Bài tổng quan
Chu Dịch, cội nguồn của văn hóa và bách gia chư tử Trung Hoa
Một bộ sách toàn quẻ và hào từng thoát khỏi ngọn lửa đốt sách của Tần Thủy Hoàng nhờ khoác chiếc áo bói toán, rồi hai nghìn năm sau lại bị gọi là mê tín. Vậy điều gì khiến Nho gia và Đạo gia, hai dòng tưởng chừng đối nghịch, cùng bám vào một gốc rễ ấy...
Vì sao Chu Dịch đứng ở giữa dòng chảy văn hóa Trung Hoa
Nói đến gốc rễ của tư tưởng Trung Hoa, Dương Lực luôn quay về một bộ sách cổ chỉ có sáu mươi bốn quẻ.
Cái gốc của nhiều nhánh
Theo tác giả, Chu Dịch là hiện tượng văn hóa tồn tại lâu nhất, ảnh hưởng sâu nhất và lan rộng nhất trong lịch sử Trung Quốc. Ai muốn hiểu văn hóa nước này thì phải hiểu Dịch trước. Ông xem tư tưởng, khoa học, nghệ thuật, văn học và chữ viết của người Trung Hoa đều có nguồn từ đó. Bách gia chư tử cũng vậy: Nho gia của Khổng, Mạnh phát triển ý "Càn dương cương kiện", còn Đạo gia của Lão, Trang phát triển ý "Khôn âm nhu thuận". Vì thế Nho và Đạo, trong lịch sử tư tưởng, vừa khác nhau vừa gắn bó.
Ông đi xa hơn khi nói Chu Dịch là hình ảnh thu nhỏ của văn hóa tư tưởng cổ đại, vừa là tác phẩm triết học, vừa là bộ xã hội học, vừa là kết tinh trí tuệ mấy nghìn năm. Sách ra đời vào giữa quãng sáu nghìn năm văn minh Trung Hoa nên giữ vai trò nối trước với sau, và mỗi lần Dịch học hưng thịnh hay lụi tàn thì văn hóa nước này cũng lên xuống theo.
Ba lần tổng kết lớn
Các nhà khoa học, dựa trên di vật đào được, thấy văn hóa Trung Quốc có ba lần tổng kết lớn. Lần một là thời đồ đá mới, với văn hóa Ngưỡng Thiều và Long Sơn, tổng kết xã hội nguyên thủy. Lần hai là chữ giáp cốt đời Thương, Chu, kết tinh của văn hóa đồ đồng qua ba đời Hạ, Thương, Chu. Lần ba là Kinh Dịch, tổng kết văn hóa ký hiệu và bói toán của thời nô lệ, cùng văn hóa âm dương và luân lý ở buổi đầu xã hội phong kiến. Bộ Chu Dịch gồm Dịch kinh và Dịch truyện, gom tinh hoa của khoảng ba nghìn năm trước thời Chiến Quốc.
Qua từng triều đại
Thời Tiên Tần, Khổng Tử là người đầu tiên đưa Chu Dịch vào hàng Lục kinh. Thời Hán, nó đứng đầu sáu bộ kinh. Thời Ngụy Tấn, nó đứng đầu ba bộ sách huyền học. Thời Tùy Đường, nó đứng đầu Thập tam kinh. Thời Tống Nguyên, nó là nền tảng lý luận của lý học, và thời Minh Thanh nó là kinh điển của Nho học, đến mức Tứ khố toàn thư xếp các tác phẩm về Dịch ở hàng đầu phần kinh.
Ba kho báu mà Chu Dịch để lại
Giá trị của bộ sách gom vào ba mảng: hiểu xã hội, hiểu lẽ biến đổi và hiểu hình ảnh cùng con số.
Bộ sách về xã hội và luân lý
Kho báu thứ nhất là một tác phẩm đồ sộ về khoa học xã hội, bàn tới chính trị, kinh tế, quân sự, luật, giáo dục, văn nghệ, ngôn ngữ, dân tộc, tôn giáo. Sách được viết thành văn vào cuối thời Tây Chu, thời hoàng kim của đồ đồng, khi Chu Công đã làm hàng loạt cải cách tạo nên cảnh thịnh trị. Chu Dịch, giống chữ giáp cốt, mượn hình thức chiêm bốc. Tác giả nhắc rằng không nên chỉ vì hình thức ấy mà cho nó là phản khoa học, vì trước mọi việc lớn như đại lễ, xuất quân, tế tự, các vương triều cổ đều phải xem quẻ. Người xem quẻ thường là quan lớn hoặc sử quan, những người hiểu chính trị, lịch sử, thiên văn, khí tượng, địa lý. Vì vậy lời sách tuy là bói, nhưng thực chất ghi lại các hoạt động xã hội đương thời. Sáu mươi bốn quẻ từ và ba trăm tám mươi tư hào từ là những cô đúc của lịch sử, chứa nhiều thông tin.
Trung Quốc lấy luân lý làm trung tâm, và Chu Dịch phản ánh đúng điều ấy. Những chữ nhân, nghĩa, lễ, trung, hiếu của Nho gia đều đã có sẵn: câu "đạo làm người là nhân và nghĩa", quẻ Trung phu nói về chữ tín, câu về vua tôi, trên dưới, cha ra cha con ra con, anh ra anh em ra em. Tác giả cho đây là đóng góp lớn nhất của Dịch đối với xã hội học Trung Hoa.
Triết lý về mâu thuẫn, vận động và đổi mới
Kho báu thứ hai là triết lý. Điểm sáng nhất là ý "một âm một dương gọi là đạo", coi mọi vật đều tồn tại nhờ hai mặt đối lập dựa vào nhau. Ý này đi cùng nguyên lý vận động: cùng thì biến, biến thì thông, thông thì bền. Sách cũng đề cao sự đổi mới không ngừng, như các câu về đức lớn của trời đất là sinh, mỗi ngày mới là thịnh đức.
Tác giả cho rằng phép biện chứng của Chu Dịch mang tính duy vật vì nó nhìn từ trời đất mà ra, bản thể của vũ trụ là khí, người ta quan sát tượng để hiểu ý. Ông đặt nó cạnh Lão Tử, cho rằng Lão Tử đưa Đạo lên cao hơn vạn vật nên thuộc duy tâm khách quan, và cạnh Hegel, cho rằng ông này bị kẹt ở ý niệm tuyệt đối. Kết luận của ông cho rằng phép biện chứng của Dịch tiến bộ hơn, một nhận định mang tính đánh giá cá nhân của tác giả. Ông cũng lý giải sự khác nhau giữa Nho và Đạo bằng cách nhìn bản thể: một bên coi trọng sự sống, nhập thế, tự cường; một bên coi trọng vô vi, biết đủ và sự trở về với tự nhiên.
Nguyên lý tượng và số
Kho báu thứ ba là Tượng và Số, hạt nhân của Dịch học, cùng với Dịch và Chiêm làm thành bốn phần của nền Dịch lý. Không có tượng số thì không có Dịch lý. Tượng số là hình ảnh thu nhỏ của thiên đạo, vật đạo và nhân đạo, cho nên có thể dùng để suy quá khứ, đoán tương lai. Trong văn hóa Trung Hoa, từ triết học, thiên văn khí tượng, tâm lý, y học, kiến trúc đến dự đoán địa lý đều có liên quan mật thiết với tượng số.
Tác giả còn cho rằng lối tư duy tổng hợp của Thái cực trong Chu Dịch có thể gợi ý cho khoa học thực nghiệm khi phương Tây đã đi rất xa vào phân tích, và ông dự đoán thế kỷ hai mươi mốt sẽ là thế kỷ của văn hóa phương Đông. Đó là niềm tin của người viết, người đọc có thể cân nhắc thêm.
Bách gia chư tử: những cành mọc từ một gốc Dịch
Còn các học phái lớn nhỏ của Trung Hoa liên hệ với bộ sách này ra sao?
Bách gia chư tử nở rộ từ Xuân Thu, Chiến Quốc đến đầu đời Hán, lúc xã hội chuyển từ nô lệ sang phong kiến. Sách ghi có một trăm tám mươi chín nhà với bốn nghìn một trăm hai mươi bốn quyển, trong đó có mười học phái được gọi là Thập gia: Nho, Đạo, Âm dương, Pháp, Danh, Mặc, Tung hoành, Tạp, Nông, Tiểu thuyết, cộng thêm Binh gia.
Tác giả tóm tắt từng phái. Nho gia tôn Khổng Tử, có Mạnh Tử và Tuân Tử, chú trọng luân lý nhân nghĩa với Luận ngữ và Mạnh Tử. Đạo gia có Lão Tử, Trang Tử, bàn về Đạo pháp tự nhiên và sự thanh tịnh hư vô. Pháp gia lấy Hàn Phi Tử làm đại biểu, gắn với xã hội phong kiến mới. Âm dương gia có Trâu Diễn, chuộng ký hiệu âm dương ngũ hành và ảnh hưởng đến y học. Danh gia có Huệ Thi, Công Tôn Long, đặt nền cho lô-gic. Mặc gia của Mặc Địch chủ trương kiêm ái. Tung hoành gia có Trương Nghi, Tô Tần với Chiến quốc sách. Tạp gia có Lã Bất Vi và Lã thị Xuân Thu. Nông gia có Hứa Hành. Binh gia có Tôn Tử, Tôn Tẫn, mà năm 1973 việc khai quật mộ Tây Hán ở núi Ngân Tước đã tìm thấy thẻ tre của cả hai bộ binh pháp, xóa ý kiến cho rằng hai bộ chỉ là một.
Ông ví Dịch học như rễ cái của cây đại thụ, còn các phái là cành lá. Nho và Đạo là hai phái gần Dịch nhất. Nho tôn Càn, lấy cương thắng nhược và coi trọng luân lý xã hội, Đạo tôn Khôn, lấy nhu khắc cương và nặng tu luyện tự nhiên. Nhà triết học Nghiêm Kế Du được ông trích dẫn khi nói phép biện chứng Trung Quốc có hai hệ, một hệ trọng cương do Dịch truyện mở ra, một hệ trọng nhu do Lão Tử mở ra. Dẫu triều Tây Hán từng bỏ trăm nhà, độc tôn Nho gia, tư tưởng Đạo gia vẫn không mất. Các phái khác như Pháp, Âm dương, Mặc, Binh, Nông, Tạp cũng đều có nguồn từ Dịch ở những mức độ khác nhau. Vì thế muốn khai thác văn hóa truyền thống thì phải nghiên cứu kỹ Chu Dịch và bách gia chư tử.
Ông kết bằng một lời nhắn: tư tưởng của các phái cần được phân tích thấu đáo để kế thừa, nhưng cũng cần đặt trong bối cảnh lịch sử của nó, vì dù cũ hay mới, xưa hay nay, cái gì có lợi cho đất nước thì nên tiếp nhận. Cách nhìn ấy không đóng cửa với phái nào, và cũng là lý do ông thấy cần đọc Dịch cùng bách gia như một chỉnh thể chứ không phải từng mảnh rời.
Hào âm, hào dương và hình vẽ trên đồ gốm sáu nghìn năm
Nguồn gốc của thuyết âm dương không chỉ nằm trong sách vở mà còn nằm ở những chiếc chậu gốm đào lên từ lòng đất.
Ông cho rằng văn hóa âm dương có từ rất sớm, trước cả chữ viết. Hơn sáu nghìn năm trước, tổ tiên người Trung Hoa sống ở lưu vực Hoàng Hà, làm ruộng theo tiết khí nên nhạy với sự đổi thay của mặt trăng, mặt trời, ngày đêm, nóng lạnh, núi cao biển sâu. Những cặp đối lập này dần thành ấn tượng về âm dương. Hình vẽ trên các di vật văn hóa Ngưỡng Thiều, như đôi cá vờn nhau trên chậu gốm ở Bán Pha, Tây An, được ông xem là khởi đầu của cặp cá trong hình Thái cực. Rồng, rùa, chim, rắn, cùng hình Phục Hy mình rồng, Nữ Oa thân rắn đều được ông coi là ngầm chứa nguyên lý ấy.
Về hào âm và hào dương, tác giả nêu giả thuyết rằng vạch đứt tượng cho núi non gập ghềnh, vạch liền tượng cho ánh mặt trời hoặc sóng nước, và cả hai còn có thể gắn với tục thờ sinh sản. Chữ Dịch, theo Thuyết văn giải tự, ghép từ chữ nhật và chữ nguyệt, ứng với âm dương. Các hình quẻ sơ khai trên đồ đồng đầu nhà Chu, qua khảo chứng của Trương Chính Lãng, có thể là hình gốc của hào âm và hào dương. Bát quái và sáu mươi bốn quẻ sau đó là bước nâng lên của văn hóa ấy, còn Dịch truyện, ra đời trong thời Chiến Quốc sôi động, nâng lý luận âm dương thêm một bậc và đặt nền cho triết học Trung Quốc, trong đó có mầm mống của thuyết Ngũ hành. Hà đồ, Lạc thư là những hình mẫu đầu tiên của Ngũ hành trong thiên Hồng phạm.
Sống sót qua lửa, qua bão và trở lại
Một cuốn sách hơn ba nghìn năm tuổi vẫn còn được đem ra bàn, câu hỏi là vì sao.
Tác giả trả lời rằng văn hóa Trung Hoa bền vì có nền văn hóa âm dương làm gốc. Ông kể ba đợt tàn phá lớn: việc Tần Thủy Hoàng đốt sách chôn học trò, cuộc xâm nhập văn hóa sau chiến tranh nha phiến, và cuộc đại cách mạng văn hóa. Dù vậy văn hóa cổ ấy vẫn giữ được sức hút. Con đường của Chu Dịch cũng là hình ảnh thu nhỏ của điều đó. Nhờ khoác cái áo bói toán mà nó thoát khỏi lửa Tần, nhưng đến thời cận đại lại bị phái nghi cổ liệt vào mê tín phong kiến, thậm chí bị dẫm đạp cùng Khổng Tử trong đại cách mạng văn hóa. Mấy chục năm gần đây làn sóng nghiên cứu lại dâng cao, kéo theo sự nhìn lại Khổng, Mạnh, Lão, Trang và các loại hình nghệ thuật dân gian.
Ông nêu Á vận hội Bắc Kinh làm ví dụ: những công trình như "Càn Long kiện trời", điệu múa, võ thuật, hội họa, ẩm thực và tinh thần đoàn kết đều mang khí dương cương và vẻ đẹp âm nhu. Về chuyện Dịch bị người đời lợi dụng để bói toán, ông cho rằng đó chỉ là những sinh vật ký sinh trên một cơ thể lành, không thể vì vậy mà phủ nhận cả cao trào nghiên cứu.
Ông cũng đặt câu hỏi vì sao khoa học hiện đại còn quay lại tìm gợi ý ở Dịch lý. Câu trả lời của ông là thời đại đang chuyển từ tư duy phân tích về tổng hợp, cần phương Tây và phương Đông bổ sung cho nhau, và Dịch lý là người mở đường cho lối tư duy tổng hợp nên vừa cổ vừa trẻ. Các học giả không tìm ở đó phương pháp thực nghiệm cụ thể mà tìm những gợi ý tầm vĩ mô, như tư duy chỉnh thể, vận động, trung hòa.
Về việc đánh giá, ông cho rằng bộ sách nằm dưới hình thức bói toán không có nghĩa là thiếu tính khoa học, vì đó là thời văn hóa ký hiệu và bói toán hòa làm một. Nếu vì thế mà gọi Dịch là cặn bã thì chữ giáp cốt Thương Chu, phần lớn là lời bói, cũng thành cặn bã, và Tả truyện hay Quốc ngữ cũng có nhiều lời bói. Ba nghìn năm dài với con người nhưng ngắn như một hơi thở với trái đất, và bất cứ tác phẩm cổ nào cũng có điểm chưa hoàn hảo, nhưng ngọc có tì vết vẫn là ngọc.
Ông cũng nhắc rằng Nho và Đạo, tuy cùng đi ra từ Dịch, đã có lúc hợp lúc phân: Nho nhập thế nên ở vị trí "tại triều", Đạo xuất thế nên ở vị trí "tại dã". Khi Phật giáo vào Trung Quốc, hai phái này lại xích gần nhau để giữ chỗ đứng cho văn hóa truyền thống. Còn Âm dương gia, dù cũng đi ra từ Dịch, bị ông phê bình vì đem thuyết âm dương ngũ hành giải thích sự đổi ngôi của các triều đại.
Nguồn: Kinh điển văn hóa 5000 năm Trung Hoa - Tập 1 (Dương Lực), thuật lại có lược bớt.
