Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Bát Tự Hà Lạc

Bài tổng quan

Bệnh tật trong Tứ trụ: ngũ hành tổn thương tạng nào, chín lá số

Bói Dịch - Bát Tự Hà Lạc02/10/202612 phút đọc2 lượt đọc
Bệnh tật trong Tứ trụ: ngũ hành tổn thương tạng nào, chín lá số

Ông Vương bị cao huyết áp lâu ngày không đi làm được. Ở nhà, huyết áp bình thường; hễ bước vào nhà máy là vọt quá hai trăm, đến nỗi nhà máy phải cử người đưa ông về. Vợ ngờ ông giả ốm, ông thì tin có ma tà bám theo. Mọi chuyện chỉ sáng ra khi ngày sinh tháng đẻ của ông được bày ra trên giấy...


Ông Vương bị cao huyết áp lâu ngày không đi làm được. Ở nhà, huyết áp bình thường; hễ bước vào nhà máy là vọt quá hai trăm, đến nỗi nhà máy phải cử người đưa ông về. Vợ ngờ ông giả ốm, ông thì tin có ma tà bám theo. Mọi chuyện chỉ sáng ra khi ngày sinh tháng đẻ của ông được bày ra trên giấy...

Bệnh tật và tai họa cũng nằm trong khí âm dương ngũ hành

Hoàng Đế Nội Kinh nói rằng âm dương là đạo của trời đất, là kỷ cương của vạn vật, là cha mẹ của biến hóa, là gốc của sinh sát; sự hợp của trời đất gắn chặt với ngũ hành. Mọi vật trên đời sinh rồi diệt, diệt rồi sinh, luân hồi theo quy luật sinh khắc của âm dương ngũ hành. Người mắc bệnh, người gặp đau khổ hay tai họa bất ngờ cũng đều do âm dương ngũ hành mà ra, điều mà y học hiện đại đã chứng minh phần nào.

Âm dương ngũ hành thường bị coi là khái niệm trừu tượng, nhưng thực ra nó là một loại vật chất có lượng, có chất, chính là khí, nguồn gốc của vạn vật: khí tụ lại thành vật, vật hóa lại thành khí. Trong cơ thể người, âm dương ngũ hành là thứ vật chất rất tinh vi, đến máy móc hiện đại cũng chưa đo được. Bởi vậy người xưa đặt ra mười thiên can và mười hai địa chi để chỉ bốn phương tám hướng, định hướng; đặt tiết lệnh để chỉ bốn mùa xuân hạ thu đông; và dùng chúng để chỉ lục phủ ngũ tạng trong cơ thể, nhờ đó biết thịnh suy.

Thiên can, địa chi chia ra âm dương ngũ hành, không chỉ có khí mà còn có sắc, có ánh sáng, có điện. Khí mộc màu xanh, sinh gió; khí hỏa màu đỏ, sinh nhiệt; khí thổ màu vàng, sinh táo; khí kim màu trắng, sinh hàn; khí thủy màu đen, sinh thấp. Vì thế con người có những đổi thay về phong, nhiệt, táo, hàn, thấp. Khi âm dương ngũ hành trong cơ thể không điều hòa thì lục phủ ngũ tạng mất sự thống nhất. Ngũ hành thông với năm tạng, lục phủ thông với chín khiếu; mười can bị khắc thuộc lục phủ, mười hai chi bị khắc thuộc ngũ tạng. Cho nên căn cứ vào sự thịnh suy biến hóa của mười can, mười hai chi mà biết được sự thịnh suy của tạng phủ, từ đó đạt mục đích phòng bệnh, trị bệnh.

Dấu hiệu người ít bệnh, người nhiều bệnh

Ngang vai trong Tứ trụ nhiều là người ít bệnh. Trụ ngày cao cường thì cả đời ít bệnh. Ấn thụ nhiều sinh thân là người khỏe. Thân mạnh, ấn lại vượng là ít bệnh. Trụ ngày ở trường sinh là người khỏe, bệnh ít. Tứ trụ có thiên đức, nguyệt đức thì suốt đời ít bệnh. Kình dương, kiếp tài là bệnh tật dày vò. Thương quan gặp vận thương thì bệnh tật liên miên. Mệnh phạm hình xung lẫn hợp thì phần nhiều bệnh do rượu, sắc hoặc tang gia mà thành. Đi vận tỷ kiếp thì vì bệnh mà hết của. Tứ trụ nhiều kiêu thần, thân lại nhược thì bị bệnh lao. Tài nhiều, thân nhược lại đi vận tài thì nhiều bệnh tật. Trụ ngày vượng, tài quan thịnh thì chân tay bị gãy hoặc bị thương.

Ngũ hành khắc nhau và tạng phủ nào bị tổn thương

Kim yếu gặp hỏa vượng thì có bệnh về máu. Kim chủ về phổi; nếu bị hỏa xung khắc thì bị bệnh do rượu, sắc. Thổ hư gặp mộc vượng thì tỳ vị bị tổn thương. Người đau gân cốt là do mộc, kim làm thương tổn. Mắt mờ là hỏa bị thủy khắc. Chi dưới lạnh là sinh vào mùa đông mà không gặp hỏa. Mộc bị kim khắc thì vùng thắt lưng bị bệnh. Hỏa bị thủy khắc thì bị bệnh mắt. Tam hợp hỏa cục thịnh vượng thì bị bệnh về máu. Thổ khắc thủy thì các tạng vùng bụng bị bệnh. Hỏa khắc kim thì phổi bị bệnh.

Hai mắt không có đồng tử là vì hỏa thổ đất khô quý thủy. Bính, Đinh khắc hại Canh kim thì đại tràng có bệnh. Kim thủy thương quan hàn thì ho vì lạnh, nhiệt thì có đờm vì hỏa. Hóa thổ ấn thụ: nhiệt thì phong đờm, táo thì người ngứa. Kim thủy làm cho khô là bệnh thận hư. Thủy mộc tương sinh thì tỳ vị bị tổn thương. Kình dương ở bại địa là bệnh tràng nhạc. Thổ vượng gặp hỏa là bệnh đau mắt vì nhiệt. Kình dương gặp ấn thụ thì cuối đời bị bệnh. Trong Tứ trụ thương, sát nhiều, không có quan tinh, khi vận nhập quan địa lại gặp tuế quân, nếu không bị bệnh mắt thì cũng gặp điều rủi khác.

Ngày, giờ có cả sát lẫn quan hỗn tạp thì bệnh xen nhau, phức tạp. Kiêu đoạt thực thần là có tật. Kim thần gặp thủy là người vừa nghèo đói vừa bệnh tật. Kiêu thần đóng ở trụ ngày, hoặc Tứ trụ nhiều kiêu thuần, thì vì ăn mà sinh bệnh. Trụ tháng có sát hoặc thương quan, đi đến vận thương quan thì phải đề phòng bệnh mắt. Bính, Đinh hỏa vượng thì khó tránh bệnh hoặc cấm khẩu do trúng phong. Trụ ngày, trụ giờ ở suy địa thì bệnh khó khỏi. Nhâm, Quý thêm thổ vượng thì phần dưới thân bị thương tổn. Thân nhược gặp sát mạnh, hoặc gặp sát địa, nếu không chết cũng tai họa nặng. Kim gặp vượng thủy là bệnh gân cốt bị thương. Hợi, tý còn gặp thân, tị, ngọ là bệnh về mắt.

Trụ ngày nhược, thực thương nhiều là bệnh choáng đầu. Giáp mộc gặp nhiều hỏa là bệnh thần kinh. Trong trụ hợi, tý nhiều là bệnh thủng ruột non, nhất là sinh vào giờ Bính tý, Nhâm tý thì dễ ứng nghiệm. Tứ trụ hỏa nhiều thì tuổi trẻ hay bị viêm mủ. Tứ trụ Đinh, ngọ nhiều lại có mùi thì đầu có sẹo, hoặc sẹo làm hói một khoảng đầu. Kiêu gặp vượng thì không ốm cũng gặp tai họa.

Sinh nở khó, mù điếc và tàn tật

Nữ, trụ năm gặp thương quan thì đẻ khó. Nữ gặp thiên đức, nguyệt đức thì dễ sinh. Thất sát hoặc kiêu thần đóng ở trụ ngày là vợ nhiều mà đẻ ít, khí huyết không điều hòa. Nữ gặp kiêu thần không tốt, rất khó đẻ, gặp bệnh cũng hay nguy. Thực thần gặp nhiều kiêu thần là đẻ khó. Can năm có thương quan, trụ giờ gặp kình dương hình phạt, tức vận hợp với kiêu thần, kình dương, đều là tượng đẻ khó. Ngày, giờ phạm câu giảo là đẻ khó. Kình dương nhiều là đẻ khó, bệnh kinh nguyệt nhiều, đến lúc đứng tuổi thì mắc bệnh hàn lạnh. Nữ phạm mão, dậu thì phần nhiều sẩy thai, khắc con, đau nhức liên sườn.

Bệnh vì mộc hỏa thường là bệnh đờm do hỏa. Bệnh vì kim thủy thường là bệnh nhiễm độc, bệnh ở kinh thận. Bệnh vì thủy mộc thường là bệnh tỳ vị. Thiên quan chế phục quá mạnh phải đề phòng đau hỏng mắt hoặc bệnh ở mắt cá chân. Thổ hư, thủy thịnh thì phải đề phòng bị thương thành tật. Trong trụ gặp ba, bốn lần kình dương thì phải đề phòng mù hoặc điếc. Người phạm kình dương sát thì đề phòng mù mắt. Trong trụ có kiếp tài, kình dương mà không có tài thì người không nghèo cũng tàn tật. Thân nhược lại gặp sát vượng, không chết cũng bị thương thành tật. Thân suy, quan vượng thì chân tay bị thương thành tật. Trụ gặp thương quan nhiều thì lưng, chân, gân cốt bị thương. Tam hình làm tan hợp thì coi chừng dễ bị thương. Gặp hình phạt nhiều thì khó tránh bị thương.

Năm, tháng dần, thân tương xung thì phải coi chừng bị câm điếc. Thìn, tuất, sửu, mùi tương hình cũng phải đề phòng câm điếc. Mão, dậu xung phá thì phải đề phòng bại chân. Trụ gặp một sát, ba tài, hai hỏa thì phải đề phòng mù mắt. Trụ ngày phạm thương quan thì phải đề phòng tàn tật. Trong trụ có bệnh thì cuối đời vẫn khó khỏi, nhưng bệnh nằm ở vận: qua vận thì khỏi.

Chín lá số bệnh tật đã ứng nghiệm

Những quy tắc về tạng phủ nghe khó tin, cho đến khi từng bệnh được gọi tên đúng năm, đúng chỗ.

Lá số thứ nhất là của một sĩ quan, nhờ xem vận năm 1985: năm Nhâm dần, tháng Canh tuất, ngày Bính tý, giờ Giáp ngọ. Người luận số thấy đại vận Tân hợi gặp lưu niên Nhâm tý nên bảo năm 1972 có bệnh đau mắt, và còn bị bệnh khác. Ông xác nhận năm 1972 mắt suýt mù, lại phải nằm viện vì bệnh khác. Trong trụ Nhâm thủy khắc can ngày, nên khi gặp vận kim thủy và năm Nhâm thủy thì can ngày Bính bị khắc mà thành bệnh; bệnh mắt là ứng với ý Nhâm thủy khắc Bính hỏa.

Lá số thứ hai là của con một người bạn, xem vào tháng giêng năm 1986: năm Bính ngọ, tháng Ất mùi, ngày Canh thìn, giờ Mậu dần. Thấy trong trụ sát, kiêu tương sinh, nên đầu tiên người luận số nói năm 1978 người con không bệnh mật thì bệnh gan. Người bạn xác nhận cháu bị viêm gan, nằm viện. Người bệnh gan, mộc tử ở ngọ; năm 1978 là Mậu ngọ, ứng với ý kiêu gặp kiêu vượng thì không bệnh cũng tai họa.

Lá số thứ ba là của con trai một người bạn cũ ở Hồ Bắc, xem vào tháng 7 năm 1987: năm Nhâm tý, tháng Quý sửu, ngày Kỷ dậu, giờ Quý dậu. Người luận số nói năm 1990 người con vừa bị bệnh vừa bị thương, bệnh chắc là bệnh gan. Tháng giêng năm 1991 vợ chồng người bạn báo lại đều ứng: trước hết nằm viện vì gan, sau đi xe máy bị thương. Năm ấy trong trụ dậu hợp thành kim cục khắc mộc; năm Canh ngọ 1990 kim vượng, mộc chết nên bệnh gan. Canh là thương quan lại gặp vượng địa nên có tai nạn bị thương.

Lá số thứ tư là của vợ một người bạn thân, xem vào tháng 7 năm 1987: năm Ất mùi, tháng Đinh hợi, ngày Quý dậu, giờ Quý hợi. Người luận số nói năm 1987 vợ anh bị bệnh nặng, và người bạn xác nhận vợ ốm hơn nửa năm nay vẫn chưa khỏi. Tứ trụ đều gặp kiêu thần, thực thần; đại vận lại gặp kiêu thần; trụ ngày Quý dậu xung khắc trực diện với lưu niên thái tuế Đinh mão. Đúng ý: kiêu, thực đóng ở trụ ngày, can chi lại gặp kiêu nữa thì kiêu đoạt thực, tất bị bệnh.

Lá số thứ năm là của con một học viên ở Quảng Châu, xem vào tháng 3 năm 1989: năm Mậu ngọ, tháng Tân dậu, ngày Ất dậu, giờ Tân tị. Đứa trẻ ốm luôn, người mẹ không rõ nguyên nhân. Người luận số nói năm 1980, 1981 con chị ốm nặng, có thể nói là thoát chết, và chị xác nhận suýt nữa thì chết. Trong trụ thất sát nhiều lại gặp tài sinh; năm 1980, 1981 là Canh thân, Tân dậu, sát vượng gặp sát địa nên ốm nặng. Ứng với ý: thân nhược, sát vượng và nhiều lại gặp sát địa thì nhất định ốm.

Lá số thứ sáu là của ông Vương, người bị cao huyết áp: năm Nhâm ngọ, tháng Quý mão, ngày Bính tuất, giờ Kỷ hợi. Tháng 3 năm 1985, ông tìm đến và kể ở nhà thì huyết áp bình thường, ăn ngủ được, nhưng cứ đến nhà máy là huyết áp vọt lên, còn nhanh hơn cả uống thuốc, ông cho rằng có ma tà. Người luận số xem tám chữ thì thấy nguyên nhân rất rõ: ông làm việc ở phía bắc của nhà ở, mà tứ trụ thủy nhiều, nhà máy lại nằm ở phương bắc, thủy vượng khắc hỏa nên huyết áp cao. Nếu chuyển công tác về phía nam chỗ ở, hoặc nghỉ ở nhà thì bình yên vô sự; vấn đề là vậy chứ không có ma tà nào. Ông về nói lại với vợ, nghỉ ngơi ở nhà và không xảy ra điều gì.

Lá số thứ bảy là của anh trai một thương nhân Hoa kiều đến Tây An nhờ xem vào tháng 7 năm 1990: năm Quý tị, tháng Quý hợi, ngày Bính tý, giờ Đinh dậu. Người luận số xem lá số, lưu niên và đại vận rồi nói tháng 10 năm 1989 anh ông gặp nạn, may mà thoát chết. Ông kinh ngạc thừa nhận năm ngoái anh bị bệnh tim bột phát, suýt chết, may được cứu. Năm 1989 là Kỷ tị, trong trụ quan tinh vượng và trùng lặp, đại vận, lưu niên lại gặp thương quan. Tháng 10 là Quý hợi, chính xung với thái tuế Kỷ tị nên ốm. Đúng ý: quan gặp thương quan thì không bệnh cũng tai họa.

Lá số thứ tám là của ông Cao ở Xinhgapo, xem vào tháng 4 năm 1991: năm Quý mùi, tháng Nhâm tuất, ngày Tân hợi, giờ Nhâm thìn. Người luận số nói ông thường mắc bệnh váng đầu, ông xác nhận mỗi lần lên cơn là rất lâu. Lý do là trong trụ thương, thực nhiều, tất có bệnh đau đầu.

Lá số thứ chín là của cô Trương ở Thái Lan, xem vào tháng 5 năm 1991: năm Kỷ mão, tháng Canh ngọ, ngày Nhâm dần, giờ Tân sửu. Người luận số xem tám chữ cùng tuế vận rồi nói năm 1950 cô mắc bệnh gan, và cô xác nhận đúng. Trong tứ trụ dần là gan, Nhâm sinh vào tháng 5 ở tử địa, đại vận Nhâm thân là thân kim xung khắc dần mộc nơi thái tuế.

Nguồn: Thiệu Vĩ Hoa, Trần Viên, Dự đoán theo Tứ trụ.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Bát Tự Hà Lạc