Bài tổng quan
Chính thần, linh thần và hai mươi bốn long gánh ba quẻ
Núi cao phải đứng ở đâu, nước thấp phải đổ về đâu, câu trả lời nằm trong hai chữ nghe như tên một cặp vợ chồng: chính và linh. Đặt sai chỗ, cả cuộc đất đẹp cũng thành đảo ngược. Còn Cấn Khôn vì sao được gọi là cửa sinh tử…
Mục lục · 10 phần
- 01Chính thần là vượng thần đương vận, linh thần đứng đối diện
- 02Sơn thuận thủy nghịch: đừng hiểu theo mặt chữ
- 03Linh chính có hợp đạo Dịch không
- 04Núi cao ở chỗ chính thần, nước thấp ở chỗ linh thần
- 05Cố định và lưu chuyển nương tựa nhau
- 06Hai ví dụ trên bàn Cửu tinh trạch mệnh
- 07Hai mươi bốn long gánh ba quẻ: vận, sơn và hướng
- 08Giang đông, giang tây, nam bắc và chữ "bát thần"
- 09Mậu dương đi thuận, Kỷ âm đi nghịch
- 10Thìn Tuất phân giới và cửa trời, cửa đất
Chính thần là vượng thần đương vận, linh thần đứng đối diện
"Linh chính" thực chất là cách nói khác của âm dương. Chương Trọng Sơn từng chỉ ra đầu mối quan trọng này một cách sơ lược, rồi Ôn Minh Viễn chú giải tường tận. Thần lệnh của vận đang cầm quyền là chính thần; thần đứng đối đãi với chính thần là linh thần (chữ "linh" ở đây mang nghĩa phụ, trái với chính).
- Vận 1: Nhất Bạch là chính thần, Cửu Tử là linh thần.
- Vận 2: Nhị Hắc là chính thần, Bát Bạch là linh thần.
- Vận 3: Tam Bích là chính thần, Thất Xích là linh thần.
- Vận 4: Tứ Lục là chính thần, Lục Bạch là linh thần.
- Các vận 6, 7, 8, 9 cứ theo đó mà suy: chính thần là sao của vận, linh thần là sao ở phương đối diện.
- Vận 5 có Ngũ Hoàng là chính thần nên khó phân linh thần hơn. Mậu Kỷ không có phương vị cố định trong tám phương, nên mười năm đầu của vận Năm dựa vào Khôn, lấy Bát Bạch làm linh thần; mười năm sau dựa vào Cấn, lấy Nhị Hắc làm linh thần.
Bạch Hạc Minh nói gọn lại: phương vị của vận đương lệnh làm chính thần, phương đối lại làm linh thần. Trong vận 1, phương Khảm là chính thần, phương Ly là linh thần. Vận 2: Khôn chính, Cấn linh. Vận 3: Chấn chính, Đoài linh. Vận 4: Tốn chính, Kiền linh. Vận 6: Kiền chính, Tốn linh. Vận 7: Đoài chính, Chấn linh. Vận 8: Cấn chính, Khôn linh. Vận 9: Ly chính, Khảm linh. Còn vận 5 kéo dài hai mươi năm, thuộc thổ, mà Nhị Khôn của thượng nguyên và Bát Cấn của hạ nguyên cũng thuộc thổ, nên mười năm đầu giống vận 2 (lấy Cấn làm linh thần), mười năm sau giống vận 8 (lấy Khôn làm linh thần).
Sơn thuận thủy nghịch: đừng hiểu theo mặt chữ
Có người hỏi: "sơn thuận thủy nghịch" thì cứ bố sơn theo chiều thuận và bố thủy theo chiều nghịch được không? Câu đáp là không. Nhiều người học chưa thấu nên bố như vậy. Hai chữ thuận nghịch thực ra là cách giải thích hai thần chính và linh: sơn thuận là chính thần, thủy nghịch là linh thần.
Ở vận 1, long trên núi bố theo thứ tự Nhất, Nhị, Tam, Tứ, Ngũ, Lục, Thất, Bát, Cửu: đó là thuận, thuận theo số. Long của nước bao bọc cũng ở vận 1 thì bố theo thứ tự Cửu, Bát, Thất, Lục, Ngũ, Tứ, Tam, Nhị, Nhất: đó là nghịch, đảo ngược số. Nếu chỗ bố sơn lại có nước, chỗ bố thủy lại có núi thì rơi vào cuộc "thượng sơn hạ thủy".
Linh chính có hợp đạo Dịch không
Tạ Thanh Đường hỏi liệu hai thần linh chính có thực hợp với Dịch. Thẩm Trúc Nhưng đáp rằng nói linh chính không chỉ nói chuyện đối đãi. Chẳng hạn Khảm Nhất lấy Ly Cửu làm linh thần là theo sự đối đãi của hậu thiên; thực ra lấy Hà Đồ tiên thiên cũng được.
Trong Hà Đồ, Nhất, Nhị, Tam, Tứ là số sinh, làm chính thần của bốn sơn thượng nguyên; còn Lục, Thất, Bát, Cửu là số thành, làm linh thần của bốn thủy thượng nguyên. Với hạ nguyên thì ngược lại: số thành Lục, Thất, Bát, Cửu làm chính thần của bốn sơn, còn số sinh Nhất, Nhị, Tam, Tứ làm linh thần cho bốn thủy. Bởi vậy Nhất vào giữa thì cung Khảm là Lục, cung Ly là Ngũ, và đó chính là nguyên tắc của linh chính, nguyên tắc đó cũng giúp phân biệt Khảm Ly như phân biệt linh chính.
Núi cao ở chỗ chính thần, nước thấp ở chỗ linh thần
Chí Y dẫn lời Ôn Minh Viễn:
Linh chính tức là âm dương; chính thần tức là vượng thần đương nguyên; linh thần tức là suy thần ra khỏi nguyên ấy.
Thượng nguyên vận 1 lấy Nhất làm chính thần, Cửu làm linh thần; hạ nguyên lấy Cửu làm chính thần, Nhất làm linh thần. Đó là âm dương đối đãi làm linh chính. Bố long ở sơn thì cần vượng tinh tới nơi núi cao đất thực, tức bày chính thần đúng vị; bố long ở hướng thì cần vượng tinh tới nơi nước bao bọc ở chỗ thấp trũng, tức khơi cho nước vào linh đường. Ai định chọn sơn đến thì phải biết rõ khí đường linh chính, sơn và thủy suy hay vượng, cao hay thấp mỗi bên khác nhau.
Ông cho một ví dụ cụ thể: vận 1, sơn Tý được Lục, thuộc Kiền, mang dương nên bố thuận: Thất tới Kiền, Bát tới Đoài, Cửu tới Cấn. Thất Bát Cửu là suy khí của thượng nguyên, vì vậy các phương này nên thấp, nên có nước, không nên là núi cao đất thực. Sơn Tý thì hướng là Ngọ, được Ngũ thuộc âm, bố nghịch tới hướng là Nhất; nếu ở đó có sông nước thì đó là "cát thủy". Dòng nước cũng cần uốn khúc, không nên chảy thẳng một mạch. Nước tới phía chính diện thì phải sâu xa, dài lâu thì mới thành long. Các phương còn lại được Nhị, Tam gọi là đồng nguyên nhất khí. Nếu ở hướng, vượng tinh Nhất Nhị Tam lại bố tới núi cao đất thực thì là long thần của nước bao bọc leo lên núi, điều đó không tốt.
Kết luận của ông: long ở sơn phải do vượng tinh của sơn bố tới bản nguyên mới là chính thần, và phương ấy cần núi cao đất thực. Long ở nước bao bọc phải do vượng tinh của hướng bố tới bản nguyên mới là linh thần, và phương ấy cần thấp trũng có nước. Có vậy linh chính mới không sai trái. Ai thấu được chỗ này là hiểu đạo lý Huyền Không.
Cố định và lưu chuyển nương tựa nhau
Tắc Tiên giải thích bằng hai ý. Thứ nhất, phương vị linh chính có địa bàn cố định để bố long và bố thủy; nhưng vận mỗi thời một khác nên phi tinh của sơn và hướng phải lưu chuyển theo vận, và vì hướng thay đổi nên biến hóa vô định. Thứ hai, hai điều ấy vốn không phải hai việc khác nhau, phải nương nhau mà dùng: lấy phi tinh vô định gia vào sự cố định của linh chính thì mới tương đắc và có lợi ích rõ ràng.
Vượng tinh của sơn thích gặp núi cao đất thực nên chính thần cần ở đúng vị trí của nó. Phương linh thần chỉ nên là nước thấp trũng; long của nước bao bọc cũng kỵ vượng tinh của hướng đánh tới núi cao đất thực, cho nên phải khơi cho nước vào linh đường. Nếu phi tinh tương đắc với linh chính thì sức của nó càng hùng hậu; ngược lại, nếu phi tinh trái với linh chính thì dù có vượng sơn vượng hướng, khí vận cuối cùng vẫn bị giảm đi một cách vô hình.
Hai ví dụ trên bàn Cửu tinh trạch mệnh
Linh thần và chính thần phải vận dụng linh hoạt thì mới bày được "Cửu tinh trạch mệnh bàn" đúng ý. Bạch Hạc Minh lấy ví dụ vận 1, sơn Tý hướng Ngọ: đồng nguyên nhất khí gặp nước thì luận là cát. Nhất và Nhị đều là khí của thượng nguyên. Nếu trái lại, phương vượng của nước lại là núi thì rơi vào cuộc "long thần thủy bao bọc thượng sơn", phải luận hung.
Ba phương Kiền, Đoài, Cấn là nơi bố Thất, Bát, Cửu, tức suy khí của thượng nguyên. Chỗ này nên thấy nước, không nên thấy núi cao đất thực; đó gọi là phép thu sơn xuất sát.
Sơn tinh đương vượng ở tọa là chính thần, hướng tinh đương vượng ở hướng là linh thần, đúng với lý luận linh chính. Phương của chính thần nên thấy núi cao đất thực; phương của linh thần nên gặp sông nước thấp trũng. Cho nên mới có câu:
Chính thần phải bày đúng vị, khơi thủy phải nhập linh đường.
Thêm một ví dụ nữa: vận 6, sơn Canh hướng Giáp. Sơn tinh đương vượng ở tọa làm chính thần, nên chỗ ấy gặp núi cao đất thực: gọi là chính thần ở đúng vị trí. Hướng tinh đương vượng ở hướng làm linh thần, nên chỗ ấy gặp sông nước ao hồ: gọi là khơi nước vào linh đường.
Hai mươi bốn long gánh ba quẻ: vận, sơn và hướng
Hai mươi bốn long cai quản ba quái.
Câu kinh nói rằng vận tinh là một quái, phi tinh của sơn và phi tinh của hướng là hai quái khác. Kinh còn viết: cai quản ba quái là phép tắc để bố các sao. Các vị tổ sư Huyền Không dựa theo nguyên lý âm dương mà nói mấy câu ấy, chỉ rõ phép bố chín sao.
Ví dụ vận 2, sơn Kiền hướng Tốn: Nhị Khôn vào giữa, Tam (Mão) tới Kiền, Nhất (Tý) tới Tốn. Mão và Tý đều âm nên đều bố nghịch. Bay vào giữa với sơn Kiền là Nhị, tức Nhị tới sơn; bay vào giữa với hướng Tốn là Nhị, tức Nhị tới hướng. Có câu chú của họ Tưởng rằng không tìm âm dương ở Kiền Tốn mà tìm ở Tý Mão; người đời nay không ai hiểu được.
Hai mươi bốn sơn chia theo ngũ hành đã được Kim Quỹ Hoa nghĩ rất sâu, và ông viết riêng một quyển "Thiên Tâm Chính Vận" bàn kỹ đề tài này, có bảng biểu liệt kê các cách: sinh nhập, khắc nhập, sinh xuất, khắc xuất, tỉ hòa. Ai đọc chú giải sơ sài của họ Chương mà chưa rõ thì có thể xem quyển ấy.
Có người thắc mắc vì sao Chương không dám tiết lộ hình đồ minh họa. Đáp rằng lời chú tuy không kèm hình nhưng giải khá rõ; vả lại chương "Tam Nhãn Chỉ Yếu" ở quyển hai có đăng năm hình đồ, đủ để truyền tâm sự biến dịch này. Các hình vẽ tinh bàn Ngũ vào giữa; tầng thứ hai là Ngũ bay vào Kiền bố thuận; tầng thứ ba là hai mươi bốn sơn; tầng thứ tư là Ngũ bay vào Tốn bố nghịch. Hình Nhất Cửu là bàn "Tý Ngọ, Ngọ Tý" của vận 5; Nhị Bát là bàn "Sửu Mùi, Mùi Sửu"; Tam Thất là bàn "Mão Dậu, Dậu Mão"; Tứ Lục là bàn "Tuất Thìn, Thìn Tuất". Trong bốn hình có một hình chỉ cách bố phi tinh trên bàn tay, lý lẽ rất rõ, đáng tiếc nhiều học giả chưa xem kỹ.
Giang đông, giang tây, nam bắc và chữ "bát thần"
Một học trò kể thầy mình lấy Nhất Tứ Thất làm quẻ giang đông, Tam Lục Cửu làm quẻ giang tây, Nhị Ngũ Bát làm quẻ nam bắc, theo một câu của Thiên Ngọc kinh, và hỏi liệu có cách nào khác kiểm chứng. Thẩm Trúc Nhưng đáp: đó là thuyết của Đặng Mộng Giác, người học chỉ cần nắm cái thần của nó chứ đừng câu chấp Nhất Tứ Thất. Quẻ giang đông thuộc dương đi thuận, từ Nhất tới Tứ rồi Thất vẫn bao quát Nhị Tam Ngũ Lục Bát Cửu. Quẻ giang tây thuộc âm đi nghịch, từ Tam tới Lục rồi Cửu vẫn bao quát Tứ Ngũ Thất Bát Nhất Nhị. Quẻ nam bắc thì Ngũ vào giữa, Cấn Khôn là cửa sinh tử, mà vẫn bao quát Kiền Tốn Khảm Ly Chấn Đoài.
Phải tách ba hạng ra để phân tích: khi nào dùng phi tinh giang đông giang tây, khi nào dùng phi tinh nam bắc. Phân biệt không rõ là do chưa nắm được lẽ huyền diệu. Họ Tưởng chú rằng ba quẻ đông, tây, nam bắc có quẻ chỉ dùng được một quẻ, có quẻ kiêm dùng được hai quẻ; nghiên cứu kỹ sẽ thấy hai quẻ đông tây là phi tinh, hai quẻ nam bắc là ai tinh, chỉ là ông chưa dám nói hết lời. Họ Chương chú về quẻ nam bắc: "bát thần" là Khảm, Khôn, Chấn, Tốn, Ly, Cấn, Đoài, Kiền, cộng thêm một quẻ vào, quẻ ấy là Cửu, và quẻ cộng thêm thực có quan hệ với thứ tự bày sao Mậu Kỷ ở trung cung.
Giải thích hai câu của Thiên Ngọc kinh, Thẩm công nói: quẻ giang đông là quẻ địa nguyên; ở cung Khảm là Nhâm, Nhâm thuộc dương đi thuận. Tám thần là Nhâm, Bính, Giáp, Canh, Sửu, Mùi, Thìn, Tuất; tám thần này bên trái không kiêm được nhân, bên phải không kiêm được thiên, chỉ dùng được một quẻ, nên mới nói "bốn cái một". Quẻ giang tây là hai quẻ thiên và nhân; ở cung Khảm là Tý Quý, âm đi nghịch. Tám thần là Tý Quý, Ngọ Đinh, Mão Ất, Dậu Tân, Cấn Dần, Khôn Thân, Tốn Tỵ, Kiền Hợi; tám thần này kiêm được cả hai bên vì cùng loại âm dương, một quẻ dùng được hai quẻ nên mới nói "hai". Thêm một chữ vào tám thần nam bắc là chỉ Ngũ vào trung cung; chữ "đầu mối" ấy ở giữa, rõ ràng nói Ngũ vào giữa.
Ông phê rằng chú giải của các nhà thường chỉ dính da mà mang xương tủy; muốn đối chiếu cho đúng với Địa Lý, học giả phải đào sâu. Ví như bài "Thanh Nang tự" mở đầu bằng câu "Dương công lấy dưỡng và lão để xem trống mái". Các nhà chú giải không hiểu hai chữ "dưỡng lão". Thật ra "dưỡng" là thịnh, là vượng, "lão" là suy, là yếu; "dưỡng lão" nói chuyện thịnh suy. Phải nghiền từng chữ cho tinh tế rồi mới đọc nổi sách này.
Chương "Khai Tông Minh Nghĩa" của Thiên Ngọc kinh giải thích cách ứng dụng bố phi tinh và thế quái (quẻ thay thế); những lời uyên áo ấy được Dương công chép vào "Thiên Bảo Chiếu kinh" truyền cho đệ tử, nhưng chỉ truyền tâm pháp.
Mậu dương đi thuận, Kỷ âm đi nghịch
Hỏi: Ngũ Hoàng của mỗi vận khi thì có Mậu dương bố thuận, khi thì có Kỷ âm bố nghịch, không giống các vận khác là sao? Đáp: đó là nói về sao nhập trung cung của vận. Ví dụ vận 1 thì Nhâm Tý Quý vào giữa; Nhâm là dương nên Ngũ là Mậu dương; Tý Quý là âm nên Ngũ là Kỷ âm. Vận 2 thì Mùi Khôn Thân vào giữa; Mùi là âm nên Ngũ là Kỷ âm; Khôn Thân là dương nên Ngũ là Mậu dương. Các vận khác cũng vậy: dương thì đi thuận, âm thì đi nghịch, biến hóa đều thế. Bọn Phạm Nghi Tân không hiểu lý này nên bảo lấy âm dương cách bốn vị, thật sai lầm.
Lại có người cảm thấy thuyết Cửu tinh vẫn còn chỗ mơ hồ. Đáp rằng Cửu tinh chia hai loại: một loại phối quẻ thì ai cũng biết, còn loại phối hai mươi bốn sơn thì như mất dấu. Người ta khó hiểu rằng phép bày sao là lấy Ngũ Hoàng vào giữa, đi thuận tới Kiền là Lục, tức sao Vũ Khúc, đi nghịch tới Tốn cũng là Lục, cũng sao Vũ Khúc. Đọc bảng hai mươi bốn sơn phối cửu tinh trong sách "Phong Thủy" của Âu Dương Thuần thì tự nhiên hiểu rõ; Âu Dương có thể xem là người duy nhất thành thạo chỗ này.
Một người khác hỏi: khi phân phương vị mộ tổ tiên có lấy hai sa Thanh Long Bạch Hổ làm chủ không? Câu đáp dứt khoát: mộ tổ tiên được che chở toàn dựa vào quái khí làm chuẩn, điều đó xác thực, không còn nghi ngờ. Thẩm Trúc Nhưng đã chú giải kỹ trong "Trạch Đoán" của Chương Trọng Sơn; lấy hai sa Thanh Long Bạch Hổ để vận dụng là sai.
Và khi hỏi về cách tránh nhầm lẫn khi bố phi tinh, ông nhắc lại: Cấn Khôn là cửa sinh tử. Ngũ vào giữa đi nghịch thì Cấn Khôn là Nhị Bát; Tứ vào giữa thì Cấn Khôn là Nhất Thất; Tam vào giữa thì Cấn Khôn là Cửu Lục; đi thuận thì ngược lại. Cách nói thông thường là Nhất Tứ Thất, Nhị Ngũ Bát, Tam Lục Cửu. Nhiều người không hiểu hình đồ Tử Bạch này vì ham đọc ngụy thư, không chịu truy nguồn ở Dịch học. Mấu chốt huyền diệu của vận Ngũ Hoàng ở Khôn Cấn, còn các vận khác ở trong Mậu Kỷ.
Thìn Tuất phân giới và cửa trời, cửa đất
Có người hỏi thuyết Thìn Tuất phân giới có đáng tin không. Đáp rằng Phạm Nghi Tân chia âm dương chính là chỗ sai: nếu thế, bàn nguyên đán Ngũ Hoàng vào trung cung bằng cách nào? Bay thuận thì Lục tới Kiền, quẻ Kiền có ba sơn Tuất Kiền Hợi, Tuất âm, Kiền Hợi dương. Bay nghịch thì Lục tới Tốn, quẻ Tốn có ba sơn Thìn Tốn Tỵ, Thìn âm, Tốn Tỵ dương. Kiền là cửa trời, Tốn là cửa đất; cách bố sao thuận hay nghịch khởi từ đó, và Thìn Tuất là khởi nguồn của khởi nguồn, nên mới gọi là Thìn Tuất phân giới.
Bạch Hạc Minh giải thích thêm: "hai mươi bốn long cai quản ba quái" là phi tinh của hai mươi bốn sơn gồm quẻ vận tinh, quẻ sơn tinh, quẻ hướng tinh, cộng thành ba quẻ. Nói Kiền là cửa trời, Tốn là cửa đất vì cung Kiền là chỗ mở đầu phi tinh, cung Tốn là chỗ kết thúc. Cấn Khôn là cửa sinh tử là theo phép Kỳ Môn: phương Kiền là "khai", Khảm là "hưu", Cấn là "sinh", Chấn là "thương", Tốn là "đỗ", Ly là "cảnh", Khôn là "tử", Đoài là "kinh". Cấn là cửa "sinh" và Khôn là cửa "tử" nên mới có thuyết Cấn Khôn là cửa sinh tử.
Với hai câu của Thiên Ngọc kinh, ông nói thêm: "giang đông nhất quái" là quẻ địa nguyên, "bát thần" là tám sơn địa nguyên Giáp, Canh, Bính, Nhâm và Thìn, Tuất, Sửu, Mùi; "bốn cái một" là bốn sơn thành một tổ, Giáp Canh Bính Nhâm dương, Thìn Tuất Sửu Mùi âm. "Giang tây nhất quái" chỉ hai quẻ thiên và nhân, "bát thần" gồm nhân nguyên Dần Thân Tỵ Hợi, Ất Tân Đinh Quý và thiên nguyên Tý Ngọ Mão Dậu cùng Kiền Khôn Cấn Tốn; "bốn cái hai" là hai tổ dương (Kiền Khôn Cấn Tốn và Dần Thân Tỵ Hợi) và hai tổ âm (Tý Ngọ Mão Dậu và Ất Tân Đinh Quý). Cách dùng chủ yếu của quẻ giang đông và giang tây là phân âm dương; quẻ tam nguyên thiên địa nhân là tuyến vị kiêm được hay không kiêm được. Câu "hai quẻ đông tây tức là phi tinh" chỉ bàn hạ quái; câu "hai quẻ nam bắc tức là ai tinh" chỉ bàn thế quái, thường gọi là khởi tinh bàn.
Nguồn: Nguyễn Vũ Anh, Thẩm Thị Huyền Không Học – Phong Thủy Trong Bối Cảnh Kiến Trúc Hiện Đại.
