn thấy đường, nên Tuất Hợi gọi là lưới trời, Thìn Tị gọi là lưới đất.

Rồng rắn lẫn lộn, lợn chó lẫn lộn

Vì sao nam sợ thiên la, nữ sợ địa võng? Thìn là rồng, Tị là rắn. Người tuổi Thìn gặp Tị, người tuổi Tị gặp Thìn là cảnh rồng rắn hỗn tạp. Nam hay nữ rơi vào cảnh ấy thì hôn nhân không thành, con cái bị hại, đời nghèo túng bệnh tật. Người Thìn gặp Tị nặng hơn người Tị gặp Thìn.

Hợi là lợn, Tuất là chó. Người Tuất gặp Hợi, người Hợi gặp Tuất là cảnh lợn chó lẫn lộn. Mệnh nam nữ gặp phải thì đần độn ngu muội, cản trở cha mẹ, khắc vợ; người Tuất gặp Hợi nhẹ hơn người Hợi gặp Tuất.

Trong đó lại chia ra: mệnh hỏa có thiên la, mệnh thủy thổ có địa võng. Người mang cách ấy phần nhiều trễ nải, chậm chạp. Nếu lại đi cùng ác sát thì ngũ hành không còn khí, mọi thứ đều quy về điềm chết chóc; hành vận đến đó thì khó tránh.

Cộng dồn các ngôi: nặng thêm từng lớp

Người sinh ngày mồng một, tháng Tuất, năm Tuất là phạm thiên la cả năm. Người sinh ngày mười lăm thì phạm mười lăm năm thiên la. Nếu lại sinh vào giờ Tuất nữa thì mức ấy tăng lên thành ba mươi năm thiên la. Tháng Hợi, năm Tuất hoặc giờ Hợi, ngày Tuất gặp nhau thì tai họa kéo dài không dứt. Gặp cả thiên la lẫn địa võng thì càng nặng thêm một bậc.

Trong đời thực, người mang thiên la địa võng thường hay gặp nạn về hình pháp. Vì thế ai có hai ngôi này trong Tứ trụ cần sống cẩn trọng, tôn trọng pháp luật, không nên manh động, nếu không khó tránh cảnh lao tù. Hai ngôi này còn chủ về tai nạn và bệnh tật; khi hành vận đến đó thân thể thường gặp bất lợi, nên phải chú ý rèn luyện và đề phòng bệnh.

Mệnh kim, mệnh mộc có thật sự được miễn?

Có thuyết cho rằng người mệnh kim, mệnh mộc không có thiên la địa võng. Sách xưa nói không giống nhau, và ông cho rằng người xưa nói vậy vì ba nguyên nhân.

Thứ nhất, trong mười hai địa chi, người xưa xếp Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tị là dương, còn Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi là âm. Dương bắt đầu ở Tý Sửu và kết thúc ở Thìn Tị; âm bắt đầu ở Ngọ Mùi và kết thúc ở Tuất Hợi. Dần Mão là mộc, đứng giữa, Tý Sửu ở trước, Thìn Tị ở sau, nên mộc không có thiên la. Thân Dậu là kim, Ngọ Mùi ở trước, Tuất Hợi ở sau, thân dậu nằm giữa chứ không ở cuối nên kim không có địa võng.

Thứ hai, người xưa cho rằng Tuất Hợi là cuối của sáu âm, Thìn Tị là cuối của sáu dương, từ đó suy ra hai mệnh kim, mộc không dính thiên la địa võng.

Thứ ba, thời ấy điều kiện hạn chế, giao thông lạc hậu, không có cách kiểm chứng xem mệnh kim, mệnh mộc có thật sự thoát hay không nên đã kết luận như vậy.

Học thuyết mệnh lý Trung Quốc được tổng kết qua thực tiễn rất lâu đời và ngày càng hoàn thiện. Thiên la địa võng phần nhiều chủ về tai nạn lao tù, mà thuyết cho rằng kim mộc không có hai ngôi này, qua khảo sát ngày nay, không hoàn toàn đúng. Những người mệnh kim, mệnh mộc sinh vào các năm Canh Thìn, Tân Tị, Canh Tuất, Tân Hợi, Mậu Thìn, Kỷ Tị, Mậu Tuất, Kỷ Hợi, mà số người ngồi tù thuộc các năm ấy cũng không ít hơn các loại người khác. Đó là chứng cứ phản bác rất rõ.

Người có thiên la địa võng trong Tứ trụ mà đi vào vận hoặc năm gặp sát tinh thì phải đề phòng phạm pháp. Nhưng cũng có khi gặp thiên la địa võng mà không chỉ không gặp họa còn nhận tin mừng bất ngờ: đó là những người trong Tứ trụ có giải cứu hoặc có thiên đức, nguyệt đức.

Kình dương: ngôi đế vượng đã đến cực

Giáp kình dương ở Mão, Ất ở Dần, Bính Mậu ở Ngọ, Đinh Kỷ ở Tị, Canh ở Dậu, Tân ở Thân, Nhâm ở Tý, Quý ở Hợi. Kình dương lấy can ngày làm chủ, địa chi nào trong Tứ trụ trùng với ngôi ấy là có. Lấy Nhạc Phi làm ví dụ: sinh năm Quý Mùi, tháng Ất Mão, ngày Giáp Tý, giờ Kỷ Tị, thì lệnh tháng chính là kình dương của can Giáp.

Về chỗ đặt kình dương của năm can âm, có độc giả cho rằng cách xếp trên là sai và nên xếp trước ngôi lộc một ngôi, tức Ất kình dương ở Thìn, Đinh Kỷ ở Mùi, Tân ở Tuất, Quý ở Sửu. Thật ra đó là cách lấy ngôi trước lộc một bước, và người xưa đã bàn qua. Có sách nói rằng các sách mệnh học xưa dùng Thìn Tuất Sửu Mùi để tính là không đúng: Ất sinh ở Ngọ, vượng ở Dần nên lấy Dần làm cung kình dương; Đinh Kỷ sinh ở Dậu, vượng ở Thân nên lấy Thân; Quý sinh ở Mão, vượng ở Hợi nên lấy Hợi, lý lẽ như vậy rất rõ ràng.

Một sách khác giải rằng kình là cứng, dương là cắt xẻ: lộc quá nhiều thì bị cắt. Lẽ âm dương của vạn vật là cái gì thịnh đến cực thì hỏng. Hỏa quá thịnh thì thành than, thủy quá thịnh thì tràn, kim quá thịnh thì gãy, thổ thì nứt, mộc thì gãy.

Chưa đến cực là phúc, đã đến cực thì quay lại thành xấu.

Lại có câu nói ngôi trước lộc một bước chính là chỗ đế vượng. Nghĩa là kình dương của năm can âm nên lấy ngôi đế vượng chứ không lấy ngôi thoái lộc: Ất kình dương ở Dần, Đinh Kỷ ở Tị, Tân ở Thân, Quý ở Hợi.

Từ những điều trên thấy rõ bản chất của kình dương: nó là một sát tinh đã đạt đến cực độ của hung, nằm đúng ở đỉnh của ngôi đế vượng. Đặt ngũ hành vào mười hai cung thì thấy ngay Ất kình dương ở Dần là ngôi đế vượng, Đinh Kỷ kình dương ở Tị cũng vậy. Về ngũ hành, kình dương luôn cùng loại với thiên can, là quan hệ anh em: Giáp kình dương ở Mão, Giáp là mộc, Mão cũng là mộc. Mậu Kỷ thuộc thổ, trong vòng sinh vượng tử tuyệt thổ gửi ở cung hỏa nên cũng cùng một mối quan hệ như thế. Cho nên chọn ngôi đế vượng để định kình dương là đúng, và quan trọng hơn cả, qua kiểm nghiệm thực tế nó đã chứng minh giá trị ứng dụng.

Kình dương ở từng trụ và khi đại vận gặp phải

Trong hành vận, người ta sợ nhất là gặp kình dương. Nó chủ về sự trì trệ, kéo dài; vận gặp kình dương thì của cải hao tán. Kình dương kiêm ác sát thì tai họa vô cùng. Kình dương không chỉ sợ gặp tuế vận mà còn sợ xung vào Thái Tuế, nên mới có câu: kình dương xung tuế quân thì tai vạ cực xấu. Cái chết của Nhạc Phi, xét theo mệnh lý, có một nguyên nhân là kình dương gặp tuế quân. Người khỏe mạnh mà gặp kình dương thì hay sinh ra những vấn đề nghiêm trọng.

  • Chi năm có kình dương: chủ về phá hoại những gì tổ tiên để lại, hoặc có khuynh hướng lấy oán trả ơn.
  • Chi tháng gặp kình dương: tính tình ngang ngược, khác người.
  • Chi ngày gặp kình dương: mắt lồi, nóng tính, hung bạo hại người, hay theo bè đảng. Gặp sinh vượng thì còn đỡ, gặp tử tuyệt thì nặng hơn. Ngũ hành lại gặp kình dương thì dễ gặp tai nạn đổ máu; ngày có kình dương còn chủ về vợ hay bệnh tật.
  • Chi giờ gặp kình dương: khắc vợ, khắc con, hoặc cuối năm hay gặp tai họa. Nếu đi cùng tài, quan thì họa khá sâu; xung hoặc hợp với tuế vận thì tai họa ập đến ngay.

Kình dương trùng phùng thì bị thương tổn, chủ nhân tính khí nóng gấp; nếu gặp hình xung thì rơi vào tai ách, nếu bị chế ngự thì mới tốt.

Tuy nhiên kình dương dù cứng rắn, nếu thân nhược gặp phải thì không thể kết luận là xấu, vì nó có công năng bảo vệ, giúp thân. Người có lộc còn cần kình dương để giữ lộc; gặp quan ấn cũng phải có kình dương mới tốt. Như thế gọi là quan ấn tương trợ, nhờ kình dương mới đem được lộc về. Trong mệnh có kình dương, thất sát vượng thì càng thông đạt tới ấn thụ, tức là nhờ kình dương trợ uy mà đạt được. Vì thế mệnh cục có kình dương nhưng không bị sát thì khi tuế vận gặp sát cũng có thể gặp phúc.

Gặp sát mà không có kình dương thì không thành đạt; có kình dương mà không có sát thì không có uy; có cả sát lẫn kình dương thì lập công dựng nghiệp, có thể làm tướng soái.

Tóm lại, kình dương là hung sát, phần nhiều chủ về tai họa, thương tật, và cả những tội phạm pháp. Thân nhược gặp kình dương thì nó giúp thân; thân mạnh gặp kình dương thì cái xấu càng tăng. Người kị kình dương nên làm việc thiện, biết tự kiềm chế, tôn trọng pháp luật thì tránh được điều xấu, giữ được an thân; nếu không thì suốt đời trắc trở.

Kiếp sát: cướp từ bên ngoài

Thân, Tý, Thìn thấy Tị; Dần, Ngọ, Tuất thấy Hợi; Tị, Dậu, Sửu thấy Dần; Hợi, Mão, Mùi thấy Thân. Cách tra lấy chi năm hoặc chi ngày làm chủ, địa chi nào trong Tứ trụ trùng với ngôi trên là có kiếp sát.

Trong vòng trường sinh đế vượng tử tuyệt, kiếp sát nằm ở ngôi tuyệt. Mộc tuyệt ở Thân nên Hợi, Mão, Mùi lấy Thân làm kiếp sát, vì trong Thân có Canh kim cướp Giáp mộc. Kim tuyệt ở Dần nên Tị, Dậu, Sửu lấy Dần làm kiếp sát, vì trong Dần có Bính hỏa cướp kim. Hỏa tuyệt ở Hợi nên Dần, Ngọ, Tuất lấy Hợi làm kiếp sát, vì trong Hợi có Nhâm thủy cướp hỏa. Thủy tuyệt ở Tị nên Thân, Tý, Thìn lấy Tị làm kiếp sát, vì trong Tị có Mậu thổ cướp thủy.

Kiếp nghĩa là đoạt, bị cướp đoạt từ bên ngoài gọi là kiếp. Kiếp sát tốt thì thông tuệ nhạy bén, tài trí hơn người, làm việc không chậm trễ, lòng rộng bao la, cao minh nhanh nhẹn, văn võ đều giỏi; gặp sinh vượng đi cùng quý sát thì lộc đến ngay. Kiếp sát hung thì lòng dạ độc ác, binh nghiệp thì bị thương, cướp bóc vô tình.

Kiếp sát là họa khôn lường, tài lợi danh trường bỗng chốc mất hết, phải đề phòng tổ nghiệp tiêu tan, vợ con không giữ được cuộc sống. Người Tứ trụ gặp phùng sinh và kiếp sát sẽ thành bậc nho sĩ chấn hưng sự nghiệp cho triều đình, nếu giờ sinh có cả quan quý thì làm quan to. Kiếp thân gặp quan tinh thì chủ về người nắm binh quyền, có uy và được nhiều người ngưỡng mộ.

Kiếp sát chủ về hung, về tai vạ bệnh tật, thương tích và hình pháp; trong Tứ trụ không gặp là tốt nhất. Nếu nó là kị thần thì tính cách cường bạo, gian hoạt, giảo trá, thường chuốc lấy tai họa. Nếu nó là cát tinh, hỉ thần hoặc dụng thần thì người ấy hiếu học, cầu tiến, ham lập nghiệp, chuyên cần, quả đoán, dễ thành công.

Tai sát: sao đứng trước kiếp sát

Dần, Ngọ, Tuất thấy Tý; Thân, Tý, Thìn thấy Ngọ; Hợi, Mão, Mùi thấy Dậu; Tị, Dậu, Sửu thấy Mão. Tai sát còn có tên bạch hổ, tính dũng mãnh, thường đứng trước kiếp sát, xung phá ngôi tướng tinh nên gọi là tai sát.

Cách tra lấy chi năm làm chủ, địa chi trong Tứ trụ thấy các ngôi trên là có. Tai sát là tai vạ do ngôi tướng tinh bị xung khắc. Như người sinh các năm Dần, Ngọ, Tuất thì Ngọ là tướng tinh, ngôi xung khắc với Ngọ là Tý, nên Tý chính là tai sát.

Tai sát sợ bị khắc, gặp sinh thì lại tốt. Trong Tứ trụ có tai sát thì phúc ít họa nhiều. Sát này chủ về đổ máu và chết chóc. Sát đi với thủy, hỏa thì phải đề phòng bỏng, cháy; đi với kim, mộc thì đề phòng bị đánh; đi với thổ thì đề phòng đổ sập, ôn dịch. Sát khắc thân là rất xấu. Nếu có thần phúc cứu trợ thì phần nhiều có quyền lực, cũng giống như kiếp sát, gặp quan tinh, ấn thụ là tốt.

Cấu và giáo: hai sợi dây ràng buộc quanh ngôi Mệnh

Hai ngôi cấu và giáo đều tính từ chi năm sinh, đếm ba bước tới và ba bước lui quanh ngôi ấy. Với nam dương và nữ âm, ngôi thứ ba sau chi năm là cấu, ngôi thứ ba trước chi năm là giáo. Với nam âm và nữ dương thì đảo lại: ngôi thứ ba sau là giáo, ngôi thứ ba trước là cấu.

Lấy một ví dụ: nam sinh năm dương Canh Ngọ. Đếm ba ngôi về phía sau từ Ngọ thì tới Dậu, đó là cấu; đếm ba ngôi về phía trước thì tới Mão, đó là giáo. Nữ cùng sinh năm Canh Ngọ thì Dậu lại là giáo, còn Mão là cấu. Các năm khác tính cùng một cách.

Cấu có nghĩa là liên lụy, giáo có nghĩa là trói buộc, cột vào. Mệnh mang hai sát này thì thân bị khắc, nhưng lại nhiều cơ mưu, thường nắm việc hình phạt, hoặc làm tướng soái, làm những việc có tính sát phạt. Năm hạn đi đến ngôi ấy hay gặp chuyện cãi cọ, hình phạt. Gặp cả hai thì nặng, gặp một thì nhẹ hơn, đi cùng quan sát thì nặng thêm.

Nếu ngày sinh hoặc tuế vận chạm vào cấu hay giáo thì chủ về tai nạn nát thân.

Cô thần, quả tú: người mẹ tuyệt, chồng vợ mộ

Người sinh năm Hợi, Tý, Sửu thấy Dần là cô thần, thấy Tuất là quả tú. Người sinh năm Dần, Mão, Thìn thấy Tị là cô, thấy Sửu là quả. Người sinh năm Tị, Ngọ, Mùi thấy Thân là cô, thấy Thìn là quả. Người sinh năm Thân, Dậu, Tuất thấy Hợi là cô, thấy Mùi là quả. Cách tra lấy chi năm làm chuẩn, các chi khác trong Tứ trụ trùng với những ngôi ấy là có.

Chữ cô, quả nghĩa là: đàn bà già mất chồng gọi là quả, trẻ nhỏ không còn cha gọi là cô. Thần và tú chỉ các ngôi sao thần. Người xưa giải lý do bằng quan hệ sinh khắc: sinh ra ta là mẹ, khắc ta là chồng, ta khắc là vợ.

Hợi, Tý, Sửu thuộc phương bắc ngôi thủy. Thủy lấy kim làm mẹ, mà kim tuyệt ở Dần, nên Dần là chỗ tuyệt của mẹ. Thủy lấy hỏa làm vợ, mà hỏa mộ ở Tuất, nên Tuất là ngôi mộ của vợ. Thân, Dậu, Tuất thuộc phương tây ngôi kim, kim lấy hỏa làm chồng, hỏa tuyệt ở Hợi; lấy mộc làm vợ, mộc mộ ở Mùi. Tị, Ngọ, Mùi thuộc phương nam ngôi hỏa, hỏa lấy mộc làm mẹ, mộc tuyệt ở Thân; lấy thủy làm chồng, thủy mộ ở Thìn. Dần, Mão, Thìn thuộc phương đông ngôi mộc, mộc lấy thủy làm mẹ, thủy tuyệt ở Tị; lấy kim làm chồng, kim mộ ở Sửu. Vậy nên chỗ mẹ tuyệt là cô thần, chỗ chồng mộ hoặc vợ mộ là quả tú.

Còn một lẽ khác. Dần, Thân, Tị, Hợi là bốn ngôi giáp góc; Thìn, Tuất, Sửu, Mùi là bốn ngôi cách góc. Tiến là dương, không lợi cho cha; lùi là âm, không lợi cho mẹ. Ở cung dương thì cha gặp trắc trở, ở cung âm thì mẹ gặp trắc trở. Như người có Dần, Mão, Thìn thì Tị là cô, Sửu là quả; Dần và Thìn đều là ngôi dương, Sửu và Tị đều là ngôi âm. Nam hay nữ trong mệnh gặp như vậy thì dù có sinh con, giữa mình với con cũng phần nhiều không hòa thuận.

Người trong mệnh có cô quả thường nét mặt không hiền hòa, không lợi cho người thân. Nếu mệnh sinh vượng thì còn đỡ, tử tuyệt thì nặng thêm. Gặp thêm trạch mã thì lang thang bốn phương. Gặp tuần không, vong thì từ nhỏ đã không có chỗ nương tựa. Gặp tang điếu thì cha mẹ mất nối nhau, đời hay gặp trùng tang hoặc tai họa chồng chất, anh em chia lìa, đơn bạc bất lợi. Gặp vận tốt thì hôn nhân đến muộn; gặp vận thấp kém thì dời chuyển mãi.

Mệnh nam sinh ở chỗ vợ tuyệt mà lại gặp cô thần thì suốt đời khó kết hôn. Mệnh nữ sinh ở chỗ chồng tuyệt mà lại gặp quả tú thì dù lấy được chồng cũng khó đi đến bạc đầu. Nam gặp cô thần nhất định tha phương cầu thực; nữ gặp quả tú thường hay mất chồng.

Về cô thần quả tú, người xưa bàn rất nhiều: chủ về hôn nhân nam nữ không thuận, mệnh khắc lục thân, tai vạ hình pháp. Nhưng nếu Tứ trụ phối hợp tốt, lại có quý thần nâng đỡ thì không đến mức nguy hại.

Cô quả cả hai thần lại còn gặp quan ấn, thì nhất định làm bậc đứng đầu nơi rừng sâu.

Tuy vậy, hôn nhân không thuận vẫn là điều chắc chắn, hơn nữa khi vận hoặc tuế chạm vào ngôi ấy thì sẽ khắc cha mẹ.

Nguồn: Thiệu Vĩ Hoa, Trần Viên, Dự đoán theo Tứ trụ.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Bát Tự Hà Lạc