Bài tổng quan
Nghĩa lý và tượng số: hai dòng chảy từ một nguồn
Từ cùng một mạch nước, người xưa đào hai con kênh, một con chảy về ruộng người, một con chảy về ruộng trời. Giữa hai con kênh ấy có một ông già đọc sách đến nỗi dây buộc thẻ tre đứt ba lần. Còn điều ông già làm với cuốn sách của những người xem điềm lại là chuyện nhiều người ít để ý...
Hai nhánh lớn nhất chảy ra từ một nguồn Chu Dịch
Từ cùng một mạch nước, người ta đào hai con kênh, một con tưới ruộng người, một con tưới ruộng trời.
Tác giả mở đầu chương bằng nhận định rằng phái nghĩa lý và phái tượng số là hai dòng nghiên cứu lớn nhất về Chu Dịch. Hai phái giống như hai nhánh lớn chảy ra từ một nguồn, rồi hình thành hai dòng lớn của dịch học. Phái nghĩa lý giải thích rõ ràng và ứng dụng dịch lý vào cuộc sống, xuất phát từ tư tưởng chính trị và luân lý xã hội. Phái tượng số phát huy và ứng dụng dịch lý vào cuộc sống, xuất phát từ hai phương diện tượng và số.
Lý luận hạt nhân của cả hai phái đều là lý luận âm dương. Hai phái là hai dòng chính của dịch lý, cùng tồn tại và không thể thiếu một trong hai, cần bổ trợ cho nhau, và mối quan hệ giữa chúng là sự thống nhất biện chứng. Lý luận hạt nhân của phái nghĩa lý là triết lý, tức triết lý về âm dương và tư tưởng biện chứng của Chu Dịch. Dòng chảy chính của phái tượng số là dịch đồ và dịch số. Số là một tư duy trừu tượng, là phần bổ sung cho tượng, và tượng với số bổ trợ để cùng hình thành. Cả hai dựng nên khung sườn cho tư duy dịch học và trở thành công cụ của Chu Dịch để nhận thức, giải thích sự vật.
Tác giả cho rằng sự phát triển của tượng số học có ý nghĩa khai phá quan trọng với khoa học tự nhiên. Phái nghĩa lý có quan hệ vô cùng mật thiết với khoa học xã hội, còn phái tượng số có quan hệ chặt chẽ với khoa học tự nhiên. Ông nhắc một điều cần lưu tâm: thuật chiêm phệ chỉ là một bộ phận của tượng số học. Không thể xếp thuật chiêm phệ ngang hàng với tượng số học, nếu không sẽ phạm sai lầm lớn đối với lịch sử.
Hai phái là hai trụ cột, không nên công kích nhau
Một cái cột đổ xuống thì mái nhà dịch học cũng nghiêng, vì thế người sáng suốt không đứng về bên nào để chê bên kia.
Theo nghĩa rộng, phái nghĩa lý là phái dịch học nghiên cứu các lĩnh vực tư tưởng xã hội. Theo nghĩa hẹp, đó là phái dịch học đưa ra các triết lý về dịch học. Tương tự, nghĩa rộng của phái tượng số là phái chuyên nghiên cứu dịch lý từ góc độ tượng và số, cụ thể là nghiên cứu dịch học qua đồ học và thuật số. Luận cứ cơ bản của hai phái đều là triết lý âm dương, nên đó là hai trụ cột của dịch học, không thể thiếu một. Vì thế hai phái không nên công kích lẫn nhau, và đặc biệt không được xếp phái tượng số ngang với thuật chiêm phệ.
Chiêm phệ chỉ là một bộ phận của phái tượng số. Tuy vậy tác giả nhấn mạnh chiêm phệ có vai trò quan trọng trong việc ứng dụng và lưu truyền dịch học. Nếu không có sự ứng dụng và lưu truyền của thuật chiêm phệ, dịch học chưa chắc đã được truyền bá rộng và sâu đến thế, nên phải nhìn chiêm phệ bằng con mắt lịch sử.
Đồng đồ nhi thù quy.
Quan hệ giữa phái tượng số và phái nghĩa lý đúng như câu nói của Khổng Tử mà tác giả dẫn, nghĩa là cùng một đường mà về các hướng riêng. Ông giải thích đó là cùng một dòng mẹ mà chia hai dòng con. Hai phái có mức độ quan trọng ngang nhau, một bên gắn mật thiết với khoa học tự nhiên, một bên gắn chặt với khoa học xã hội, cả hai đều ảnh hưởng sâu đến tư tưởng văn hóa Trung Hoa và là một sự thống nhất biện chứng. Những tư tưởng chia rẽ, thậm chí đặt hai phái đối lập, là đi ngược lịch sử và phạm sai lầm lớn. Hai phái là một thể thống nhất của cặp mâu thuẫn, vừa đối lập vừa thống nhất, bổ trợ nhau mà phát triển, và đều có vai trò không thể phủ nhận với dịch học.
Dòng đi của mỗi phái qua các đời
Phái nghĩa lý do Khổng Tử sáng lập với nho học nghĩa lý, phát triển qua kinh học nghĩa lý của họ Phí họ Mã, mạnh nhất ở nghĩa lý Vương Bật và Hàn Khang Bá thuộc huyền học, hưng thịnh nhất ở lý học nghĩa lý của Trình Di và Chu Hy, rồi được duy trì ở nghĩa lý của học phái Hoàng và Vương. Phái tượng số do tượng số chiêm phệ tiên Tần sáng lập, phát triển rầm rộ nhất ở quái biến tượng số của hai nhà họ Tiêu và họ Phòng, rồi đồ học tượng số đời Tống Nguyên khá phát triển, và được duy trì ở tượng số học phái đời Minh Thanh.
Năm lần hợp nhất hai phái
Tác giả nói các bậc đại tư tưởng trong lịch sử dịch học đều coi trọng sự thống nhất của hai phái, và ông đếm được năm lần hội nhập. Lần đầu là Dịch truyện do Khổng Tử và các đệ tử biên soạn, tác phẩm đầu tiên nhấn mạnh nghĩa lý trong Chu Dịch, nhưng Khổng Tử vẫn không bài xích chiêm phệ và nói quan hệ giữa chiêm phệ và nghĩa lý là cùng một đường mà về hai nẻo. Lần thứ hai là sau khi Vương Bật và Hàn Khang Bá chủ trương gạt bỏ tượng, Chu Dịch chính nghĩa của Khổng Dĩnh Đạt đổi cách nhìn và hợp nhất tượng số với nghĩa lý. Lần thứ ba là Chu Dịch bản nghĩa của Chu Hy, hợp nhất ba trường phái chiêm phệ, tượng số và nghĩa lý, đồng thời khôi phục nguồn gốc chiêm phệ của Chu Dịch. Lần thứ tư là Chu Dịch chiết trung do Lý Quang Địa phụng chỉ vua Thanh, điều chỉnh tranh chấp giữa dịch đời Hán và dịch đời Tống, lại một lần hợp nhất tượng số và nghĩa lý. Lần thứ năm là Tứ khố toàn thư, phần Dịch loại, thu gom hơn năm trăm loại sách viết về Dịch gồm tượng, số, nghĩa lý và chiêm phệ. Qua năm lần ấy, quan hệ hai phái ngày càng được tăng cường.
Khổng Tử cởi chiếc áo chiêm phệ cho Chu Dịch
Cuốn sách của người xem điềm bỗng được một ông già đọc đến ba lần đứt dây buộc.
Về sự hình thành phái nghĩa lý, tác giả nhắc rằng Chu Dịch là một bộ sách khoa học xã hội được biên soạn dưới hình thức chiêm phệ, tức xem bói bằng cỏ thi. Thời tiên Tần, Khổng Tử được xem là người đầu tiên phát hiện ra Chu Dịch, và cũng là người cởi bỏ chiếc áo ngoài chiêm phệ để đi vào nội dung quan trọng nhất của nó. Khi phát hiện ra Chu Dịch, ông không khỏi ngạc nhiên mà thốt lên một lời.
Gia ngã sổ niên, ngũ thập dĩ học Dịch, khả dĩ vô đại quá hỹ.
Nếu ta có thêm vài năm, đến năm mươi tuổi mới học Dịch, thì có thể không mắc lỗi lớn. Ông cũng bày tỏ lập trường mến Dịch mà không chiêm. Trong thiên Yếu của Dịch truyện, bộ sách lụa phát hiện khi khai quật ngôi mộ đời Hán ở gò Mã Vương, có dẫn lời Khổng Tử.
Ngô dữ Sử Vu đồng đồ nhi thù quy.
Ta với các thuật gia chiêm phệ cùng đường mà về hướng riêng. Từ đó dịch học mới bắt đầu có sự phân biệt giữa phái nghĩa lý và phái tượng số. Trước Khổng Tử, Chu Dịch còn bị bó chặt trong áo khoác chiêm phệ, vì thời Xuân Thu thuật chiêm phệ vẫn thịnh hành, như các ghi chép chiêm phệ trong Tả truyện và Quốc ngữ cho thấy. Hơn chín mươi phần trăm số văn tự giáp cốt thời Thương Chu là chiêm phệ từ, một bằng chứng hùng hồn. Cho nên Kinh Dịch được viết dưới hình thức chiêm phệ để phản ánh tư tưởng văn hóa đương thời là một tất yếu lịch sử. Trước Xuân Thu là thời đại mà văn hóa chiêm phệ thống trị văn hóa Trung Hoa, nên người ta không nên xem nhẹ các sách chiêm phệ ấy, vì chúng có giá trị lịch sử riêng.
Tác giả liệt kê ba cống hiến của Khổng Tử cho phái nghĩa lý.
Cống hiến thứ nhất: phát hiện Kinh Dịch và đưa vào lục kinh
Sau khi phát hiện Kinh Dịch, Khổng Tử hết lòng ca ngợi và chuyên tâm nghiên cứu dịch học. Tư liệu lịch sử chứng minh ông rất ham Kinh Dịch. Bộ sách lụa về Chu Dịch phát hiện ở ngôi mộ cổ đời Hán tại gò Mã Vương, huyện Trường Sa, tỉnh Hồ Nam năm 1973 chép như sau.
Phu Tử lão nhi hiếu Dịch, cư tắc tại tịch, hành tắc tại thác.
Khổng Tử về già thì ham Dịch, ở nhà thì đọc Dịch trên chiếu, đi thì để Dịch trong đãy. Sử ký, thiên Khổng Tử thế gia, cũng chép rằng ông về già thích Dịch, đọc đến nỗi dây buộc thẻ tre đứt ba lần, và ông nói nếu cho ông thêm vài năm nữa thì ông sẽ thấu hết nội dung và hình thức của Dịch. Sử ký còn ghi chi tiết việc ông truyền Kinh Dịch cho đệ tử. Thiên Thiên vận trong Trang Tử chép việc ông xếp Kinh Dịch vào nhóm lục nghệ, nay gọi là lục kinh, gồm Thi, Thư, Lễ, Nhạc, Dịch và Xuân Thu. Từ đó Kinh Dịch có chỗ đứng trong hàng kinh điển nổi tiếng và bắt đầu giữ vai trò quan trọng trong lịch sử văn hóa Trung Hoa.
Cống hiến thứ hai: biên soạn Dịch truyện
Theo suy đoán và nhận định của Tư Mã Thiên và Ban Cố, Dịch truyện do Khổng Tử biên soạn. Sử ký nói ông về già thích Dịch, soạn các thiên Thoán, Hệ, Tượng, Thuyết quái và Văn ngôn, và Hán thư, Tùy thư cũng có ghi chép tương tự. Tác giả nói Khổng Tử đi thuyết phục khắp sáu nước, trong mười sáu năm phấn đấu không mệt mỏi, đóng góp lớn cho văn hóa Trung Hoa, gồm biên soạn Xuân thu và san định Thi, Thư, Nhạc, Lễ. Ông coi trọng dịch học, tham gia chỉnh lý Kinh Dịch và nêu quan điểm của mình trong quá trình ấy. Ông nêu ba chứng cứ cho việc Khổng Tử soạn Dịch truyện.
Chứng cứ thứ nhất là thiên Yếu trong bộ sách lụa gò Mã Vương: Tử Cống hỏi Phu Tử có tin vào phệ không, và ông đáp rằng ta xem cái đức và cái nghĩa của nó, ta với các nhà phệ cùng đường mà về hướng khác nhau. Điều này cho thấy khi nghiên cứu Kinh Dịch ông chỉ lấy cái nghĩa mà gạt hình thức chiêm phệ, nhằm xem đức nghĩa của nó. So sánh hai phần Thoán và Tượng trong Dịch truyện thì Thoán tập trung vào lý và nghĩa, còn Tượng tập trung vào đức mà không nói đến thuật chiêm phệ. Nếu đem cái đức nêu trong Tượng truyện đối chiếu tư tưởng Khổng Tử trong Luận ngữ thì thấy đó chính là hình bóng tư tưởng của ông. Vì vậy Thoán và Tượng là do Khổng Tử soạn, và Âu Dương Tu, người từng nghi ngờ nguồn gốc của Dịch truyện, cũng phải thừa nhận nhận định ấy có lý.
Chứng cứ thứ hai là so với Xuân thu do Khổng Tử soạn: bút pháp trong Thoán và Tượng trùng khớp hoàn toàn với bút pháp Xuân thu. Còn Hệ từ và Văn ngôn thì có căn cứ chứng minh là do đệ tử Khổng Tử biên soạn. Chứng cứ thứ ba là nội dung dịch học vô cùng uyên bác và tinh thâm, nên chỉ bậc đại tư tưởng với học vấn sâu rộng mới soạn được. Khổng Tử tinh thông lục kinh, là người học vấn uyên bác bậc nhất thời Xuân Thu, và Tượng truyện sâu thẳm đến mức chỉ có sự tham gia của ông mới đạt được. Tác giả kết rằng Thoán và Tượng do chính tay Khổng Tử viết, Hệ từ và Văn ngôn do đệ tử ông biên soạn, trong đó có những câu ghi lời ông và có những câu truyền lại ý ông. Tác giả chính của Dịch truyện vì vậy là Khổng Tử.
Cống hiến thứ ba: đưa quan điểm Nho gia vào Dịch truyện
Khổng Tử là ông tổ của Nho gia. Ông và các đệ tử đưa các khái niệm nhân, nghĩa, lễ, trung của Nho gia vào Dịch truyện, khiến sách thành một tác phẩm hoàn hảo nhất về lý luận văn hóa Trung Hoa cổ đại, đồng thời được xem là kinh điển của Nho gia. Từ đó Chu Dịch từ một tác phẩm triết lý âm dương được nâng thành tác phẩm xã hội học lấy đạo đức xã hội làm trung tâm. Khổng Tử đưa vào Dịch lý các quan điểm sùng bái sự sinh, quý dương, động, cương, kiện, cùng thế giới quan và nhân sinh quan của mình. Điều ấy ảnh hưởng sâu đến việc hun đúc phong thái và diện mạo tinh thần của Trung Hoa suốt mấy nghìn năm, và làm giá trị của Chu Dịch tăng lên gấp bội.
Bối cảnh thời đại sinh ra phái nghĩa lý
Khi lưỡi cày bằng sắt cắm xuống đất, người ta bắt đầu hỏi nhiều hơn về trời.
Tác giả đặt bối cảnh vào thời Xuân Thu, tức thời Đông Chu, hơn hai trăm năm sau khi Chu Bình Vương dời về phía đông. Trung Hoa bắt đầu bước vào thời kỳ phong kiến, đồng thời là thời đại đồ sắt. Lực lượng sản xuất được nâng cao, thủ công, nông nghiệp, thương nghiệp, ngư nghiệp và chăn nuôi phát triển tương đối mạnh. Sự phát triển ấy kích thích kiến trúc thượng tầng và nâng trình độ nhận thức của con người.
Theo yêu cầu của lực lượng sản xuất, con người không thể dừng lại ở những nhận thức về chiêm phệ mà cần bước tiếp, nhận thức về mặt trời, mặt trăng và các vì sao để tìm hiểu bản chất thực của âm dương trời đất. Văn hóa âm dương bắt đầu hưng thịnh, văn hóa chiêm phệ dần mờ nhạt. Dịch truyện đánh dấu cuộc cải cách lớn trong nhận thức. So với Kinh Dịch, Dịch truyện tiến thêm một bước và trở thành tác phẩm triết học vĩ đại lấy âm dương làm hạt nhân, cơ bản tháo bỏ được lớp áo ngoài chiêm phệ.
Nguồn: Kinh điển văn hóa 5000 năm Trung Hoa - Tập 1 (Dương Lực), thuật lại có lược bớt.
