Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Khuyên Thiện

Bài tổng quan

Chu Hi chỉnh lý kinh điển, bàn Dịch và nối các đời lý học

Đạo Học - Khuyên Thiện03/10/202611 phút đọc2 lượt đọc
Chu Hi chỉnh lý kinh điển, bàn Dịch và nối các đời lý học

Có người một đời bị bãi quan nhiều lần, đến khi mất, học trò cũ còn không dám tới đưa tang. Người ấy là Chu Hi, mà vài trăm năm sau tên ông thành tên của cả một nền học. Câu chuyện từ chỗ bị chê trách đến chỗ được thờ cạnh Khổng Tử bắt đầu từ…


Trị nước bằng lý: tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ

Chu Hi tin rằng việc nước cũng có thể giải quyết bằng đạo lý "ở trên hình", tức đi theo con đường tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ. Ông gọi đó là "lý trị". Chỉ cần nắm được cái lý ấy thì có thể giải quyết mọi vấn đề trong thiên hạ. Ông viết rằng muôn việc trong thiên hạ đều có một cái gốc lớn; gốc lớn dựng được rồi thì mới nhìn ra mọi việc khác. Với ông, con đường ấy là điều mà Nghiêu, Thuấn, ba vị vua nhà Tam Vương, Chu Công và Khổng Tử đã truyền lại.

Ông nói nhiều đến chuyện giữ cho đất nước yên ổn, nhắc rằng muốn an định quốc gia thì việc lớn phải làm trước. Nguyên tắc chính trị của ông nối thẳng với lời của Khổng Tử: lấy đức làm chính trị, ví như sao Bắc Đẩu đứng yên ở chỗ của mình mà các vì sao khác đều hướng về. Vua hiền như Bắc Đẩu, quần thần như muôn ngôi sao quay quanh. Ông giảng thêm rằng lấy đức làm chính trị không có nghĩa là bỏ hẳn mệnh lệnh và hình phạt, mà là đặt đức lên trước hình phạt; đức đi trước thì chính sự ấy chính là đức.

Giống như các nhà Nho khác, ông ra sức chủ trương nhân chính. Ông viết rằng nhân ái không gì lớn hơn tình cha con, tiết nghĩa không gì lớn hơn đạo vua tôi; đó là cốt yếu của ba giềng, gốc của năm hằng, chỗ cùng cực của nhân luân và thiên lý. Ông còn chủ trương dùng người hiền, nói rằng việc cai trị hôm nay trước hết cần có người. Với bậc đứng đầu, ông dặn phải giữ lòng chính: tâm của người làm vua mà chính thì việc thiên hạ không việc nào không chính.

Ông cũng là người nhập thế, như những nhà Nho Khổng Tử và Mạnh Tử: tu đức để trị nước, ai cũng nên có lòng xót đất nước. Cha ông từng dâng thư chống việc giải hòa với người Kim nên bị cách chức, bản thân ông cũng ra sức chủ trương chống Kim, khôi phục Trung nguyên. Vì dám bàn chính sự, nhiều lần dâng thư nên ông nhiều lần bị bãi quan. Khi còn sống ông không được trọng, và có người còn buộc ông tội kết bè đảng, tính chuyện bất chính; sau khi ông mất, môn sinh cố cựu thậm chí không dám đến đưa tang.

Gom và chỉnh lý kho kinh điển

Có những người nổi tiếng nhờ nghĩ ra điều mới. Cũng có người nổi tiếng vì giữ gìn, soi sáng điều cũ thật kỹ. Chu Hi làm cả hai.

Chu Hi quan tâm sâu sắc đến văn hóa truyền thống Trung Hoa, vừa là nhà triết học vừa là nhà giáo dục, học vấn rất uyên bác. Về phần chỉnh lý kinh điển Nho học, ông để lại nhiều tác phẩm: "Tứ thư tập chú", "Tứ thư hoặc vấn", "Chu Dịch bản nghĩa", "Thái cực đồ thuyết giải", "Dịch học khởi mông". Bên cạnh đó là "Chu Tử ngữ loại", "Chu Văn Công văn tập", hai bộ gồm hàng trăm quyển, ghi chép những câu hỏi đáp giữa ông và học trò và những bài văn phản ánh tư tưởng học thuật của ông; đó là bộ sưu tập đồ sộ về tư tưởng lý học đời Tống Minh. Ngoài ra còn các tác phẩm sử học như "Tư trị thông giám cương mục", và các tác phẩm văn học như "Thi tập truyện", "Sở từ tập chú". Chu Hi xứng đáng là một đại học gia trong lịch sử Trung Hoa, những gì ông chỉnh lý cho kho kinh điển đáng đặt cạnh việc Khổng Tử chỉnh lý Thư, Lễ, Dịch.

Ông mở lớp rộng rãi, nhận hơn mấy trăm học trò, có thể sánh với Khổng Tử thuở trước. Tư tưởng của ông được môn đồ chỉnh lý thành "Chu Tử ngữ loại" và "Chu Tử văn tập", để lại tài liệu quý về triết học, chính trị và giáo dục của ông. Đến trước khi mất, ông vẫn còn đang sửa "bản chú giải Đại học", và để lại di chúc giao con trai cùng học trò làm nốt phần việc dang dở. Tâm huyết cả đời của ông dành cho kinh điển là như thế.

Chu Dịch bản nghĩa: nghĩa lý và tượng số cùng một bộ

Chu Hi rất coi trọng Dịch học, bởi Dịch là nền của Nho học; nhiều nhà Nho trước ông đều lấy Dịch làm gốc. Trên nền của Thiệu Ung và hai anh em họ Trình, ông nhấn mạnh nghĩa lý của Dịch. Bộ "Chu Dịch bản nghĩa" phản ánh cái "lý" trong Dịch của ông, và được xem là bộ tổng hợp việc nghiên cứu Chu Dịch trước đời Tống, một tác phẩm tiêu biểu cho sự kết hợp giữa phái nghĩa lý và tượng số. Nhờ nó, việc nghiên cứu Dịch học lên một tầm mới.

Ông viết một câu có thể coi là tóm gọn cách ông nhìn Dịch:

Muôn lý trong thiên hạ đều từ một động một tĩnh; muôn số trong thiên hạ đều từ một lẻ một chẵn; muôn tượng trong thiên hạ đều từ một vuông một tròn. Tất cả chỉ sinh ra từ hai chữ Càn Khôn.

Nghĩa là Dịch là nguồn của tượng, số, lý; vạn lý, vạn số, vạn tượng đều xuất phát từ Dịch. Về chữ "Dịch", ông cho rằng có hai mặt, giao dịch và biến dịch. Giao dịch là dương đổi chỗ với âm, âm đổi chỗ với dương; biến dịch là âm biến thành dương, dương biến thành âm. Ông cũng rất coi trọng cặp thái cực âm dương, viết rằng trong khoảng đầy của trời đất, không gì không là điều kỳ diệu của thái cực và âm dương. Khi chú giải câu Dịch có thái cực, sinh lưỡng nghi, ông chỉ rõ: Dịch tức là sự biến đổi của âm dương, và thái cực trong Kinh Dịch chính là hình tượng của sự vận động âm dương.

Ý nghĩa lớn nhất của ông đối với Dịch học là đã làm kiểu mẫu cho sự kết hợp giữa nghĩa lý và tượng số, cho thấy hai phái này như hai bên cùng đi chứ không loại nhau. Thành quả ấy đánh dấu việc Dịch học đời Tống lên một tầm cao mới, khi ông lấy lý của Dịch làm hạt nhân, lại hấp thu lẽ Phật, phát triển tiếp lý học mà hai anh em họ Trình dựng nên. Cũng có thể thấy mối liên hệ giữa "lý nhất phân thù" của ông và "bao la vạn tượng" của Kinh Dịch: hai bên thực chất nói cùng một điều.

Một hệ thống lý học hoàn chỉnh cho Nho học

Một ngôi nhà muốn đứng vững qua nhiều thế kỷ phải có cả móng lẫn mái. Chu Hi đã làm đủ hai việc.

Đóng góp lớn nhất của ông cho Nho học gom trong mấy điểm. Thứ nhất, ông làm cho hệ thống lý luận của Nho học trọn vẹn hơn. Ở đời Hán, Nho học tuy đã chiếm vị trí độc tôn, nhưng thuyết thiên nhân của Đổng Trọng Thư chưa nâng được trình độ lý luận. Từ khi Chu Hi lập nên Nho học mới, đưa lý luận lên một tầm cao hơn, Nho học mới thật sự xứng với vị trí xã hội của nó. Nho học mới của ông xây trên nền Nho học truyền thống, hấp thu lý học của hai anh em họ Trình, hấp thu Phật học và quan điểm của Đạo gia. Hạt nhân của nó là coi lý như một hình thái ý thức tối cao vượt khỏi thời gian, không gian và hình thể, tức thiên lý; nó cũng nói vạn vật đều có đạo lý, đạo lý nằm trong vạn vật, đạo lý là chuẩn tắc cao nhất, và con người đi tới đạo lý bằng cách vật chí tri.

Thứ hai, ông chỉnh lý kinh điển với tấm lòng của một học giả uyên bác về kinh, sử, triết, văn học, thậm chí cả luật nhạc. "Tứ thư tập chú" và "Chu Dịch bản nghĩa" đều là công trình trình độ cao, tác động sâu tới sự kế thừa và phát triển của Dịch học và Nho học. Bộ "Tứ thư tập chú" gồm Luận Ngữ, Mạnh Tử, Đại học, Trung Dung, chú giải nhiều chỗ sáng tạo, đặc sắc, từng làm giáo trình học đường và chuẩn thi cử.

Thứ ba, ông tìm cho luân lý Nho gia một chỗ dựa về lý luận. Ông lấy thuyết "lý nhất phân thù" làm căn cứ, đưa các giá trị luân lý Nho gia lên vị trí thiên lý. Với ông, nhân, nghĩa, trung, hiếu là lẽ thường của trời đất, nên đạo lý ấy không thể khác; nếu trái đạo thì trời đất khó dung. Rồi qua thuyết cách vật chí tri, ông cho rằng đã tôn vua thì phải tôn bậc trưởng, tôn anh; những điều ấy đều là một đạo lý, đạo lý tôn kính người bề trên. Ông tự nhắc mình bằng câu: dạo chơi trong chỗ rộng của lý pháp, đắm mình trong kho tàng nhân nghĩa. Ông xem đạo đức luân lý Nho gia là chuẩn tắc cao nhất và đưa ra nguyên tắc "tồn thiên lý, diệt nhân dục" để thực hiện chuẩn tắc ấy.

Chu Hi nối Trương Tái, họ Trình và người đến sau

Có người nói triết học của Chu Hi đã đảo lại thứ bậc giữa ý thức và vật chất; cũng có người xem nó là chỗ tổng kết các thành tựu của lý học Nam Tống rồi phát triển cả bề rộng lẫn bề sâu. Điểm nổi bật nhất trong hệ thống của ông là sự kết hợp giữa "lý" của hai anh em họ Trình và "khí" của Trương Tái, làm cho lý học Tống Minh phong phú hơn nhiều. Có nhà sử học nhận xét rằng triết học Trung Hoa đi lên theo một vòng xoắn ốc lớn, và Chu Hi là một vòng quan trọng trong đó.

Ông cũng là điểm giữa của tư tưởng Trương Tái, họ Trình và Vương Phu Chi, có tác dụng nối tiếp cho sự phát triển của triết học Tống Minh. Nếu không có triết học của Chu Hi thì cũng không có bộ sưu tập lớn của Vương Phu Chi về sau.

Lý học của ông còn có một đặc điểm: dung nạp triết lý của Phật và Lão. Thuyết "lý nhất phân thù" của ông, tức cái đạo lý của trời tuy chỉ có một nhưng mọi việc đều có đạo lý ấy, cùng tinh thần với hình ảnh "trăng chiếu sông núi": trên trời chỉ có một mặt trăng mà nơi nào cũng có ánh trăng phủ. "Đạo" của Chu Hi và "đạo" của Lão Tử đều là quan niệm tuyệt đối vượt khỏi hiện tượng. Do lý học của ông coi Phật và Lão là những nhánh bổ sung cho nhau, nó có độ dung nạp xã hội rộng lớn, và đó cũng là một nguyên nhân khiến lý học của ông lưu truyền rộng.

Chu Hi thật và Chu Hi được tôn: những mặt sáng và mặt nặng

Cùng một người, có lúc trở thành ngọn đèn, có lúc trở thành bức tường. Điều ấy tùy người đời dùng ông thế nào.

Khi nhìn Chu Hi, cần phân biệt Chu Hi con người với Chu Hi do các triều đại dựng lên, và tư tưởng của ông với tư tưởng của ông khi được người đời sử dụng. Lý học của ông phù hợp với nền kinh tế nông nghiệp lúc ấy, lại có lợi cho việc giữ trật tự xã hội, nên có tác động tích cực trong nhiều thế kỷ. Nhưng việc đặt ba giềng năm hằng ngang với thiên lý cũng khiến tư tưởng người ta bị nhốt trong khuôn khổ chật của tôn pháp, làm chậm sự nảy nở của những tư tưởng mới. Vì vậy, tư tưởng của ông có cả mặt tích cực lẫn mặt hạn chế.

Cho nên, tư tưởng của Chu Hi không chỉ có ảnh hưởng sâu sắc đến triết học, lịch sử văn hóa, giáo dục đạo đức, mà còn tác động ở mức độ nhất định đến pháp luật và nghệ thuật. Trong suốt bảy tám trăm năm, ông được tôn là Á Thánh, là Khổng Tử tái thế; những đóng góp của ông cho Kinh học, Dịch học, triết học và lý học Trung Hoa rất lớn, và ảnh hưởng của ông chỉ đứng sau một người duy nhất là Khổng Tử.

Nguồn: Kinh điển văn hóa 5000 năm Trung Hoa - Tập 2 (Dương Lực), thuật lại có lược bớt.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Khuyên Thiện