Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Đạo Gia

Bài tổng quan

Hóa khí âm dương, chín sao và thế sống chết của rồng

Đạo Học - Đạo Gia06/10/202613 phút đọc2 lượt đọc
Hóa khí âm dương, chín sao và thế sống chết của rồng

Một ngọn núi thuần dương hay thuần âm nhất định là núi chết, vì không có biến hóa thì không có kết tụ. Hỏa sinh Mộc mà chẳng phải hóa khí, còn Thủy đứng một mình lại sinh ra cả một vùng tiến sĩ. Làm sao đọc được những chuyển hóa ấy trên dáng núi?


Xem rồng trước hết xem tổ sơn và tông sơn

Khi xem rồng, trước tiên phải xem tổ sơn và tông sơn, rồi mới xem lầu rồng, bảo điện, góc cung có tương đồng với nhau hay không. Nếu chỗ tụ hội của tinh tú hợp với lý số của ngũ hành cửu tinh thì nơi long mạch từ lầu xuống điện sẽ có rất nhiều đỉnh núi nguy nga. Mộc, Hỏa, Kim tinh là sự nhấp nhô của long mạch: chỗ uốn lượn hạ xuống tựa rắn bò, chỗ cao vút lên tựa rồng giữa không trung.

Nếu Mộc, Kim, Thủy, Thổ đồng cách với nhau, phối hợp hài hòa thì rồng ấy là thượng đẳng. Rồng thiếu nước thì không sống nổi, thiếu đất thì gốc rễ lạnh lẽo. Khi các sao phía trên tương hợp với nhau thì mới thành đại hội cục, vận đại quý của vương hầu khanh tướng phát ra từ đó.

Quý long ở giữa mà có trướng rủ trùng trùng là dấu tích tốt đẹp. Có lúc rồng như chim bay phụng múa, nếu lại có Thủy tinh, Kim tinh tương hợp thì đó là chân long. Trên long mạch thấy sư tử và voi đứng hộ vệ trước cửa, rùa đen và rắn xuất hiện nơi cửa động, đầm nước, thì rồng thuộc cách trung hội cục. Trung hội cục phát về quý cách, chức vị lên tới cửu khanh. Nhân tài của châu, huyện sẽ phát ở những đất quý nhỏ hơn, nếu cửa nước xen kẽ với răng chó thì đó là đất sinh.

Xuyên, lạc, chuyển, biến: bốn dáng của thân rồng

Lại xem dáng thân rồng, chủ yếu phải lưu tâm đến xuyên, lạc, chuyển, biến. Xuyên là thân rồng ngay ngắn bằng phẳng đi qua màn trướng trùng trùng. Lạc là thân rồng từ trên cao hạ xuống. Chuyển nghĩa là không đứt đoạn, chính phụ uyển chuyển nối liền. Biến là thay đổi biến hóa, núi lớn biến thành núi nhỏ, thô xấu biến thành nhỏ đẹp.

Muốn biết trên chi long đâu là huyệt hư, đâu là huyệt thực, chỉ cần tìm trong âm dương hóa khí. Nếu dương mạch xuất hiện từ tâm, từ eo, tiến lên phía trước thì ắt kết thành kỳ huyệt. Nếu âm phủ khắp đỉnh và mặt thì đó là mạch chết, cần dựa vào la bàn mà cân nhắc quyết định.

Hóa khí âm dương trong năm sao

Trước tiên phải biết sự khéo léo của hành độ ngũ tinh, sau đó xét khí hóa sinh của âm dương trong ngũ tinh. Trong hành độ của dương long, dương có thể hóa làm âm, âm lại hóa thành dương. Sự biến hóa này là dấu hiệu báo trước chân long xuất hiện. Nếu âm dương không biến hóa thì không thể kết tụ. Long mạch thuần dương hay thuần âm nhất định sẽ chết.

Nếu nói long mạch kết thúc gần nước của sông, hồ, biển thì hành độ của rồng phần nhiều có dáng Thủy tinh. Bên trong có thể có Kim, Mộc, Hỏa tinh giống nhau. Nơi long mạch lạc xuống kết huyệt phần lớn ở dưới thấp. Nếu không có hóa thì nhất định không thể kết huyệt, cũng như không thể tìm kinh mạch khi thân rồng lẫn lộn tạp loạn.

Ngoài ra còn có bài quyết Bình Cương, phép âm dương trong đó khá chính xác. Nếu long mạch có dáng như tay ôm, như sống kiếm thì thành âm tính. Nếu mạch bên phải có hình bàn tay ngửa thì long mạch thành dương tính. Long mạch sinh ra đầy đặn là dương tính. Cần nắm rõ đạo lý âm dương này. Nếu Hỏa tinh làm gốc thì long mạch vận hành nhấp nhô dựng đứng. Nếu là cô âm mà không có Thủy, Thổ thì không kết thành huyệt. Cũng có Kim tinh hiên ngang bước tới, nhưng nơi không có nước thì không xuất hiện dương khí.

Trong Tham Lang có Liêm Trinh, trong Văn Khúc có Hữu Bật, trong Vũ Khúc có Phá Quân, trong Lộc Tồn có Cự Môn. Những điều này đều có thể đoán sống chết, được gọi là cách long vận hành giữa các sao, có thể tìm thấy ở bất kỳ một làng quê nào. Sự dịch chuyển, đổi thay của các sao có thể thấy ở nơi đứt đoạn nhiều.

Nếu Tham Lang không đổi thì sinh thổ đột. Nếu Cự Môn không đổi thì có ổ trong ấy. Nếu Vũ Khúc không đổi thì tìm thấy ở chỗ kiềm. Nếu Văn Khúc không đổi thì giáng xuống đất bằng. Nếu Phá Quân không đổi thì có nạn can qua. Tả Phù, Hữu Bật thì có ổ én hướng lên. Nếu Mộc, Hỏa nhiều thì huyệt phải xuất hiện ở khá xa, có thể kết thành ổ mà thành huyệt hồi long. Nếu Thủy nhiều thì huyệt kết trên đất bằng. Kết huyệt ở tâm sóng thì có thể đổi thành dương cục. Huyệt của Kim, Thổ phần nhiều kết theo chiều ngang.

Hóa khí quyết định phúc họa của một dòng họ

Trong phong thủy địa lý, hóa khí là điều quan trọng nhất. Hỏa tinh tuy sinh Mộc nhưng hoàn toàn chẳng phải hóa khí: chẳng những không có quan lộc mà người trong nhà cũng ít. Mộc tinh tuy khác Thổ, nhưng chỉ cần phối hợp với khí âm dương thì có thể tạo thành huyệt đại phú quý, nhân tài thịnh vượng.

Nếu thấy Kim, Mộc cùng đổi thì hoàn toàn đoạn tuyệt dòng họ. Mộc, Hỏa cùng đổi thì chỉ có hư danh dù đạt ngôi tể tướng. Thủy, Kim cùng đổi thì người phải đi xa kiếm sống. Nếu Thổ, Kim cùng đổi thì sinh người hiền và giàu. Nếu chỉ có Thủy tinh thì sẽ có rất nhiều người đỗ tiến sĩ, vang danh văn đàn. Hỏa, Kim cùng đổi khiến người cô đơn, tật bệnh. Hỏa và Thổ cùng biến thì sinh tướng giỏi trấn giữ bờ cõi. Những điều này dù tương sinh hay tương khắc, chỉ cần quan sát hóa khí là biết rõ cơ trời. Trong ngũ tinh thì đẹp nhất là Thủy tinh, nó hợp với Mộc, Kim, Hỏa. Thổ tinh hợp với Kim, Hỏa, Mộc.

Đã nói long mạch có hóa khí thì quyết định huyệt cũng phải phân âm dương. Hành độ của âm long do dương long đến kết huyệt, và ngược lại, hành độ của dương long do âm long đến thu giữ. Người xưa gọi núi là rồng là có ý gì? Vì sự biến hóa của rồng cũng giống sự biến hóa của núi. Cá hóa rồng phải được nước mới hóa được, tạo hóa cũng nằm trong sự biến đổi của âm dương.

Xem hình thế núi thái, núi thiếu rời mạch thì chỉ hợp với dương khí mà không hợp với âm khí. Nếu long âm mạch đến kết huyệt thì con cháu cô khổ, lênh đênh. Lại xem thai tức, nó tựa tinh huyết của cha mẹ. Trời một sinh Thủy mà đất sáu thành, tinh hoa của hai và năm cũng lần lượt bổ sung. Nơi rộng rãi sẽ hình thành địa hình như thuyền nước, xương hạc, eo ong. Những hình chữ Chí, chữ Huyền, chữ Nhân cùng thuyền xuyên, ngựa chạy đều sinh ra từ đó. Giữa hai đốt sống lưng có một chút nước, đó là điềm báo chân long thành thai. Sau khi thành thai và kết huyệt, mọi thứ tự nhiên rõ ràng. Sao của huyệt phải tìm trên long mạch.

Quyết sống chết: đọc dáng núi mà biết rồng

Quyết sống chết là điều khó nhất khi tìm long mạch nhưng không thể thiếu. Dáng núi uốn lượn sống động là long sinh. Dáng núi thô thiển cứng nhắc là long tử. Dáng núi phân nhánh cắt mạch là long quỷ kiếp. Dáng núi nhọn, vỡ vụn là long đới sát. Dáng núi nghiêng ngả, nhọn lõm là long xú quật. Dáng núi cô độc là long cô đơn. Dáng núi rộng rãi bằng phẳng là long tán mạch.

Dáng núi phân nha, lộ vuốt là rồng còn đang đi tới. Dáng núi giấu nha, ẩn vuốt là rồng dừng bước. Dáng núi có thiên hồ, thiên giác là rồng sắp qua. Dáng núi hộ lạc, xương hạc, eo ong là rồng đã thành hình. Nếu hiệp mạch co rút là rồng đang giữ khí. Nếu âm dương phân nhận là rồng đang kết đất thành huyệt. Dáng núi tựa đứt mà chẳng đứt là long thoát sát. Dáng núi trườn tới xuyên qua đất bằng, vượt sông ngòi là long quá hiệp. Dáng núi rời mạch từ trung tâm là long xuyên trướng. Dáng núi tròn trịa ngay thẳng là long nhập trướng.

Dáng núi đến và đi cứng nhắc, không uốn lượn sống động thì không thể kết thành huyệt. Nếu nhô lên mà không hạ xuống được, hạ xuống rồi lại không nhô lên được thì long mạch này không có khí lực. Dáng núi vừa nhô lên đã hạ xuống, và ngược lại, thì long mạch này khí vượng, lực lớn. Rồng cao quý thường trùng trùng vượt trướng mà ra, rời mạch từ trung tâm. Rồng phú túc chỉ sinh ra trên chi bằng. Trướng càng nhiều thì vận khí cao quý càng lớn.

Rồng phân thư hùng thì gọi là thành long, lớn nhỏ, thô thanh của chúng tự có chỗ khác nhau. Nước phân thư hùng thì gọi là thành huyệt, trái phải giao giới có hợp có phân. Vạn vật đều có thư có hùng, nghĩa là có trống có mái, chỉ một thư hay một hùng thì không thể phối hợp. Thông thường cao lớn gọi là hùng, thấp nhỏ gọi là thư, thư hùng phối hợp thì kết thành huyệt.

Núi lớn đột nhiên biến thành núi nhỏ là trong thô có thanh, hình dáng trước hùng sau thư cần phân minh. Núi nhỏ thoắt biến thành lớn là trong thanh có thô, hình dáng trước thư sau hùng ắt sẽ kết đất thành huyệt. Rồng muốn kết đất sẽ nổi sinh thần, nhọn, tròn, vuông tự rõ ràng. Nhắc đến tam cát là nói đến nhọn, tròn, vuông. Đất kết phải phân âm dương, nếu không phân âm dương thì không kết đất thành huyệt được.

Rồng vui, rồng giận và huyệt giả

Thế của long mạch khi ẩn khi hiện, lúc vui lúc giận, biến hóa đa đoan. Thế long mạch dựng đứng gấp khúc là rồng đang giận dữ, nhấp nhô uốn lượn là rồng đang vui. Khi rồng giận dữ mà kết huyệt thì đó là huyệt giả. Huyệt giả này cũng có núi Long, Hổ bao bọc, khách trước chủ sau tương ứng, quang cảnh trong huyệt đẹp không tả xiết. Nhưng núi nước trong ngoài vô tình, hơn nữa núi quan, núi quỷ đều giả. Núi giáp, núi tòng không tương ứng, hai bên trái phải hoặc cao hoặc thấp, lưng trong lưng ngoài đối nghịch. Nếu mai táng ở huyệt giả này thì tiền của hao tán, bệnh tật không dứt.

Có long mạch chuyên kết quái huyệt. Người ta thấy quái huyệt đều cho là huyệt xấu mà bỏ đi. Tuy là huyệt xấu, nhưng chỉ cần giao giới, phân hợp rõ ràng thì ắt có âm dương phân thành lõm và lồi, dù có Long, Hổ không đầy đủ trong huyệt. Long mạch chân thực mà huyệt xấu quái không phải ai cũng biết. Sau khi mai táng ở đây, con cháu đời đời hưởng phú quý. Đáng tiếc người ta không biết rằng thân rồng đều mang theo phú quý, trong huyệt có chỗ xấu, quái lạ thì có gì đáng ngại?

Chân long đủ đội ngũ tống, giáp, tòng, hộ, triều

Chân long đến từ chính diện, thân mình tuy uốn lượn nhưng đầu không nghiêng lệch. Nếu là chân long thì ắt đủ núi tống, giáp, tòng, hộ, triều. Nếu rồng không có triều cũng không có tống thì dù là chân long cũng vô dụng. Núi triều, núi hộ càng nhiều thì càng có lực, nhiều núi nhiều nước đến hội tụ giống như vị đại tướng ngồi trong trướng, đội ngũ chỉnh tề xếp hàng la liệt.

Nếu chân long nghiêng mặt đi tới thì một bên có núi nâng, một bên không. Nếu một bên có một bên không thì chính là hộ triền. Một bên thuận một bên nghịch thì phòng phận có phần lệch. Mang theo kho lương là phú long, mang theo cờ trống là quý long, mang theo cả kho lương lẫn cờ trống thì phú quý song toàn.

Xem rồng cũng phải giỏi xem rồng quá hiệp. Ý nghĩa của hiệp tinh và huyệt tinh giống nhau. Khi rồng quá hiệp cũng có núi chắn, núi hộ, tránh cho rồng bị gió thổi làm lộ mạch sống. Khi rồng quá hiệp mà không có núi chắn, núi hộ thì gió sẽ thổi khí tán thoát hết. Khoảng cách quá hiệp chỉ hợp ngắn mà không hợp dài, vì khoảng cách xa dài sẽ khiến khí lực suy yếu. Long mạch quá hiệp chỉ hợp với thanh mà không hợp quá thô, vì quá thô thì chân khí đục mà không thành huyệt. Quá hiệp chỉ hợp với hẹp mà không hợp quá rộng, vì quá rộng sẽ khiến khí lực tản mát.

Quá hiệp lại chia thành quá hiệp eo cứng và quá hiệp eo mềm. Nếu là eo mềm thì không thể gấp khúc, đứt đoạn, khí lực khó giữ được. Đường nối khi quá hiệp thường vừa nhỏ vừa thanh. Eo ong gối hạc là rồng đang giữ khí. Nếu giữ được chân khí tụ hội, huyệt hình thành mới là huyệt chân chính. Sự giữ khí cũng giống như người thổi sáo: khí vào từ lỗ nhỏ sẽ dễ tụ hợp nên dễ phát ra âm thanh. Từ đây cũng có thể biết sự khác nhau giữa đất kết và đất không kết.

Khi quá hiệp, nếu hai bên trái phải có núi chắn, Long sơn, Hổ sơn đầy đủ thì hoàn bị, nếu không thì thiếu hụt. Nếu có kho lương vây quanh hiệp thì chủ phú túc, có cờ trống vây quanh hiệp thì chủ quý, có cả kho lương lẫn cờ trống thì phú quý song toàn. Nếu dáng núi như đội kim quan, khăn quàng thì chủ vận quý cho nữ nhân. Nếu dáng núi như não bạt, trống, địch thì chủ vận quý cho tăng, đạo nhân.

Nếu có núi quay đầu về, từ bốn mặt xếp thành hai hàng, lại có núi chầu ở trước mặt như đang chầu bái, thiên tâm thập đạo ở chính giữa không nghiêng lệch, ở giữa đối diện với triều đường, nước uốn lượn ôm lấy nơi nhọn tròn, thì thế ứng, thế lạc, trầm, đôi do tự nhiên mà có. Núi triền, núi hộ, núi tòng, núi đỡ giúp biết thật giả. Tham Lang, Cự Môn, Vũ Khúc cùng hợp là cục phú quý. Nếu kho lương, cờ trống cùng theo mà kim sương, ngọc ấn bày trước mặt thì nhất định xuất hiện vương hầu. Tứ thần, bát tướng đều quy tụ trước rồng, nhị thập bát tú cũng tề tựu, trăm ngàn ngọn núi đều bao bọc nơi đây.

Nguồn: Lưu Bá Ôn, Địa Lý Toàn Thư, tập 2.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Đạo Gia