Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Tính lý

Bài tổng quan

Thiên La Địa Võng, Lưu niên văn tinh và ý nghĩa của Thiên Trù

Tử Vi Nam Phái - Tính lý26/09/202611 phút đọc4 lượt đọc
Thiên La Địa Võng, Lưu niên văn tinh và ý nghĩa của Thiên Trù

Mệnh Thân rơi vào Thìn Tuất, xưa nay vẫn bị coi là cọp giấy ngồi trong cũi, phượng hoàng rơm nằm trong lưới. Vậy mà bao nhiêu danh nhân kim cổ vẫn tung hoành ngay trên hai nơi đất chết ấy. Cụ Thiên Lương gỡ tấm lưới ra và chỉ cho thấy nó không nằm ở hai cung…


Hai cung Thìn Tuất có thật là đất chết

Thìn Tuất xưa nay được coi là căn cứ địa của Thiên La, Địa Võng. Mệnh Thân nào bị đặt ở 2 cung này, dẫu là mãnh hổ cũng chỉ là cọp giấy ngồi trong cũi; phượng hoàng tốt mấy cũng chỉ là phượng hoàng rơm nằm trong lưới.

Hai chữ La Võng có nghĩa là lưới, ở đây lại là lưới của Trời đất, dầu là gì đi nữa, đã vướng trong lưới khó lòng vùng vẫy.

Ấy thế mà một số danh nhân kim cổ Mệnh Thân đã tung hoành ngay 2 nơi đất chết này, thì đâu là nguyên lý của La Võng.

Thiên Mã tại cung Hợi, truyền thống vẫn cho là ngựa vô dụng, mã cùng đường hết lối chạy. La Võng này có thể cũng bị lầm nhận định là nơi đồng khô cỏ cháy, vô phương cho nhân thế sinh hoạt. Lại còn có thuyết một khi Mệnh hay Thân ở La Võng thì phải có Hình Kình cắt lưới toang ra mới có phương kế thành công được. Thật là muôn hình vạn trạng cho người tìm học.

La Võng chi địa chỉ khi nào có Đà La hoành hành

Gỡ cái lưới ấy ra mới thấy nó không phải do hai cung mà có, mà do một ngôi sao nằm trong đó.

Bốn mộ cung Thìn Tuất Sửu Mùi là nơi xuất phát và cũng là nơi tập trung của ngũ hành. Thìn Tuất là dương, Sửu Mùi là âm. Tại sao Thìn Tuất đều là dương lại gọi là Thiên La Địa Võng? Thìn là Thiên La là trúng, còn Tuất là Địa Võng có vẻ trái lý.

Trên mặt địa bàn, từ Dần đến Thân thuộc về phạm vi của Thái dương, từ Thân đến Dần thuộc Thái âm, thế lưỡng nghi của Thái cực. Hai cung Thìn Tuất là 2 cung xuất phát, 2 cung Sửu Mùi là 2 cung tập trung. Thuộc về dương là Thiên, thuộc về âm là Địa.

Đà La là cái lưới giăng ra để vây bọc lại. Đà La ở Thìn là Thiên La, ở Tuất là Địa Võng. Vậy 2 cung Thìn Tuất được gọi là La Võng chi địa chỉ khi nào có Đà La hoành hành. Còn ngoài ra cũng chỉ là những vị trí để cho ai hợp tình hợp cảnh tung mây lướt gió phỉ chí tang bồng.

Trong 14 chính tinh, phái dương của thế lưỡng nghi là Tử Phủ, Sát Phá Tham, là bộ sao uy nghi thực hành tranh đấu quyết liệt, phải né tránh ngại ngùng nơi La Võng. Cơ Nguyệt Đồng Lương mềm dẻo ôn nhu, không đến nỗi nào bị thao túng.

Việc cần thiết khi lập lá số phải thận trọng 2 chữ Tiền và Hậu lúc an Lộc Tồn, luôn luôn tiền Kình hậu Đà. Ví như tuổi Giáp dương nam Lộc Tồn ở Dần, Kình ở Mão, Đà ở Sửu; với người dương nữ Kình phải ở Sửu, Đà đổi lại ở Mão. Để khỏi lầm trường hợp có bị La Võng hay không, cứ căn cứ Mệnh hay Thân ở Thìn Tuất là ở thế bó tay bất động, là một điều không biết sao mà nói.

Hai lá số của Vương Mãng và câu hỏi đâu là chính nghĩa

Cùng một người, sử sách để lại hai ngày sinh khác nhau, và mỗi lá số vẽ ra một con người khác hẳn.

Vương Mãng, một nhân vật chính trị Trung Hoa về cuối đời tiền Hán, có đến 2 lá số làm xáo trộn dư âm đâu là chính nghĩa. Mệnh đều nằm ở Thìn, chỗ mà xưa nay vẫn yên chí là cung Thiên La:

  • Giáp Thân, ngày 9 tháng 3, giờ Tí.
  • Giáp Dần, ngày 27 tháng 1, giờ Tuất.

Hai số này đã nêu cao phân biệt đâu là chánh nhân siêu việt, đâu là nghịch thần phản tặc. Thìn cung ở đây hoàn toàn không phải là căn cứ Thiên La, vì tuổi Giáp Đà La ở xa tại cung Sửu, nên Vương Mãng bằng cả 2 lá số, hoặc Tử Tướng tuổi Giáp Thân hay Phá Quân tuổi Giáp Dần, đều thành công theo ý muốn, mỗi số một cách đặc biệt khác nhau. Căn cứ theo nhân phẩm lịch sử đã ghi, Hán Quang Võ sau khi bình định đất nước, nhà vua đặc phái các nhà bồi bút rất giỏi về lý học nặn ra lá số Giáp Dần, phác hoạ hình bóng một bất lương đủ tư cách làm việc phản nghịch. Sau này người người đều cho chân tướng chính xác của Vương Mãng là số Giáp Thân, một nhân vật quả quyết với bất cứ giá nào đem lại bộ mặt mới cho Tổ Quốc, xã hội đã bị lũng đoạn sâu mọt đục khoét lâu ngày. Ông đã thành công, nhưng vì Quan bị Triệt nên không được trường tồn.

Sự việc khẳng định Thiên La Địa Võng không phải nhất quyết là 2 cung Thìn Tuất, mà phải là trường hợp có Đà La ở 2 cung đó.

Năm tuổi không liên luỵ, năm tuổi phải dè chừng

Đã biết cái lưới nằm ở đâu thì đếm được ai vướng vào nó, ai đi qua mà không hề hấn gì.

Cách diễn tả Thiên La chỉ có 3 tuổi Ất, Bính, Mậu. Riêng Bính không thành việc vì Triệt phá nát Đà La. Mậu Tuất có Tuần giảm sức Đà La, không đủ sức khép chặt. Tất cả tuổi Ất âm nam kể như phải hứng chịu mọi sự gò bó của Thiên La; mặc dầu tuổi Ất Mùi có Tuần, nhưng vì Thìn là dương cung nên sức của Tuần không đủ ngăn cản uy lực của Đà La, có chăng chỉ là 30% không đáng kể.

Địa Võng uy hiếp 2 tuổi Tân và Nhâm. Tất cả âm nữ tuổi Tân, cũng riêng Tân Mùi được Tuần nới lại 30% sức hãm Đà La, còn ngoài ra đành cam phận định mệnh của kiếp số. Tất cả tuổi Nhâm đều bị Địa Võng gói chặt, trừ 1 Nhâm Thân được mở rộng tới 70%.

Tai hại nhất là tuổi Nhâm Tuất Mệnh Thân đồng cung, kể như sinh bất phùng thời. Người này nên đóng vai trò Trương Lương là thượng cách. Nhưng Nhâm Tuất được thân cư Phúc, ngược lại là người thành công phi thường vượt mức khi đến tuổi 45, là thời gian Triệt phá nát Đà La ở Mệnh, tháo gỡ Tuần ở Thân, lại là cung đắc thiên thời (Quan Phù).

Tóm lại Thiên La Địa Võng là Đà La. Đà La đắc địa ở tứ sinh mà hãm địa ở tứ mộ. Hai cung Thìn Tuất là nơi phát xuất tất cả cái gì bạo ác của Đà La, không như 2 cung Sửu Mùi là nơi tập trung gò bó lại, tuy rằng vẫn là đất thao túng múa gậy trong vườn hoang, nhưng không bằng Thìn Tuất.

Mười tuổi hàng Can, 5 tuổi Giáp, Đinh, Kỷ, Canh, Quí không tơ hào liên luỵ La Võng; còn lại Ất, Bính, Mậu phải để ý Thiên La; Tân, Nhâm nên thận trọng ở Địa Võng.

Lưu niên văn tinh là gì mà được Thiên Can an vị

Sau cái lưới của Trời đất là đến một ngôi sao mang tên rất nhẹ, mà lại giữ phần bù đắp cho luật âm dương.

Lưu có nghĩa là ngược nhau: chuyển đi và giữ lại.

Lưu niên là ngày tháng qua đi, rồi để lại một cái gì. Văn là lời nói lịch sự, còn 1 ý nghĩa là đồng tiền, như người ta thường nói "dắt mắn" (nhất văn — 1 đồng).

Lưu niên văn tinh là đẩu tinh có ý nghĩa ngày tháng trôi qua để lại những gì là đắt giá. Cùng với Lộc Tồn, Lưu niên văn tinh đứng cặp là bù đắp luật bù trừ của thế âm dương.

Biết rằng Thiên can và Địa chi là 2 thế lưỡng nghi của dịch lý. Can là dương, Chi là âm. Can là gốc, Chi là ngọn. Những gì do Chi sắp xếp có ý nghĩa thực chất của cá nhân như Long Phượng, Thiên Mã, Cô Quả, Hồng Đào. Những gì do Can đặt chỗ có vẻ huyền diệu vô vị (Quan Phúc, Thiên Ất, Thiên Trù, Lưu niên văn tinh…) lấy đức mà hoá dục vọng.

Nhìn vào vị trí của 10 Lộc Tồn thì chỉ thấy có 4 tuổi Giáp, Ất, Canh, Tân là thuận lý âm dương. Còn 6 tuổi Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Nhâm, Quí ở thế nghịch lý âm dương, cho nên 6 tuổi này 3 căn bản là Mệnh, Thái Tuế và Lộc Tồn, 1 trong 3 thế thường xuyên bị Thiên Không, Không Kiếp, Tuần Triệt phá hỏng. Nhìn vào vị trí Lưu niên văn tinh cũng 10 chỗ đứng, thì 6 chỗ của Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Nhâm, Quí được hợp thức hoá âm dương trúng cách; còn 4 tuổi Giáp, Ất, Canh, Tân đều bị cảnh âm dương trái nghịch. Tức là Lộc Tồn và Lưu niên văn tinh vẫn có những tuổi thua thiệt, như Canh Thìn, Tân Tí dẫu trúng cách tam hợp nhưng Lộc Tồn bị Tuần chặn nghẹt. Lưu niên văn tinh cũng vậy: tuổi Kỷ và Nhâm luôn luôn có Triệt cắt xén bớt sự phồn thịnh của thực chất, bù lại không bao giờ Thiên Quan Thiên Phúc xa lánh mà không ghé mắt thăm chừng.

Vậy Lưu niên văn tinh hẳn là 1 hạnh phúc cũng như Lộc Tồn, cho những tuổi được danh dự thọ đắc đầy lòng thuận đức tự nhiên.

Thiên Trù cũng quan hệ lắm sao

Cái phần cơm áo mà tổ tiên để lại chưa tiêu hết, đến đời mình còn được bao nhiêu, hàng Can ghi rõ ngay trên lá số.

Thưa rằng trù lập con tính xem gia nghiệp đời đời truyền lại. Thiên Trù là khuôn thiên hoạch định những gì của một gia tộc chưa tận dụng, còn lại đời đời truyền cho một cá nhân con cháu nào như thuận lý hưởng thụ, dầu là 1 chén cơm hay manh áo hơn những người khác không có quyền dành giật.

Do hàng Can ghi rõ trên lá số của mỗi người dòng họ:

TuổiThiên Trù ởTuổiThiên Trù ở
GiápTỵKỷThân
ẤtNgọCanhDần
BínhTíTânNgọ
ĐinhTỵNhâmDậu
MậuNgọQuýTuất

Như bảng trên đã phân phối, sự việc làm cho người ta chú ý là có 6 tuổi Giáp, Ất, Kỷ, Tân, Nhâm và Quí, Thiên Trù đều ở địa cảnh nghịch lý âm dương, tức là không thuận lợi gì cho ý chí cương cường. Có thể nói là người có ý chí cương cường không bao giờ trông mong sự hưởng thụ mà không có kỳ công phấn đấu (Thái Tuế và Tuế Phá) của uy tín (Long Phượng) hay quả cảm nghị lực (Thiên Mã) xây đắp để thành công.

Thiên Trù của 6 tuổi này đặt nằm ở những chỗ thường nói là nhược cung (Bào, Tử, Nô). Không dám nói đến Phụ Mẫu, vì đấng sinh thành có liên can đến Lộc Tồn, tức là có ảnh hưởng nhiều ít đào tạo mới có Thiên Lộc truyền xuống đời đời cho con cháu (thường thường ở Phụ Mẫu có Lộc Tồn, không thì cũng ở cung tam hợp sinh nhập ra Lộc Tồn).

Còn 4 tuổi Bính, Đinh, Mậu, Canh, Thiên Trù ở ngay dương hay âm cung thuận lý, tức là cá nhân đó là Thái Tuế hay Tuế Phá. Trường hợp Mệnh đặt nằm ở nghịch địa, tức là Mệnh dương đóng cung âm hay Mệnh âm đóng cung dương, thì chỉ 3 tuổi Bính, Đinh, Mậu lại được hưởng phần nào Lộc Tồn, trừ tuổi Canh ở thế Đường Phù.

Đối với 4 tuổi này, người khai lập ra số quả là có đầu óc tinh vi không bỏ rơi một kẽ hở, xứng đáng là danh hiệu Thánh nhân, đã sắp xếp Bính, Đinh, Mậu, Canh vào một hoạt động tình cảnh. Biết rằng Bính, Đinh, Mậu thì Lộc Tồn luôn luôn ở hoàn cảnh nghịch địa âm dương. Còn tuổi Canh, đối với Dần Ngọ Tuất chỉ là Phá Hư, mà với Thân Tí Thìn tuy gọi là chính thức hợp cảnh (Thái Tuế) nhưng Lộc Tồn đối với Canh Thìn lại bị Tuần thụt két (Lộc phùng Không). Canh Thân và Canh Tí thì Quan cung là nguồn mãnh lực của cá nhân cũng bị Tuần làm đứt đoạn. Xét cho kỹ, dầu là Canh Dần Ngọ Tuất hay Thân Tí Thìn, tình cảnh thụ hưởng Lộc Tồn không cách biệt nhau bao độ. Vì lẽ đó nên Thiên Trù của tuổi Canh đóng ngay ở Dần, ban phát chung cho cả 6 tuổi Dần Ngọ Tuất và Thân Tí Thìn đều ở dương cung, là Mệnh Quan Tài một tam hợp, hay Phúc Di Phối cũng là một tam hợp, cho có ý nghĩa của chồng công vợ (trường hợp này trong gia đình vợ thường được quần áo đẹp tốt hơn chồng).

Xin nhắc lại, Thiên Trù là định mệnh báo hiệu công đức gia nghiệp đời đời truyền ban cho cháu con nào như thuận tiện hoàn cảnh hưởng thụ, dầu ít nhiều phải hơn người khác.

Nguồn: Tử Vi Nghiệm Lý Toàn Thư — Thiên Lương

Chủ đề của bài

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Tính lý