Bài tổng quan
Lý Quang Địa gom Dịch học Hán đến Thanh vào một bộ
Hai trăm mười tám tiếng nói của mười triều đại, từ nhà Hán đến nhà Thanh, được đặt vào cùng một bộ. Người sắp xếp chúng không chọn phe nào, mà chọn một chữ làm kim chỉ nam. Chữ ấy là gì, và vì sao nó đứng vững?
Vị đại học sĩ phụng chiếu gom Dịch học của hai nghìn năm
Lý Quang Địa sống từ năm 1642 đến năm 1718, tự là Tấn Khanh, hiệu Dung Thôn, người đất An Khê, Phúc Kiến, đời Thanh. Ông đỗ tiến sĩ năm Khang Hy thứ chín, làm đến chức Thượng thư bộ Lại, Đại học sĩ Văn Uyên các, và mất tại nhiệm sở. Ông vừa là nhà Nho, vừa là nhà Dịch học nổi tiếng; tư tưởng của ông theo lý học Trình Chu nhưng nhấn mạnh phần “tính”. Về Dịch, gốc của ông là đạo Trung dung của Nho gia, chủ trương chiết trung, nhấn mạnh sự thống nhất giữa tượng số và nghĩa lý.
Cả đời ông thích Dịch và viết nhiều về Dịch. Ông vâng chiếu chủ biên bộ Ngự soạn Chu Dịch chiết trung, và người đời sau xem ông là mẫu mực trong việc nghiên cứu, học Dịch. Ngoài bộ ấy, ông còn soạn Chu Dịch thông luận, Chu Dịch quan tượng, Chu Dịch quan tượng đại chỉ, Tham đồng khế chú, Dịch nghĩa tiền tuyển. Về kinh sử, ông viết nhiều quanh tứ thư ngũ kinh, nhất là Trung dung, với các tập Trung dung chương đoạn, Trung dung dư luận, Trung dung tứ cú; quan điểm Trung dung của ông được nghiên cứu rất sâu.
Hai trăm mười tám tiếng nói trong một bộ
Một công trình đồ sộ vẫn có hồn khi người soạn có một chỗ đứng rõ ràng để nhìn mọi thứ.
Chu Dịch chiết trung là bộ tổng hợp lớn về Dịch của “trăm nhà”, chép hầu như đủ lời bàn của các học giả. Trong đó thu lời của hai trăm mười tám người, bao gồm các thuyết Dịch của mười triều đại, từ nhà Hán đến nhà Thanh, và chủ yếu lấy Chu Dịch bản nghĩa của Chu Hi cùng Y Xuyên Dịch truyện của Trình Di làm trục chính.
Dù là nghĩa lý hay tượng số, người biên soạn đều thu lượm đủ, nhưng nhấn mạnh tượng số là gốc của Chu Dịch. Bộ sách còn cho rằng các nhà Hán lạm dụng tượng số: Tiêu Cán, Kinh Phòng xuyên tạc và xa rời chính phái. Sau Tùy Đường, Vương Bật tuy gạt bỏ được những tệ của “nạp giáp”, “phi phục” và chỉ lấy nghĩa lý giải kinh, nhưng ông lại thuộc phái Lão Trang huyền học, nên nghĩa lý và tượng số vẫn chưa hợp với chính tông. Nói chung, người theo tượng số thường khinh phái nghĩa lý; nhưng Dịch học là thể thống nhất của nghĩa lý và tượng số, không thể xem nhẹ bên nào.
Bộ sách coi Chu Dịch bản nghĩa của Chu Hi thực chất là sự thu nạp rộng của hai nhà Trình và Thiệu, bao cả tượng số lẫn nghĩa lý, nên nói “tuy gồm cả nghĩa lý và tượng số, nhưng Chu Tử đã chiết trung”. Vì thế Lý Quang Địa đặt tên cho bộ sách của mình là Chu Dịch chiết trung, hàm ý hợp nhất tượng số với nghĩa lý, không nghiêng về bên nào. Chữ “chiết” là cân nhắc, cắt bớt; chữ “trung” là chỗ giữa; ghép lại là cân nhắc để chọn lấy chỗ vừa phải giữa hai phía.
Nghĩa lý đời Thanh lên đến đỉnh và khoác áo Nho
Dù chủ trương chiết trung giữa tượng số và nghĩa lý, người biên soạn lấy lời của Chu Hi và Trình Di làm chính, tức là kết hợp lời của hai đại biểu nổi tiếng nhất của phái nghĩa lý đời Tống, Bắc Tống và Nam Tống. Nhờ đó ông đẩy phái nghĩa lý đời Thanh lên đến đỉnh cao. Đặc điểm của nghĩa lý đời Thanh là phát triển trên nền Trình Chu giải Dịch bằng quan điểm Nho gia; ông đưa rất nhiều quan điểm tứ thư vào để giải Dịch, nên phần nghĩa lý của Dịch đời Thanh “Nho gia hóa” đến đỉnh.
So với nghĩa lý đời Tống Minh, nghĩa lý đời Thanh tiến bộ hơn ở chỗ phá được vòng ràng buộc của lý học thiên lý, lấy nhân lý xã hội làm hạt nhân. Chẳng hạn khi giải bốn chữ nguyên, hanh, lợi, trinh của quẻ Càn, Khôn, bộ sách dẫn lời bàn rằng các nho gia đều nói đó là bốn đức, duy Chu Tử coi đó là lời bói và xem như các quẻ khác; vì sao nguyên là lớn, hanh là thông, lợi là thích nghi, trinh là chính và bền; nếu người ta mạnh khỏe thì mọi sự đều thông. Ý muốn nhấn mạnh tác dụng của con người.
Khi giải một câu trong thoán truyện quẻ Khảm, bộ sách dẫn: cái hiểm của trời là trời cao xa không thể trèo lên; cái hiểm của đất là núi sông gò đồi; vua chúa theo đó đặt ra các chỗ hiểm như hào, thành để giữ nước. Công dụng của hiểm, nếu hợp thời thì thật lớn. Sau khi dẫn bản nghĩa, Trình truyện và các thuyết, người biên soạn chép lời bàn của mình: quẻ Khảm là chồng chất hiểm hoạ, đó là việc phát triển luyện tập gian nan, phải vượt qua, nếu không thì không thể tránh; sự rèn luyện ấy chính là gốc của lập thân. Ý ấy nhấn mạnh rằng dám đương đầu với hiểm nạn, không lùi bước trước gian khổ, là điều cơ bản để lập thân. Mỗi chỗ giảng vì vậy có nhiều tầng: trước là bản nghĩa của Chu Hi, kế đó là truyện của Trình Di, rồi các thuyết khác, và sau cùng mới đến lời án của người biên soạn.
Như vậy, Lý Quang Địa vừa đề cao việc Trình Chu dùng tứ thư để giải Dịch, vừa phát huy cái nhìn xã hội của Nho giáo, lấy cương kiện làm gốc để nhập thế. Về phần Hệ từ truyện, sau Khổng Tử, Vương Bật cũng giải trong Chu Dịch lược lệ, rồi các nho gia đều có lời bàn; bộ sách thu những lời ấy vào để người học biết.
Không gạt bói cỏ thi, không gạt tượng
Giữa hai nhóm cùng tin mình đúng, có người chịu đứng ở chỗ vừa phải và chịu cái giá của việc đứng đó.
Đóng góp của ông không chỉ nằm trong bộ chiết trung mà còn trong mấy bộ Dịch khác của ông: ở đâu cũng thấy quan điểm trung chính, trọng cả nghĩa lý lẫn tượng số. Ông cũng không bài xích bói cỏ thi. Với ông, bói, tượng số và nghĩa lý là một chỉnh thể không tách rời của Dịch học, và ông thấy rất rõ điều đó.
Để sửa cái lệch “quét sạch tượng” của Vương Bật và sự hẹp hòi trong việc kìm tượng của các học giả Tống Minh, ông chú giải Tham đồng khế. Trong bộ này ông thể hiện sự chiết trung giữa tượng số và Dịch lý. Ông nhấn mạnh yếu chỉ của Tham đồng khế là lấy mặt trời, mặt trăng, khảm ly và sự biến động tiêu tức của âm dương làm chỗ dựa cho lý luận; rồi từ quan điểm âm dương, động tĩnh của Dịch lý mà bàn rất sâu về luyện nội đan.
Tóm lại, trên cơ sở lấy quan điểm Trình Chu để dẫn lời các học giả, từ Hán Ngụy cho đến Minh Thanh, dù là phái nghĩa lý hay phái tượng số, dù là chính thống hay biệt truyện, ông đều thu vào sách của mình kèm nhận xét riêng. Bộ sách vì thế phản ánh khá đầy đủ thành tựu nghiên cứu Dịch từ Hán đến Thanh, và có đóng góp lớn trong việc nối tiếp, phát huy Dịch học.
Lối nghiên cứu tổng hợp được noi theo
Với học vấn uyên bác, Lý Quang Địa là người đầu tiên trong lịch sử triết học dùng phương pháp nghiên cứu tổng hợp đối với Dịch lý. Cả bộ sách tuy thu mọi thuyết, rộng mà không tạp, quan điểm học thuật rõ ràng, nghĩa lý sâu và khúc triết; tuy chiết trung nhưng không mất cái cơ bản, tuy thâu tóm tất cả nhưng không rời Trình Chu. Có thể nói đó là khuôn mẫu của việc nghiên cứu tổng hợp Dịch học.
So với Chu Dịch tập giải của Lý Đỉnh Tộ, Chu Dịch chiết trung hơn một bậc cả về tư tưởng học thuật lẫn thể lệ; lời văn gọn mà chuẩn, ông sửa lại những chỗ lệch về điều cơ bản và dựng một điển phạm cho việc nghiên cứu tổng hợp Dịch lý. Tứ khố toàn thư tổng mục bình rằng thuở ấy nghiên cứu kinh Dịch thì mỗi người theo ý riêng mà bàn; về sau triều đình cho ra bộ Dịch kinh đại toàn thì lại tạp loạn, phân cắt, khiến người đọc không biết sách thuộc thể tài nào, chỉ thấy lời lẽ rối ren. Còn Chu Dịch chiết trung thì hơn hẳn Dịch kinh đại toàn, bày ra ưu thế của lối nghiên cứu tổng hợp, toàn diện. Cũng sách ấy viết: Dịch qua hàng trăm năm chia cắt, phe này phe nọ, đến đây quan điểm đã hòa nhập; qua hàng nghìn năm vẽ quẻ, buộc lời, nay mọi điều đều sáng rõ. Vì vậy hậu thế tôn bộ Ngự soạn Chu Dịch chiết trung là tác phẩm khuôn mẫu về mọi mặt.
Chữ “trung” làm kim chỉ nam
Mỗi thước đo đã chọn sẽ quyết định cả cách người ta nhìn một bộ kinh.
Lý Quang Địa hết sức tôn sùng quan điểm Trung dung của Nho gia, và từng chú giải Trung dung chương đoạn, Trung dung dư luận, Trung dung tứ cú. Ông cho rằng chữ “trung” là trung chính, là đi giữa đường chính. Ông soạn Chu Dịch chiết trung là để uốn lại chỗ lệch giữa tượng số và nghĩa lý, và đề xướng nghiên cứu bằng quan điểm trung chính: vừa lấy “chính truyện” làm trọng tâm, vừa tham khảo rộng “biệt truyện”. Cách làm học toàn diện này ảnh hưởng sâu sắc đến đời sau.
Nhìn lại lịch sử Dịch học, từ trước Tần đến đời Thanh, hai phái tượng số và nghĩa lý phân rồi hợp, hợp rồi phân, trải biết bao lần. Đến thời Lý Quang Địa mới có một lần thống nhất như thế, và đó là đóng góp của ông.
Ông còn là bậc đại học vấn nối tiếp Chu Hi, đọc rộng mọi sách, thông kinh sử, nên mới đủ tài học để nghiên cứu Dịch ở những điểm mấu chốt, sâu xa. Chu Dịch là tập đại thành của mấy nghìn năm lịch sử và văn hóa cổ đại Trung Hoa, nội hàm bao la, sâu sắc; không phải bậc uyên bác thì khó mà hiểu thấu rồi bàn luận. Nhờ nghiên cứu khá toàn diện văn hóa kinh điển Trung Hoa, ông mới có thể đào vào những vấn đề then chốt, và tác phẩm của ông trở thành khuôn mẫu cho đời sau.
Tóm lại, Lý Quang Địa là bậc đại kinh học gia, nho học gia nối tiếp Khổng Tử và Chu Hi; từ đó ông mới có chỗ dựa để nắm toàn diện bộ mặt Dịch học. Chu Dịch chiết trung ở tầng thứ cao và có ảnh hưởng lớn chính vì lẽ ấy.
Ba đóng góp của ông có thể gói lại như sau. Thứ nhất, ông viết nên một tập đại thành về Dịch học từ Hán đến Thanh, thu lời của hai trăm mười tám học giả. Thứ hai, ông đưa nghĩa lý đời Thanh lên đỉnh cao bằng cách nối Trình Chu với tứ thư, lấy nhân lý xã hội làm hạt nhân. Thứ ba, ông lập một tác phong học mới, lấy tinh thần trung chính để nhìn Dịch, không bỏ tượng số, không bỏ nghĩa lý, cũng không bỏ bói cỏ thi.
Nguồn: Kinh điển văn hóa 5000 năm Trung Hoa - Tập 3 (Dương Lực), thuật lại có lược bớt.
