Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Chuyên đề

Bài tổng quan

Phi Việt Hỏa Linh Hình, tai họa từ trên trời và năm màu trên lá số

Tử Vi Nam Phái - Chuyên đề01/10/202610 phút đọc3 lượt đọc
Phi Việt Hỏa Linh Hình, tai họa từ trên trời và năm màu trên lá số

Một tiếng nổ, một viên đạn lạc, một tia sét: tai họa không báo trước mà đến từ trên cao. Còn năm màu đen, đỏ, xanh, trắng, vàng thì lặng lẽ nằm sẵn trong lá số, chỉ chờ một ngôi sao gọi tên…


Tên bay đạn lạc: bộ năm sao Phi Việt Hỏa Linh Hình

Mỗi khi chiến sự bùng lên ở đâu đó, người học Tử Vi lại tự hỏi những người bị thương vong ấy rơi vào cách gì. Có nhiều cách lắm: cách tai họa không ngờ, không chống cự nổi; chết vì hỏa khí, vì súng đạn đa phần đều có lửa; chết vì xung đột ẩu đả, vì chiến binh thì phải đánh nhau, giống đánh lộn nhưng được quyền đánh lộn và được quyền giết người, còn được khen ngợi. Trong số đó có một cách được mô tả rất nổi tiếng, sách Tử Vi nào cũng nhắc, là Phi Việt Hỏa Linh Hình.

Đó là một bộ năm sao. Nhưng nếu hiểu máy móc như công thức toán học, cứ đếm sao mà đoán, thì chẳng bao giờ tiến bộ. Nên tìm ý nghĩa ẩn bên trong câu phú để vận dụng cho những tình huống khác. Vậy thì:

Phi Liêm: cái gì đó bay đến bất ngờ

Phi Liêm chủ hỏa khí bất ngờ bay đến; trong bộ này có Hỏa Linh thì thấy rõ, nhưng nếu không có Hỏa Linh thì cũng vẫn có sự bất ngờ bay đến. Đi với cát tinh, hỉ tinh thì là niềm vui bay đến, ví dụ bỗng nhiên ai đó cho ta một số tiền. Đi với thị phi tinh, mà bản thân Phi Liêm cũng là một thị phi tinh, thì ta gặp chuyện thị phi chẳng ngờ, không lường trước. Giải đoán như vậy mới là khoa học: cái gì bay đến thì phải suy nghĩ rồi quyết đoán.

Thiên Việt: giáng xuống từ trên cao

Việt là Thiên Việt, nghĩa là giáng xuống, vì ở đây có Thiên Hình và Linh Tinh. Có Việt Hình thì không cần Linh cũng đủ mang họa, trong đó có cả việc bị giáng chức; chớ nghĩ đến chữ giáng sinh, đản sinh. Hình thành bộ ba Việt Linh Hình, không cần Phi Liêm nữa cũng là tai họa từ trên cao giáng xuống, thậm chí Linh Việt thôi cũng đủ có câu phú:

Linh Tinh Thiên Việt ở gần, gió mưa sấm sét phải cần tránh xa, kẻo mà sét đánh oan gia.

Việt Linh Hình ngộ Cơ Lương, hoặc là Nhật Nguyệt, ắt chờ lôi kinh.

Cứ ngỡ sét đánh khó gặp, nhưng một tài liệu khoa học thống kê cho thấy mỗi ngày trên thế giới có chừng một trăm người chết vì sét. Một trăm trên sáu tỷ người thì tỷ lệ còn bé bỏng, song tác giả từng bị hai lằn sét đánh gần chỉ cách ba chục mét, đến nỗi áo quần dạt ra. Ông kể rằng với cách Phi Việt Hỏa thì không cần Linh, vì Hỏa đã đại diện cho cả hai sao cùng phe; chỉ thiếu Thiên Hình, mà nếu có đủ Hình thì lên thiên đàng, và cơ hội ấy bỏ qua để kiểm tra có thế giới vô hình quanh ta hay không.

Thiên Hình và Hỏa Linh

Thiên Hình có nhiều mặt, ở đây chỉ xét một mặt: ngôi sao trời hành, trời đánh. Thiên là trời, Hình là hình phạt. Thiên Hình có giá trị như chữ “tai” trong tai trời, thiên tai, tai ách. Còn Hỏa Linh cũng nhiều mặt, như tấm huy chương có hai mặt, bao thuốc lá có sáu mặt. Một mặt huy chương là công lao đáng khen thưởng; mặt kia đôi khi chạy chọt cũng có huy chương, gắn nhầm huy chương. Trở lại Hỏa Linh, mặt của nó trong tình huống này là sét, lửa, hỏa khí. Điều đáng gạch dưới là chỗ ấy chứ không phải sét, lửa, hỏa khí.

Gộp cả bộ, Phi Việt Hỏa Linh Hình là tai họa bất ngờ trên cao giáng xuống, từ tên bay đạn lạc, từ hòn đạn nhỏ như đạn bảy ly sáu đến hỏa tiễn tầm xa, đến cả chiếc máy bay to đùng biến thành bom đạn.

Hỏi và đáp để hiểu thêm

Quả mìn có phải cách này không? Không, vì mìn mọc dưới đất lên, lựu đạn đem gài cũng không. Lựu đạn đem ra ném thì có, vì nó bay tới. Ở môi trường hòa bình có chết vì bộ sao này không? Có: một là sợ khi sấm sét, hai là khi người ta bắn nhầm, nhầm qua mình một phát, ba là khi đi lại gần giàn giáo công trình. Sập nhà, sập cầu có phải hỏa khí không? Sập có sao chủ sập, đổ có sao chủ đổ, ở đây chưa cần, vì mới nhìn thấy một mặt của Hỏa Linh. Hỏa Linh còn chủ nhanh mau, nên Phi Việt Hỏa Linh Hình cũng có nghĩa là tai họa đến nhanh đến nỗi chạy không kịp. Bị ném hòn đá cũng là cách trên: hình ảnh biểu tình cho thấy cái gì ném được là ném, không cánh cũng bay, đó đều là “vật lạ” của Phi Việt Hỏa Linh Hình.

Tác giả có kèm hai lá số mẫu để người học đối chiếu. Lá số đầu thuộc một người chết vì tên bay đạn lạc, trong lúc người ta nghi vấn là do chồng giết; lá số sau cũng đi cùng chủ đề ấy. Điều đáng tiếc là cả hai lá số đều có Thiên Lương mà người đọc lúc đó còn chưa biết Thiên Lương là gì, nên chưa thể luận hết ý nghĩa của sao này trên những lá số ấy; vì vậy tác giả chỉ dừng ở việc chỉ ra bộ năm sao.

Bộ năm sao ấy mang một màu rất rõ: đỏ của lửa, xanh của rồng, vàng của dòng sông. Thử nhìn lá số bằng màu sắc thì thấy nhiều điều lạ.

Nhóm sao màu sắc: năm màu và Đào Hoa

Tử Vi được xây dựng trên quy luật âm dương và ngũ hành nên có đủ năm màu cơ bản:

  • Đại Hao: màu đen, hành thủy.
  • Hồng Loan: màu đỏ, hành hỏa.
  • Thanh Long: màu xanh, hành mộc.
  • Bạch Hổ: màu trắng, hành kim.
  • Lưu Hà: màu vàng, hành thổ.

Đào Hoa thì chủ sắc, mà cần phân biệt màu với sắc. Trong màu đen còn có sắc đỏ, sắc xanh, sắc tím; màu vàng có sắc đỏ, sắc xanh, nên ta có vàng cam, vàng tươi, vàng rộm. Khi thương ta gọi vàng tươi, khi ghét ta gọi vàng khè; vui thì gọi đỏ thắm, buồn thì gọi đỏ lòm. Đào Hoa chủ sắc độ, tức độ sâu màu như trong vi tính.

Ý nghĩa từng màu

Màu đen chủ sự to lớn, tính kính trọng. Tốt là đại sư, đại quan, đại học; xấu là xui xẻo, đại nạn, đại hình, đại vô phúc. Trong cơ thể là tóc. Bao Công mặc áo đen, tức quan lớn.

Màu đỏ cũng chủ to lớn nhưng thiên về vui mừng, may mắn: niềm vui lớn, ăn to nói lớn, nhà cao cửa rộng. Xấu là nạn lớn, tội lớn. Trong cơ thể là máu. Người phương Tây coi màu đỏ là màu nguy hiểm, quan trọng, như xe chữa cháy, đèn đỏ ở ngã tư. Trong hội họa nó thuộc gam màu nóng.

Màu xanh chủ thanh danh, tiếng tăm, tiếng nói, sự thịnh vượng, sự thanh bình. Xấu là bị thanh toán, thanh trừng, bị giết, cuộc sống không bình yên. Trong cơ thể liên quan bộ phận phát âm.

Màu trắng chủ sự rõ ràng, minh bạch, bày tỏ, trong sạch. Xấu là tai họa phải tỏ bày. Trong cơ thể là xương cốt.

Màu vàng chủ sự quý phái, lưu truyền, lưu lại cho đời sau; còn chủ sự bất ngờ. Xấu là truyền lại tai họa cho người sau, chuyện bất ngờ ngoài ý muốn, hoặc lưu đày, lưu lạc.

Màu nào hợp với ta?

Nếu ta không hợp màu nào đó thì nên kỵ màu ấy; có cơ hội lựa chọn thì đừng chọn màu ấy. Làm sao biết? Đơn giản: màu sắc ấy gặp Không Kiếp Kỵ Hình, thậm chí mang họa vì chính màu ấy, chẳng hạn vì mặc áo màu đó mà bị người ta ghét. Mỗi cá nhân hợp một sắc màu riêng, điều ấy tìm thấy trên lá số của người đó. Khó tin được rằng mọi người mạng Kim đều hợp màu trắng, mạng Thủy hợp màu đen. Lý luận như vậy chỉ dùng tạm khi phân vân giữa các màu, và chẳng thể bảo mọi người cùng tuổi cùng chung quan điểm khi đánh giá một màu.

Theo kinh nghiệm của tác giả, người Mệnh có Bạch Hổ rất kỵ hạn Hồng Loan, ngược lại người có Hồng Loan rất kỵ hạn Bạch Hổ; thậm chí Mệnh có Bạch Hổ cũng kỵ lưu Hồng Loan vào Mệnh và ngược lại. Giải thích thì rất thú vị, vì Hồng Loan đâu chỉ là màu đỏ mà còn mang nhiều tính chất khác; còn ở đây chỉ cần biết năm màu và những màu ấy có hợp với ta không.

Có bao giờ bạn gặp mâu thuẫn, rắc rối vì màu sắc chưa? Nếu có, tức là ngôi sao ấy đứng chung với nhóm thị phi tinh, vì bản chất nhóm màu sắc cũng thuộc nhóm thị phi tinh. Nhưng chưa đáng sợ bằng khi nó đi cùng Thiên Hình và Kỵ Không Kiếp.

Pha màu trên lá số

Các màu thường pha trộn trên lá số là: đen với trắng, đen với đỏ, đen với vàng, đỏ với vàng, đỏ với xanh, vàng với xanh, xanh với trắng; riêng ba màu đen, đỏ, vàng thì cá biệt. Tác giả thích nhất bộ Lưu Thanh vàng xanh, như màu áo đội tuyển Brazil, rồi đến bộ Thanh Bạch xanh trắng, màu cờ Liên Hiệp Quốc. Ví dụ lá số có Hồng Loan Đại Hao, tức hai màu đen đỏ, nếu lại có Tham Sát hội họp thì đoán mò là người ưa cờ bạc.

Ứng dụng trên ba lá số mẫu

Lá số mẫu của một chính khách Đông Á thế kỷ hai mươi: Mệnh chỉ thấy xanh, đỏ, vàng, trong khi lá cờ ông phục vụ lại có màu xanh, đỏ, trắng. Câu khẩu hiệu quen thuộc gắn với lá cờ ấy nói về trời xanh, ngày trắng, đất đỏ, còn trên Mệnh lại chỉ thấy xanh, đỏ, vàng: một người mang màu xanh đỏ vàng mà phục vụ dưới lá cờ xanh đỏ trắng. Người viết đùa rằng đổi “ngày trắng” thành “ngày vàng” thì mới hợp cách. Ông cũng nhắc rằng lá số này từng được bàn ở bài về mặt trời, mặt trăng, nay lấy ra xét lại theo một góc nhìn khác: không còn là sao nào sáng hay tối, mà là sao nào mang màu gì.

Lá số mẫu của một nhà độc tài châu Âu: nhìn trên lá số chỉ thấy màu xanh của Thanh Long, như con rồng xanh ẩn trong làn mây Hóa Kỵ.

Lá số mẫu của một lãnh tụ khởi nghĩa chống thực dân, chết trẻ: Mệnh có Hồng Loan trong bộ Hồng Không Kiếp, tức hồng nạn, nạn lớn. Từ đại hạn hai mươi ba tuổi tại cung Thê, hạn khởi nghĩa lại có thêm màu xanh của Thanh Long đi với nhóm sao đáng sợ Kỵ Hình Kiếp, cùng cách Thiên Việt kết với Hỏa Hình trong bộ Phi Việt Hỏa Hình đã nói ở đầu. Dân ta thời ấy hay gọi lá cờ của chính quyền thực dân là cờ tam tài, ý nịnh là Thiên, Địa, Nhân. Nhưng với vị lãnh tụ này, tác giả tin rằng đó là “tam tai” đúng nghĩa: trời không dung người Pháp, đất không chứa người Pháp, người không nói tiếng Pháp.

Tất cả những điều này chỉ để vui học: biết năm màu, biết những màu ấy có hợp với ta không, đối chiếu bộ Hỏa Linh đi cùng, và nhớ rằng yêu cầu chỉ có vậy.

Nguồn: Tử Vi Bửu Đỉnh – Chính Tinh.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Chuyên đề