Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Khuyên Thiện

Bài tổng quan

Lý học Tống Minh, kinh học Minh Thanh và phái tượng số

Đạo Học - Khuyên Thiện01/10/202616 phút đọc3 lượt đọc
Lý học Tống Minh, kinh học Minh Thanh và phái tượng số

Khi một triều đại tan, người ta lại tìm sợi dây cũ để buộc người với người, và sợi dây ấy hóa ra là một bộ luân lý được đọc qua Chu Dịch. Đến đời sau, cuốn sách cũ mấy nghìn năm vẫn đứng đầu mọi bộ tùng thư của triều đình. Còn một nhánh khác của dòng sông ấy, lặng lẽ đếm từng nét vạch và con số, cũng đang chờ được kể...


Lý học nghĩa lý đời Tống Minh: thời kỳ huy hoàng của dịch học

Sau khi một triều đại tan, người ta tìm lại sợi dây cũ để buộc người với người, và sợi dây ấy là một bộ luân lý được đọc qua Chu Dịch.

Tác giả gọi thời Tống Minh với lý học nghĩa lý là thời kỳ huy hoàng trong lịch sử dịch học. Sau khi nhà Đường bị chia cắt và suy thoái, nhà Tống mở ra sự thống nhất mới. Để củng cố chính quyền, tăng cường quyền lực trung ương, ổn định xã hội phong kiến, nhà Tống triển khai kế hoạch khôi phục cương yếu lý luận Nho gia. Nho học nhờ đó phát triển mạnh, và dịch học trong kinh điển nho học được đề xướng và phát huy. Triều đại này rất coi trọng mặt tư tưởng để củng cố sự thống trị, nên cũng hết mực coi trọng việc phát triển dịch học. Chu Dịch có bước phát triển mới trong bối cảnh xã hội ấy, và ông tóm vai trò lịch sử của lý học nghĩa lý ở ba điểm.

Đỉnh cao của nghĩa lý dịch học

Thứ nhất, lý học nghĩa lý Tống Minh là đỉnh cao của nghĩa lý dịch học. Dịch học đời Tống không bị giới hạn ở việc khảo chứng và huấn cổ, tức giải nghĩa cổ của Chu Dịch. Nghĩa lý dịch đời Tống phát triển trên nền nghĩa lý dịch đời Đường, chủ yếu chịu ảnh hưởng tư tưởng của Chu Dịch chính nghĩa của Khổng Dĩnh Đạt. Khổng Dĩnh Đạt đã kết hợp lý luận âm dương với lý luận nho gia làm hạt nhân cho tác phẩm, dựng nền cho nghĩa lý dịch học chính thống. Nhà dịch học nổi tiếng này đã dựng nền cho nghĩa lý dịch học chính thống như vậy, nên dịch học các đời Tống, Nguyên, Minh, Thanh đều chịu ảnh hưởng tư tưởng ấy và đứng trên nền lý luận của Khổng Dĩnh Đạt.

Điểm phát triển chủ yếu của phái nghĩa lý Tống Minh là các nhà dịch học gạn lọc triệt để các thành phần của huyền học. Phái lý học nghĩa lý của Trình Di đặc biệt lấy lẽ trời, kết hợp giữa nho học Chu Khổng và nghĩa lý âm dương, làm lý luận cao nhất của dịch học. Thành tựu này đưa nghĩa lý dịch học lên một đỉnh cao của nghĩa lý cổ đại. Qua các đời Tống, Nguyên, Minh, Thanh, nó gây ảnh hưởng suốt hơn bảy trăm năm, giúp dịch học đạt địa vị cao nhất trong văn hóa Trung Hoa.

Nâng triết lý Chu Dịch lên tầm mới

Thứ hai, lý học nghĩa lý Tống Minh nâng triết lý Chu Dịch lên tầm cao mới. Một đặc điểm của dịch học Tống Nguyên là triết lý hóa cao độ các nguyên lý của Chu Dịch để đáp ứng nhu cầu của kiến trúc thượng tầng. Nổi bật là việc nghiên cứu, khai thác lý luận bản thể vũ trụ, phát triển trên cơ sở các nguyên lý của Chu Dịch, và hình thành ba phái nghiên cứu chủ yếu. Một là hệ thống dịch học của phái khí học, đại diện là Trương Tải. Hai là hệ thống dịch học của phái lý học, đại diện là Trình Di và Chu Hy. Ba là hệ thống dịch học của phái tâm học, đại diện là Vương Thủ Nhân và Lục Cửu Uyên.

Các hệ thống này đều lấy nguyên lý dịch học làm hạt nhân, và lấy tôn chỉ là dựng nên hệ thống tư tưởng của mình thông qua dịch học. Về khách quan, chúng thúc đẩy triết lý dịch học. Nhiều tác phẩm nổi tiếng với trình độ triết lý khá cao lần lượt ra đời, như Hoành Cừ dịch thuyết của Trương Tải, Y Xuyên dịch truyện của Trình Di và Chu Dịch bản nghĩa của Chu Hy. Tác giả xem đó là những tác phẩm tiêu biểu cho triết lý dịch học thời Tống Nguyên.

Nho học hóa Chu Dịch tới đỉnh cao

Thứ ba, lý học nghĩa lý đưa tư tưởng nho học hóa Chu Dịch vươn tới đỉnh cao nhất của thời cổ đại. Đặc điểm của dịch học Tống Nguyên là nho học hóa dịch học. Từ thời tiên Tần, Dịch truyện do Khổng Tử và đệ tử soạn đã coi dịch học là kinh điển nho học. Đời Hán, khi Hán Vũ Đế tiếp nhận ý kiến độc tôn nho thuật của Đổng Trọng Thư để thực hiện một sự thống nhất quy mô lớn, dịch học bắt đầu nho học hóa lần thứ hai. Lần tiếp theo là khi nhà Tống lập sự thống nhất mới để tập trung quyền lực vào trung ương, tiếp tục siết chặt sự thống trị phong kiến. Người ta khôi phục nho học, và loại hình nho học mới lấy lý học làm đại diện chiếm địa vị thống trị. Chu Dịch với chỗ dựa là hệ thống tư tưởng bị nho học hóa, mà tác giả gọi là nho học hóa mới.

Nho học hóa mới là hình thức nho học lấy lý học làm hạt nhân, tức lấy lẽ trời làm chuẩn tắc cao nhất của luân lý. Lời của các bậc thánh nhân được dẫn lại bằng một câu ngắn.

Minh thiên lý, diệt nhân dục.

Sáng được lẽ trời thì dập được dục vọng của người. Thiên lý ở đây chính là thái cực của Chu Dịch. Quyển 94 của Chu tử ngữ loại có câu giải thích.

Thái cực, lý dã.

Thái cực là cái lý vậy. Như thế Chu Dịch trở thành đích cuối cùng của luân lý, thành khoa học xã hội và luân lý học có ảnh hưởng lớn nhất trong lịch sử Trung Hoa, và nho học hóa mở rộng ảnh hưởng của Chu Dịch trong văn hóa nước này. Tác giả tóm rằng lý học nghĩa lý Tống Nguyên đã nghĩa lý hóa, triết lý hóa và nho học hóa Chu Dịch, giúp sách lớn mạnh chưa từng có, và đó là thời kỳ huy hoàng trong lịch sử dịch học.

Kinh học nghĩa lý Minh Thanh: đỉnh cao của dịch học cổ đại

Một cuốn sách đã cũ vài nghìn năm vẫn còn đứng ở đầu mọi bộ tùng thư của triều đình.

Nghĩa lý dịch học Minh Thanh, theo tác giả, là đỉnh cao của sự phát triển dịch học cổ đại. Ở phương diện nào, triết lý, kinh học hay phác học, cũng đạt trình độ cao nhất trong lịch sử dịch học. Nhất là triết lý và kinh học, suốt thời gian dài từ Khang Hy đến Gia Khánh, dịch học phát triển đến mức chưa từng có, cho thấy vai trò chủ đạo của nó trong văn hóa Trung Hoa. Ông nêu ba vai trò.

Đưa triết lý dịch học lên đỉnh cao mới

Thứ nhất, dịch học Minh Thanh đưa triết lý dịch học lên đỉnh cao. Nếu Tống Dịch là một đỉnh cao của triết học dịch học thì Minh Thanh Dịch cũng là một đỉnh cao. Dịch học Minh Thanh kế thừa quan điểm duy vật của Chu Dịch. Tác giả nói tư tưởng biện chứng trong các tác phẩm triết học cổ đại tuy khá tiên tiến nhưng vẫn mang quan điểm duy tâm. Lão Tử và Trang Tử giữ phép biện chứng của Chu Dịch trên cơ sở duy vật, nhưng thời Ngụy Tấn đã thấm sâu huyền học, cộng với sự hình thành lý học và tâm học Tống Nguyên Minh, khiến Chu Dịch bị các nhà duy tâm dịch học lợi dụng, và những quan điểm duy vật vốn có trong sách bị chèn ép khó phát triển.

Dịch học Minh Thanh có trường phái nghĩa lý duy vật biện chứng, đại diện là Vương Phu Chi và Cố Viêm Vũ. Họ dựa trên cơ sở của Trương Tải để phê phán kịch liệt quan điểm hư vô của Lão Trang trong huyền học Ngụy Tấn và lý luận đạo khí duy tâm của Đạo gia Tống Minh, nhờ đó phát triển mạnh quan điểm duy vật về dịch lý, nhất là lý luận bản thể duy vật. Chu Dịch bước thêm một bước dài trong phép biện chứng duy vật, thực sự thành đại diện của triết học duy vật Trung Hoa cổ đại, và triết học dịch học nhờ vậy đạt tầm cao quan trọng của thời cổ.

Vị trí cao nhất trong kinh học

Thứ hai, dịch học Minh Thanh đưa dịch học lên vị trí cao nhất trong kinh học cổ đại. Tiên Tần, Khổng Tử xếp Kinh Dịch vào lục nghệ hay lục kinh, và Kinh Dịch bắt đầu thuộc hàng kinh học. Qua Hán, Đường, đến Thanh, địa vị của Chu Dịch trong kinh học đạt mức vô thượng. Đời Hán Chu Dịch chiếm vị trí đầu trong lục kinh, đời Đường là đỉnh cao nghiên cứu và giải thích Ngũ kinh, đời Tống là thời kỳ tiên phong của mười ba kinh. Đến đời Thanh, nhờ sự coi trọng của quan lại triều đình, kinh học đạt phát triển toàn diện và tổng kết, chỉnh lý có hệ thống các tư tưởng kinh học trong lịch sử. Chu Dịch nhân cơ hội đó mà được kế thừa và phát huy toàn diện, các tác phẩm về Dịch xuất hiện hàng loạt, cùng nhiều dịch học gia xuất sắc như Cố Viêm Vũ, Vương Phu Chi, Hoàng Tông Hy, Hoàng Tông Viêm, Hồ Vị. Một số nhà dịch học nổi tiếng đời Thanh cũng đề cao Chu Dịch trong kinh học, tiêu biểu là Chu Dịch chiết trung của Lý Quang Địa, Kinh Dịch thông luận và Ngũ kinh thông luận của Bì Tích Thụy. Chu Dịch với hơn năm trăm loại sách đã được xếp hàng đầu của Tứ khố toàn thư, và các tác phẩm như Hoàng Thanh kinh giải cũng xếp Chu Dịch vào vị trí chủ đạo của kinh điển.

Thành tựu của phác học đời Thanh

Thứ ba là thành tựu của dịch phác học nghĩa lý. Một đặc điểm của dịch học đời Thanh là sự phát triển của phác học, trường phái chuyên sâu về huấn cổ khảo chứng, rất ít sáng tạo mà phần lớn giữ lại tư tưởng dịch học cổ. Tuy vậy họ gặt hái nhiều thành công, cụ thể là chỉnh lý và khảo chứng Hán dịch, khiến bóng dáng một thời của Hán dịch đã mai một nay được khôi phục. Đặc điểm của Hán dịch là nêu cao tư tưởng nhà Hán và kìm chế tư tưởng nhà Tống. Phái phác học nghĩa lý có đại diện là Huệ Đống, với nhiều chỉnh lý và truy khảo quan trọng, như tác phẩm Hán Dịch học của ông. Ngoài ra Hán học đường tùng thư của Hoàng Thích, Hán Ngụy nhị thập nhất gia Dịch chú của Tôn Đường, phần Dịch trong Ngọc hàm sơn phòng tập dật thư của Mã Quốc Hàn và Chu Dịch Ngu thị chú của Trương Huệ Ngôn đã thu thập, biên soạn và chỉnh lý dịch học đời Hán, là những tư liệu quý báu.

Tóm lại, dịch học Minh Thanh phát triển Chu Dịch lên đỉnh cao của dịch học cổ đại, củng cố vị trí thống trị của dịch học trong văn hóa truyền thống. Nhìn chung, tư tưởng nghĩa lý trong Chu Dịch, từ tiên Tần đến đời Thanh, đã có bề dày lịch sử mấy nghìn năm, triều đại nào cũng coi trọng, và sự phát triển dịch lý của mỗi triều đều mang nét riêng. Qua nghĩa lý của Chu Dịch, ta nhận ra vị trí quan trọng và ảnh hưởng sâu rộng của nó trong văn hóa tư tưởng Trung Hoa.

Phái tượng số Chu Dịch: lấy tượng và số để giải thích dịch lý

Nếu nghĩa lý là lời của dịch học thì tượng số là hình dáng và nhịp đếm của nó.

Sang phần nói về sự hình thành và phát triển phái tượng số, tác giả khái quát rằng đây là phái lấy tượng số của Chu Dịch để giải thích và ứng dụng dịch lý. Cùng với phái nghĩa lý, nó là một trong hai phái nghiên cứu chính, tồn tại song song, có vị trí và tầm ảnh hưởng nổi bật nhất. Phái tượng số gồm ba phạm trù là tượng số theo nghĩa hẹp, đồ học và thuật số.

Lý luận hạt nhân của tượng số là âm dương ngũ hành, một gợi mở quan trọng cho khoa học tự nhiên. Thời cổ đại nó ảnh hưởng nhiều tới các lĩnh vực như y học, thiên văn cổ, lịch số, nhạc luật, mỹ thuật, hội họa, võ thuật và khí công. Trong khoa học xã hội, nhiều bộ môn có quan hệ chặt chẽ với khoa học tự nhiên, như phép binh gia và quản lý. Dịch học tượng số bao gồm một phạm vi rất rộng, nên không thể xếp ngang hàng với tượng số theo nghĩa riêng và thuật chiêm phệ. Thật ra chiêm phệ chỉ là một bộ phận trong phạm vi của dịch học tượng số.

Dịch học tượng số là một chủ thể quan trọng của dịch học có quan hệ chặt chẽ với khoa học tự nhiên, và khi những bí mật của dịch tượng số dần được khám phá thì khoa học tự nhiên cũng theo đó mà phát triển. Nghĩa lý và tượng số không thể thiếu một, cả hai cùng tồn tại và cùng là bộ phận tổ hợp quan trọng của dịch học, cần chú trọng cả hai và bổ sung cho nhau thì dịch học mới lên tầm cao mới. Tác giả nói sự phát triển của dịch học tượng số chủ yếu trải qua bốn thời kỳ: tượng số bốc phệ thời tiên Tần, tượng số quái khí quái biến thời Hán, dịch học tượng số và đồ học tượng số thời Tống, và sự thống nhất giữa tượng số với nghĩa lý thời Thanh.

Tượng, số và dịch: ngôn ngữ cổ nhất của dịch học

Một vạch liền, một vạch đứt, một con số lẻ, một con số chẵn, và từ đó người xưa kể lại cả trời đất.

Tác giả bàn về khái niệm và mối quan hệ giữa tượng, số và dịch. Kinh Dịch có chủ trương xem vật mà lấy tượng, Dịch truyện có chủ trương xem tượng mà lấy nghĩa. Hệ từ nói đến tượng bằng câu: Dịch là tượng, tượng là hình tượng. Tượng trong Dịch tức là tượng trưng, hình tượng, và trong Kinh Dịch tượng có hai nghĩa cơ bản là quái tượng và hào tượng. Quái tượng gồm ngôi của quẻ, chỉ quan hệ ngôi vị giữa tám quẻ và các sự vật được tượng trưng bởi sáu mươi bốn quẻ. Hào tượng chỉ các sự vật tượng trưng cho hai hào âm và dương.

Số cũng có hai nghĩa lớn. Nghĩa thứ nhất là âm dương số, ví dụ số lẻ gọi là số dương, số chẵn gọi là số âm. Nghĩa thứ hai là hào số, gồm hào vị lấy thứ tự các hào để nói quan hệ ngôi vị giữa các sự vật, trong đó số chín là số dương và số sáu là số âm. Vì thế mới có cách nói sau.

Thiên hạ chi vạn số xuất ư nhất ngẫu nhất kỳ, thiên hạ chi vạn tượng xuất ư nhất phương nhất viên.

Mọi con số trong trời đất đều có số lẻ và số chẵn, mọi tượng trong thiên hạ đều có cái vuông và cái tròn. Chu Dịch lấy tượng và số để hình thành ký hiệu và công thức, mà tác giả gọi là loại ngôn ngữ cổ nhất của dịch học để nói về các hiện tượng tự nhiên trong vũ trụ và các hiện tượng xã hội.

Ba thứ không đứng riêng

Tượng, số và dịch trong Chu Dịch không tồn tại độc lập. Tượng chủ yếu miêu tả hào dương và hào âm. Số nói lên quy luật chẵn lẻ. Dịch thực chất là mối quan hệ thống nhất đối lập của âm và dương. Vì vậy tượng, số và dịch là một hệ thống thống nhất có quan hệ chặt chẽ, trong đó tượng và số là nội dung cơ bản của dịch học, và Chu Dịch là một bộ sách chuyên về tượng và số. Tượng được chia thành quái tượng và hào tượng, gồm các ký hiệu về quẻ và hình đồ của dịch, chứa một kho tàng đồ sộ về ký hiệu và thông tin, và là hình ảnh thu nhỏ của đạo tam tài gồm thiên, địa, nhân. Giá trị của tượng không chỉ ở biểu hiện bên ngoài mà ở nội dung bên trong, vì các ký hiệu xuất phát từ quá trình diễn biến phệ số, tức số trong phép bói cỏ thi. Sự ký hiệu hóa ấy tượng trưng cho việc mở cửa trong lĩnh vực dịch học.

Số gồm hào số và đồ số, dựa trên cơ sở của tượng. Mục đích của số là giải thích tượng. Số là một khái niệm trừu tượng, là phần bổ sung cho tượng, hai bên bổ trợ để cùng phát triển, cùng tạo khung xương cho việc dựng dịch học và thành công cụ của Chu Dịch để giải thích sự vật. Số dựa trên cơ sở vật chất, và có nguồn gốc từ tượng, nên có hai cách nói rằng tượng định ra số, và số dùng để chứng tượng. Sách Luật lịch chí trong Hậu Hán thư viết rằng vật sinh rồi mới có tượng, có tượng rồi mới có tư, có tư rồi mới có số. Hán thư cũng nhận định rằng từ khi Phục Hy vạch bát quái thì số cũng từ đó mà khởi. Mỗi quẻ tượng hàm chứa một số nhất định. Tượng số là ngôn ngữ cổ nhất của dịch học, ký hiệu quẻ chính là sự thể hiện của số, và Chu Dịch đã ký hiệu hóa phệ số, nên tượng và số là một chỉnh thể.

Dịch, chữ gom cả bộ sách

Dịch là biến. Dịch được gọi là biến dịch, giao dịch. Chu Dịch phân tích sự biến hóa của hào và quái. Cả bộ Chu Dịch có thể tổng kết trong một chữ Dịch, như các câu sinh ra rồi sinh mãi gọi là Dịch, và Dịch đến cùng thì biến hóa, biến hóa thì thông đạt, thông đạt thì lâu dài. Dịch cho thấy mọi sự vật hiện tượng trong vũ trụ đều nằm trong trạng thái vận động, biến hóa và mâu thuẫn không ngừng, một tư tưởng triết lý vô cùng tinh thâm. Âm thì mềm, dương thì cứng, cứng mềm dời đẩy nhau mà bên trong sinh ra biến hóa.

Ảnh hưởng của tượng và số lan sang y học. Cơ sở hình thành lý luận y học Trung Hoa cũng mang đặc điểm của tượng và số: các học thuyết âm dương, ngũ hành, khí trong y học, các quan niệm chỉnh thể về tam tài và học thuyết tạng tượng đều dựa trên cơ sở tượng và số. Điều này, tác giả nói, cho thấy tượng và số ảnh hưởng vô cùng lớn đến nền y học Trung Hoa.

Nguồn: Kinh điển văn hóa 5000 năm Trung Hoa - Tập 1 (Dương Lực), thuật lại có lược bớt.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Khuyên Thiện