Bài tổng quan
Luận Ngữ – Học Nhi: Niềm Vui Học Tập Và Hiếu Đễ, Gốc Rễ Đạo Nhân
Đạo nhân, tức đạo làm người, là sợi chỉ xuyên suốt Luận Ngữ, bộ sách do học trò Khổng Tử chép lại lời thầy cùng những cuộc hỏi đáp quanh thầy. Tư tưởng ấy trải từ thuyết chính danh tới quan niệm không lo ít mà lo không đều, rồi hiện ra cụ thể trong mười sáu câu của thiên Học Nhi. Niềm vui được đặt lên hàng đầu: vui vì học mà thường xuyên ôn tập, vui vì có bằng hữu từ xa tới, không giận khi người đời không biết mình. Kéo theo là những câu nền móng: hiếu đễ là gốc của đức nhân, lời khéo sắc mặt giả thì ít nhân, mỗi ngày tự xét mình ba điều. Câu kết của thiên chỉ vài chữ về chuyện hiểu người và được người hiểu, nhưng lại đảo ngược hẳn một nỗi lo rất quen thuộc.
Lời Dẫn: Đạo Nhân Và Tư Tưởng Của Khổng Tử
Khổng Tử là nhà tư tưởng, nhà văn hóa lớn của phương Đông và thế giới, đã được mệnh danh là bậc Đại Thành Chí Thánh Tiên Sư tức là người thầy cực kỳ tài giỏi của Trung Quốc. Trong kho trí tuệ đồ sộ mà Khổng Tử cống hiến cho nhân loại, phải kể đến Luận Ngữ.
Luận Ngữ nguyên nghĩa là bàn về lời nói. Gọi là sách Luận Ngữ vì sau khi Khổng Tử mất, các học trò mới cùng nhau chép lại và bàn luận lời của Khổng Tử trả lời học trò và người đương thời cùng những lời của học trò hỏi đáp lẫn nhau để hiểu đúng và rõ ràng lời dạy của thầy. Có thể nói, toàn bộ tư tưởng triết học của Khổng Tử nằm trong Luận Ngữ, đi sâu lý giải mọi vấn đề chính trị, xã hội, luân lý, đạo đức... một cách sâu sắc và uyên thâm.
Xuyên suốt tư tưởng của Khổng Tử là đạo nhân tức là đạo làm người, đạo vì con người. Khổng Tử cho rằng người ta trước phải tu thân, tề gia, sau mới nói đến trị quốc, bình thiên hạ được.
Trong việc tu thân, tề gia, người ta cũng phải gắn với đức nhân tức là tu dưỡng rèn luyện nội tâm để đạt được nguyên tắc đạo đức tối cao bao gồm những đức như trung, thứ, hiếu, đễ, cung, khoan, tín, mẫn, huệ. Đạt được như vậy, người ta đã xác lập được nhân cách tiêu chuẩn là người quân tử. Khi ấy, con người ta sẽ biết coi trọng luân thường đạo lý, biết sống có trách nhiệm, biết đặt lợi ích cộng đồng lên trên lợi ích cá nhân, tránh được chủ nghĩa cá nhân làm sa đọa con người và xã hội.
Để trị quốc, bình thiên hạ, người cầm quyền phải tu thân, tề gia rồi mới thi hành đức trị theo lễ giáo, từ đó mà cảm hóa dân chúng, khiến cho dân chúng phục tùng sự cai trị của mình. Đặc biệt, Khổng Tử rất chú trọng về lễ, tức là trật tự trong trị nước. Ông đã đề ra thuyết chính danh yêu cầu "vua trọn đạo làm vua, tôi trọn đạo làm tôi, cha trọn đạo làm cha, con trọn đạo làm con", coi chính danh là biện pháp lớn để trị nước. Một tư tưởng lớn khác của Khổng Tử là "không lo của cải ít, chỉ lo phân phối không đều; không lo dân không đông, mà chỉ lo lòng dân không yên", để từ đó mà xây dựng nên thế giới "đại đồng". Ở thời ấy mà Khổng Tử đã nêu ra tư tưởng như vậy, thực có giá trị cho tới tận mai sau.
Quan điểm của Khổng Tử về chân - thiện - mỹ cũng phản ánh rõ tư tưởng triết học và đạo đức của ông. Khổng Tử chủ trương phải thống nhất giữa mỹ và thiện mà thiện phải đặt ra trước hết, hình thức và nội dung của văn học nghệ thuật phải đạt tới sự thống nhất hài hòa.
Nội dung của Luận Ngữ thật là sâu sắc trong mọi phương diện học tập, giáo dục, xử thế và trị nước an dân. Lời văn của Luận Ngữ thật trong sáng, cô đọng thành những danh ngôn bất hủ, nên rất sinh động, dễ tiếp thu. Vì vậy, ngày nay Luận Ngữ vẫn không mất đi giá trị chân thực mà ngày càng có ảnh hưởng rộng rãi, trở thành viên ngọc quý trong kho tàng văn hóa phương Đông và nhân loại.
Chính vì ý nghĩa ấy, trong quá trình chú dịch, tác giả đã biên soạn lời bình nhằm gắn kết lời dạy của thánh nhân với cuộc sống hôm nay, mong bạn đọc tìm thấy được giá trị đích thực đối với bản thân mình.
Mùa hè năm 1998
VƯƠNG THÀNH TRUNG
Tiết 1–8: Niềm vui học tập, hiếu đễ và ba điều tự xét mình
1. Khổng Tử nói: "Học được điều gì, lại có thể thường xuyên ôn tập, không phải là điều đáng vui mừng đó sao? Có bạn bè từ phương xa tới, không phải là điều vui sướng nhất đó sao? Người không hiểu ta mà ta chẳng oán giận họ, như vậy không phải là người quân tử ư?".
Lời bình
Theo ý Khổng Tử, học có nghĩa là làm theo, noi theo, noi gương.
Học là quá trình không ngừng ôn luyện. Đối với những tri thức đã học được, phải nghiêm chỉnh làm theo để thúc đẩy quá trình tự giác lĩnh hội; phải thường xuyên ôn tập để không ngừng phát hiện ra điều mới mẻ, củng cố nâng cao sự nhận thức, hiểu biết của mình. Mỗi lần ôn tập là mỗi lần có thêm hiểu biết mới, thể nghiệm mới, trình độ mới.
Học là giai đoạn đầu tiên để nhận thức sự vật, còn ôn tập hay thực tập là giai đoạn củng cố điều đã học và đem áp dụng vào cuộc sống, hình thành và củng cố vững chắc kỹ năng, kỹ xảo của công việc đã học, củng cố được tri thức, giúp mình trở thành một con người có tài đức trong xã hội. Và cũng vì trở thành một con người như vậy, nên làm cho mình thấy vui mừng. Học đưa lại niềm vui, điều hay, không phải là chỗ đó ư?
Khổng Tử chủ trương bản tính con người là thiện, nên phải lấy tinh thần của thiện để cảm hóa người, làm cho người ở gần mình trong lòng vui sướng mà tự nguyện học theo mình; còn người ở xa mình, được tinh thần của thiện cảm hóa, bị lôi kéo bởi sức hút của thiện mà vui vẻ tự nguyện đến với mình.
Một người có tu dưỡng thì người ở gần luôn luôn bên cạnh mình, còn người ở xa nghe thấy tiếng mà thật lòng mến mộ đến với mình. Bạn phương xa đến thăm, có thể cùng nhau đàm đạo về đạo lý, động viên nhau, chia sẻ cho nhau, cảm hóa lẫn nhau. Được như vậy không phải là điều vui sướng nhất đó sao?
Trong cuộc sống, một con người có thể gặp lúc không được ai hiểu mình hoặc để ý đến mình. Trong trường hợp như vậy, nếu cứ suy bì tỵ nạnh, tính toán thiệt hơn, tất sẽ ảnh hưởng đến học tập và công tác. Người có đức hoặc có tư tưởng khoáng đạt cởi mở, thì không bao giờ để tâm vào vấn đề này. Vì vậy, Khổng Tử cho rằng, học tập hay không học tập đều tự ở mình cả, còn hiểu mình hay không là ở người khác.
Một người nỗ lực học tập tu thân theo điều thiện đạt đến trình độ văn hóa tinh thần nào đó, sẽ cảm thấy yên tâm phấn khởi, tự tin, tự cảm thấy tin tưởng chắc chắn vào tài năng của mình sẽ được sử dụng, tiền đồ sự nghiệp sẽ thành công. Còn việc người ta có biết mình hay không thì không quan hệ gì đến động cơ học tập của mình cả. Đâu có phải vì để người khác biết tiếng thì mình mới học tập tu thân. Tự mình học tập, tuy người khác không hiểu mình, nhưng thế giới tâm linh và thế giới tinh thần của mình vẫn phong phú, sâu sắc, ổn định, không oán không hận, không phẫn nộ ai cả. Được như vậy không phải là hành vi của người quân tử ư?
2. Hữu Tử nói: "Người biết hiếu thuận với cha mẹ, có nết đễ (kính trọng) với người lớn tuổi hơn mình mà lại thích cãi cọ, va chạm, xung đột mạo phạm với cấp trên là rất hiếm thấy. Người không mạo phạm cấp trên mà lại thích làm phản làm loạn là không có. Người quân tử là người chuyên tâm nắm vững cái gốc của tu thân. Nắm vững được cái gốc của tu thân thì đạo lập thân xử thế tự nhiên phát sinh ra trong lòng mình. Hiếu đễ là cái gốc của việc làm đạo nhân".
Lời bình
Luận Ngữ từ rất nhiều góc độ bàn luận về điều nhân. Hữu Tử cho rằng nhân là gốc của tu thiện. Ở trong gia đình, cùng những người có quan hệ ruột thịt, điều thứ nhất là phải hiếu kính cha mẹ, thứ hai là phải tôn kính anh chị và người lớn tuổi hơn mình, nếu ai làm được việc đó thì không bao giờ để xảy ra mạo phạm với người trên. Trước người trên, có phong thái nhã nhặn lịch sự, lễ phép, cung kính phục tùng, con người như vậy không bao giờ có tư tưởng làm phản, làm loạn. Hữu Tử chỉ rõ rằng nhận thức đối với người ta cần bắt đầu từ nơi gần nhìn đến nơi xa. Nơi gần là ở trong nhà, biết hiếu thuận với cha mẹ, tôn kính anh chị thì không để xảy ra phạm thượng. Ở cương vị chức trách không phạm thượng thì sẽ không bao giờ làm phản loạn. Người con có hiếu ra làm quan thì đa số là trung thần. Nghịch tử ra làm quan thì đa số là nghịch thần.
Về tiêu chuẩn cơ bản của một người tốt, theo Hữu Tử, phải là người có hiếu đễ. Hiếu đễ là gốc để thực hiện đạo nhân.
Hữu Tử cho rằng muốn tu dưỡng tâm tính không thể tu dưỡng được tất cả mọi mặt trong một lúc. Công việc có to có nhỏ, có lớn có bé, phải làm dần từng việc một; tức là phải nắm vững mâu thuẫn chủ yếu, nắm vững cái gốc của làm người, cái gốc của nhiệm vụ người quân tử. Sự việc có mặt lớn mặt nhỏ. Tất cả mặt nhỏ đều do mặt lớn quyết định. Tu thân cũng như vậy, có chủ có thứ, có gốc có ngọn, có đại tiết, tiểu tiết. Đại tiết được xây dựng thì tiểu tiết sẽ được giải quyết. Người quân tử chuyên tâm vào mặt lớn, mặt cơ bản. Mặt cơ bản được giải quyết thì có thể quản lý tốt các mặt thứ yếu, giải quyết tốt các mặt nhỏ. Thế gọi là xác lập được cái gốc của tu thân, thì đạo nhân có thể phát sinh và phát huy triệt để.
3. Khổng Tử nói: "Dùng những lời lẽ hay ho để nịnh hót, làm vừa lòng người và ra vẻ mặt hiền lành, như vậy không phải là người có lòng nhân".
Lời bình
Người mà phải dùng lời lẽ hay ho làm vừa lòng người, lại làm ra vẻ hiền lành, thì người ấy đã phải lo đến cái vẻ bên ngoài để làm theo ý muốn của người, còn đức ở trong lòng đã mất. Bởi vì có lúc, không kể có bộ mặt ra sao, miệng nói những lời gì, nếu có thiện tâm thì dù lời nói có vụng về, thô thiển, sắc mặt có nghiêm túc cũng là có nhân rồi. Nếu không có nhân thì dù có nói hay đến mấy, dễ nghe đến mấy, sắc mặt có vẻ hiền lành đến mấy cũng không phải là người có nhân.
Khổng Tử có thái độ dứt khoát đối với kẻ tâng bốc nịnh hót và hết sức đề phòng loại người này.
Trong cuộc sống hiện thực, chúng ta nhìn thấy loại người nịnh hót không ít. Nhận biết được loại người này không phải là người có đức nhân thì xem như đã bắt đầu hiểu được đức nhân rồi.
4. Tăng Tử nói: "Tôi mỗi ngày tự xét mình ba điều. Mưu việc cho người khác đã dốc hết sức lực tâm trí chưa? Cùng kết giao với bạn bè đã thật giữ điều tín chưa? Tri thức thầy truyền cho đã ôn tập cẩn thận, chu đáo chưa?".
Lời bình
Tự xét mình nghĩa là nhắc nhở mình phải tỉnh táo sáng suốt. Tăng Tử cho rằng thường xuyên ngày nào cũng nêu ra mấy vấn đề để nhắc nhở mình, dùng hình thức tự hỏi mình để giữ cho mình luôn luôn tỉnh táo sáng suốt; lấy tiêu chuẩn của nhân để tự soi chiếu, có sai thì sửa, không sai thì tự động viên mình, khiến cho mình bỏ điều ác theo điều thiện. Theo đó, Tăng Tử nêu ra ba điều để mỗi ngày tự xét mình, nhắc nhở mình, quất vào sai trái của mình và sửa mình. Ba điều đó là:
Mưu việc cho người khác phải dốc hết sức lực tâm trí: Mưu là đề xuất ý kiến, nghĩ cách hoặc làm việc cho người khác. Người có lòng nhân bao giờ cũng có tình thương yêu người. Mưu lợi ích cho người chính là lòng yêu người được biểu hiện ra bằng hành động cụ thể ở bên ngoài. Nho gia chủ trương giúp đỡ mọi người, làm việc gì cũng phải tận tâm tận lực, nhất tâm nhất ý. Nếu mỗi ngày đều có thể nêu một điều để hỏi mình, cứ duy trì mãi mãi, sẽ trở thành một con người có đạo đức, sẽ trở thành một con người biết lấy việc giúp đỡ người làm niềm vui của mình. Chúng ta yêu cầu người khác giúp đỡ mình, có được việc cũng cảm ơn họ, không được việc cũng cảm ơn họ, chỉ cần người ta thành tâm thành ý là cảm ơn rồi. Điều này đã trở thành đức tính tốt đẹp của các dân tộc phương Đông trong đó có dân tộc ta.
Cùng bè bạn kết giao với nhau phải giữ được chữ tín: Giao là chơi bời, đi lại kết bạn với nhau. Tín là thật thà, trung thực đáng tin cậy. Con người không thể sống cô lập trong xã hội, cách biệt với mọi người xung quanh, mà thường phải kết bạn với nhau, giao lưu, tiếp xúc, đồng tâm hiệp lực giúp đỡ lẫn nhau, xây dựng nên các mối quan hệ xã hội mới có thể tiến hành mọi hoạt động xã hội bình thường. Kết giao bạn bè cần giữ điều tín; cùng làm việc với bạn bè đồng sự phải thành tâm; đã nói là phải làm, làm phải có kết quả, đây là chuẩn mực tối thiểu trong phép đối nhân xử thế.
Chúng ta kết giao bạn bè cùng làm việc với nhau, thường xuyên tự hỏi mình, có điều gì lừa dối bạn bè không? Làm được như vậy, mới có thể trở thành tri ân tri kỷ của bạn bè, mới xứng đáng là bạn của người khác.
Tri thức thầy truyền cho phải ôn tập cẩn thận, chu đáo: Truyền theo nghĩa của nhà nho là tâm truyền, là sự tu dưỡng nội tâm, truyền bá đạo nhân, trao nhau lời hay ý đẹp, quảng bá điều thiện. Vì vậy mà những lời thầy dạy chẳng những phải chăm chú lĩnh hội mà còn phải thường xuyên suy xét ôn luyện, cứ mãi mãi làm được như vậy sẽ có ngày đạt đến đạo nhân.
Nếu biết tự xét mình chân thành, cẩn thận như thế thì đã tạo được cái gốc vững chắc của việc học rồi.
5. Khổng Tử nói: "Quản lý lãnh đạo một quốc gia có nghìn cỗ xe, phải xử lý nghiêm túc, cẩn thận, chu đáo tất cả mọi công việc, phải đặc biệt giữ điều tín đối với dân, tiết kiệm chi tiêu, yêu mến dân, sử dụng sức dân trong thời gian thích hợp".
Lời bình
Khổng Tử cho rằng muốn lãnh đạo quản lý một quốc gia lớn cần phải làm tốt năm điều sau đây:
Phải xử lý nghiêm túc, cẩn thận, chu đáo: Chúng ta thường nói tinh thần yêu nghề, kính nghiệp chính là tinh thần chuyên tâm nhất ý làm tốt sự nghiệp hay nghề nghiệp của mình.
Công việc của một quốc gia, mỗi ngày phải giải quyết hàng vạn thứ, việc nào cũng phải làm ngay, nhiều công việc phức tạp, không có việc nào không đến tay lãnh đạo giải quyết. Người lãnh đạo cần phải tập trung giải quyết tốt bất cứ một việc gì khi đã đến tay, không thể viện cớ vì việc công bận mà giải quyết qua loa cho xong chuyện. Việc nước, việc công thì không có việc gì nhỏ, mà việc nào cũng phải xử lý cẩn thận như nhau, không thể việc này sơ sài, việc kia lơ là.
Giữ điều tín đối với dân: Nước có thể nâng thuyền, nước có thể lật thuyền. Dân có thể lập nước, có thể diệt nước. Chính quyền một nước được ổn định hay không, mấu chốt là lòng dân có hướng theo hay không. Người được lòng dân thì được cả thiên hạ, người mất lòng dân thì mất cả thiên hạ. Lòng dân là gốc của quốc gia yên ổn, chính quyền củng cố.
Làm thế nào để được lòng dân? Mấu chốt là được dân tín nhiệm. Làm thế nào để được dân tín nhiệm? Mấu chốt là chính quyền phải thực sự có thành tích đối với dân, cải thiện điều kiện sống mọi mặt về vật chất và tinh thần cho dân.
Tiết kiệm chi tiêu: Muốn lãnh đạo tốt một quốc gia, được sự ủng hộ của dân chúng, phải nghiêm khắc tiết kiệm trong chi dùng. Ở thời cổ đại, lực lượng sản xuất thấp kém, của cải vật chất có hạn nên làm bất cứ việc gì đều phải lượng tài, lượng sức, lượng thu chi mới làm, ăn mặc phải lượng khả năng từng gia đình. Đó là xuất phát từ chính là đạo lý này.
Ở thời đại hiện nay, lực lượng sản xuất phát triển, của cải vật chất phong phú hơn, đời sống nhân dân được cải thiện, nhưng vẫn phải chú trọng nguyên tắc phấn đấu làm ra nhiều của cải, vật chất, mà cần kiệm trong chi dùng mọi mặt.
Nếu không nghĩ đến tiết kiệm, cái gì cũng phô trương lãng phí, vung tay quá trán, chi tiêu không rõ ràng, sẽ dẫn đến đóng góp của nhân dân thêm nặng, lâu dần sẽ dẫn đến nhân dân ca thán, phàn nàn, bất mãn đến đỉnh điểm thì tức nước vỡ bờ, mất ổn định là không tránh khỏi, chính quyền sụp đổ là điều tất nhiên.
Yêu mến dân: Người lãnh đạo một quốc gia thực sự có lòng thương yêu dân hay không, việc làm có đưa lại niềm hạnh phúc, ấm no cho dân hay không, điều đó quyết định tất cả. Đạo yêu dân của Khổng Tử là đạo trị nước.
Sử dụng sức dân trong thời gian thích hợp: Thời cổ đại có lao dịch, đi phu xây dựng lâu đài thành quách, thời nay có nghĩa vụ đóng góp công dân, xây dựng công ích. Quốc gia sử dụng dân công phải chọn thời gian thích hợp khi nông nhàn. Có như vậy mới không để lỡ thời vụ gieo trồng thu hoạch, không làm trở ngại đến sản xuất, đến lợi ích chính đáng của dân.
6. Khổng Tử nói: "Tuổi trẻ muốn nên người, ở nhà cần phải hiếu thuận với cha mẹ, ra ngoài phải tôn kính người lớn tuổi hơn mình, hành vi phải cẩn thận, lời nói phải giữ điều tín, yêu thương rộng rãi mọi người, biết gần gũi người có đức nhân. Làm được như vậy rồi, nếu còn dư năng lực, thời gian thì học tập tri thức".
Lời bình
Ở đây Khổng Tử nêu ra sáu yêu cầu đối với lớp trẻ trong việc tu dưỡng để thành người:
Ở nhà phải hiếu thuận với cha mẹ: Hiếu là quan niệm trọng tâm, là tư tưởng quan trọng của văn hóa Nho gia. Quan niệm này yêu cầu thanh thiếu niên ở gia đình phải tôn kính cha mẹ, đối xử phụng dưỡng cha mẹ tử tế. Đây được xem là nguồn gốc, nguyên tắc duy trì trật tự và hòa mục trong gia đình. Chỉ khi ở nhà làm trọn đạo hiếu thuận với cha mẹ, thì khi ra ngoài xã hội mới biết tận trung với quốc gia.
Ra ngoài xã hội phải tôn kính người hơn tuổi mình: Có tôn trọng người hơn tuổi mình mới có thể duy trì trật tự trên dưới, khiến mọi thành viên trong xã hội có sự tôn trọng lẫn nhau, làm tốt việc đoàn kết toàn dân, cả nước một lòng.
Hành vi phải cẩn thận, lời nói phải giữ điều tín: Trong mọi hành động phải giữ trước sau như một, tuân thủ nghiêm khắc quy phạm hành vi của xã hội, như vậy gọi là cẩn thận. Giữ điều tín là thành thực, thực sự cầu thị, không nói suông, không nói dối, không nói hai lời. Nho gia chủ trương lời nói và hành động phải đúng đắn, nói đúng và làm đúng, nói đi đôi với làm. Đó là yêu cầu quan trọng phải tu dưỡng từ sớm.
Yêu thương rộng rãi mọi người: Đây là tinh thần yêu thương rộng rãi mọi người của Khổng Tử. Tự do, bình đẳng, bác ái, trong đó quan niệm bác ái chính là tình yêu rộng rãi mọi người mà Khổng Tử đã nói tới. Yêu rộng rãi mọi người theo cách nói ngày nay là yêu nhân dân.
Gần gũi người có đức nhân: Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng, cho nên gần gũi người có đức nhân là để tiếp thu ảnh hưởng của họ, từng bước nâng cao sự tu dưỡng về đạo đức của mình, để trở thành người có đức nhân.
Còn dư năng lực, thời gian thì học tập tri thức: Làm được năm điều trên chủ yếu là về mặt phẩm chất, mặt đạo đức. Do đó có thể biết nhà giáo Khổng Tử đem đức dục đặt vào vị trí đầu tiên. Đức dục là số một như ta thường nói tiên học lễ. Nếu năng lực có dư, như có thời gian, có điều kiện vật chất, thì Khổng Tử khuyên lớp trẻ nên học thêm văn hóa, về các tri thức để có thêm tài năng cụ thể. Tài năng là thứ hai như ta thường nói hậu học văn. Chủ trương của Khổng Tử là muốn giáo dục bồi dưỡng một lớp người mới có đức có tài.
7. Tử Hạ nói: "Biết tôn trọng người hiền tài thay cho tôn trọng nữ sắc; biết đối đãi với cha mẹ tận tâm tận lực; biết thờ vua với tinh thần liều chết quên mình; giao lưu cùng bạn bè biết nói lời tín thật. Những người như vậy tuy không được học vấn xem như là người đã có học rồi".
Lời bình
Học tập mà Khổng Tử nói không chỉ là học tập trong sách vở, học những tri thức cụ thể, mà cả rèn luyện phẩm đức cao thượng, học làm người có đức nhân. Tử Hạ đã lĩnh hội được ý đó, phát biểu quan niệm của mình. Bốn việc mà Tử Hạ nêu ra là bốn việc lớn trong luân thường của con người. Muốn làm bốn việc ấy phải có lòng thành, nếu không có tư chất hơn người thì cũng phải rất chăm chỉ rèn luyện.
Vì vậy, Tử Hạ cho rằng người làm được bốn điều nói trên là một người toàn diện, hoàn mỹ về đạo đức, là người cao thượng. Không biết rèn luyện để làm người có đức nhân, làm người cao thượng, thì có học xem như không có học, học mà không được cái gì, hoặc học rồi cũng vô dụng. Làm người biết thực hiện luân thường để có đức nhân, thì không được học cũng xem như người đã có học rồi.
8. Khổng Tử nói: "Người quân tử nếu không có thái độ trang trọng thì không giữ được uy nghiêm, có học tập cũng không củng cố được thành quả đã học. Làm người phải lấy trung tín làm chính. Không kết giao bạn bè với người chẳng như mình. Có sai lầm, không sợ sửa chữa".
Lời bình
Khổng Tử nêu ra ba yêu cầu đối với con người:
Người quân tử nếu không có thái độ trang trọng thì không giữ được uy nghiêm: Muốn nên người, trong mọi công việc đều phải có thái độ nghiêm túc, tự giác và hết mực coi trọng. Tư thế thái độ là hình thức biểu hiện bên ngoài của thế giới nội tâm, là sự phản ảnh cụ thể trạng thái tinh thần của con người. Nếu làm người không có thái độ trang trọng, xem việc gì cũng không quan trọng thì tu dưỡng nội tâm chưa đạt, thiếu sự uy nghiêm để ràng buộc mình. Đối với học tập cũng vậy, không trang trọng thì không giữ được nghiêm túc, dù có học tập cũng chẳng thể thành công được.
Làm người phải lấy trung tín làm chính, không kết giao bạn bè với người không như mình: Trung thành và trung thực là tiêu chuẩn tối thiểu để kết giao bạn bè. Người chẳng trung tín, việc làm không thành thật. Làm việc ác dễ, làm việc thiện khó. Vì vậy người nghiên cứu học vấn phải lấy trung tín làm chủ và phải biết kết giao với người có đạo đức, người cao thượng. Chỉ có quan hệ với người có đạo đức, mới có thể nhanh chóng nâng cao phẩm đức, tự hoàn thiện mình. Căn cứ vào yêu cầu tu dưỡng, Khổng Tử chủ trương không kết giao bạn bè với người không như mình là vậy.
Có sai không sợ sửa chữa: Con người, trong cuộc sống không thể không phạm sai lầm. Mọi quan niệm cho rằng con người có thể không bao giờ phạm phải sai lầm là không đúng. Chỉ có trẻ sơ sinh và người đã chết mới không phạm phải sai lầm. Khổng Tử không yêu cầu con người không phạm sai lầm, chỉ yêu cầu khi phạm sai lầm phải dám nhận và biết sửa chữa. Đấy mới là thái độ của người có đức nhân.
Tiết 9–16: Lễ quý ở hòa, nghèo mà vui, giàu mà hiếu lễ
9. Tăng Tử nói: "Phải cẩn thận làm tốt tang lễ cho cha mẹ khi qua đời; thành tâm, thành ý khi cúng tế tổ tiên. Được như vậy, dân chúng được cảm hóa, phong tục đạo đức của dân chúng ngày một tốt đẹp và thuần hậu".
Lời bình
Muốn xây dựng đạo đức cho con người thì phải từ hai mặt. Một mặt là phải tu dưỡng đạo đức của từng cá nhân - thành viên của xã hội. Mặt khác là xây dựng nền tảng cơ bản của đạo đức xã hội, mặt bằng đạo đức của quần chúng. Tăng Tử hiểu rõ về mặt tu dưỡng đạo đức cá nhân, tự mỗi người phải nghiêm khắc yêu cầu mình; về mặt xã hội phải làm rất nhiều việc mới có thể xoay chuyển được tệ hại, sai trái, hủ tục, làm sạch bầu không khí đạo đức xã hội.
Việc thì nhiều nhưng Tăng Tử nêu ra hai việc: Khi cha mẹ mất, người ta hay làm không đúng lễ, nhưng mình phải cẩn thận để làm cho đúng lễ. Người ta dễ quên tổ tiên từ đời xưa, nhưng mình phải tế tự tổ tiên theo lòng thành.
Người quân tử, người lãnh đạo làm được hai việc này thì đức của mình trở nên trung hậu lại hợp lễ, có thể cảm hóa dân noi theo, từ đó tác phong, phong tục của dân nhất định sẽ được nâng cao theo hướng tốt đẹp. Mặt bằng xã hội được nâng cao lại thúc đẩy sự tu dưỡng đạo đức của mỗi thành viên. Cứ như vậy, làm cho đạo đức xã hội ngày càng phát triển hoàn thiện.
10. Tử Cầm hỏi Tử Cống rằng: "Thầy Khổng Tử của chúng ta mỗi khi đến một nước nào đều được tham dự vào công việc chính sự của nước đó. Đây là do thầy chúng ta yêu cầu hay người ta chủ động mời thầy nghe?".
Tử Cống nói: "Thầy chúng ta có đức tính ôn, lương, cung, kiệm, nhường, nên mới được vinh dự đặc biệt đó. Phương pháp đề xuất yêu cầu được tham gia chính sự của thầy chúng ta hoàn toàn khác với phương pháp xin việc của người khác".
Lời bình
Tử Cống nêu lên năm đặc trưng xử sự của Khổng Tử là ôn, lương, cung, kiệm, nhường.
Ôn là ôn thuận, ôn hòa. Khổng Tử khi làm việc với ai đều hết sức ôn hòa, giữ thái độ ân cần nồng hậu; luôn luôn có nét mặt dễ gây thiện cảm, hễ đối phương nhìn thấy là có cảm tình, có lòng tin, biết là người đáng tin cậy. Cho nên đối phương sẵn sàng tự nguyện kết giao cộng sự, bằng lòng cùng trao đổi bàn bạc với Khổng Tử.
Đây là điều kiện tiên quyết mà Khổng Tử đã kiên trì tu dưỡng để được chủ động mời tham gia bàn luận công việc chính sự.
Lương là lương thiện. Khổng Tử lúc nào cũng lương thiện. Trong cuộc sống có thể giúp được người hay không là một vấn đề, còn lương tâm tốt hay không là một vấn đề khác. Trong xử sự với người, nếu lòng dạ bất lương thì chỉ có khả năng lừa người ta được một lần, không thể lừa người ta được mãi mãi.
Tính tình lương thiện, lúc đầu có thể người ta chưa hiểu hoặc hiểu lầm, nhưng về sau càng hiểu người ta sẽ càng tin và sẵn sàng cùng chung sống hòa bình với mình. Tính tình lương thiện luôn có động cơ lành mạnh là làm điều thiện cho người và luôn lấy đó làm niềm vui.
Đây là điều kiện cơ bản Khổng Tử đã thường xuyên tu dưỡng để được mời tham gia bàn luận công việc chính sự.
Cung là cung kính. Tính tình lương thiện, chiếm được thiện cảm của mọi người, thì càng không thể hành động ngạo mạn, bất bí người; mà phải lễ độ tôn kính, tôn trọng người. Cử chỉ nét mặt có vui vẻ, lễ độ, người khác mới vui vẻ tiếp thu, chịu ngồi nghe mình nói.
Đây là điều kiện quan trọng Khổng Tử đã tu dưỡng được để ý kiến của mình được tiếp thu, được tham gia bàn luận công việc chính sự.
Kiệm là cần kiệm và dè dặt. Mỗi khi đến một nước nào, địa phương nào, Khổng Tử hết sức chú ý đến nguyên tắc cần kiệm. Nếu tự mình phô trương lãng phí, tiêu pha thừa mứa, ăn uống no say, người ta nhìn vào sẽ không có thiện ý; hoặc nếu tự mình có đòi hỏi gây tốn kém đến tiền bạc của người thì nhất định không được đối xử đúng theo lễ. Nếu không dè dặt trong lời nói thì không hiểu người mà dễ thành ba hoa, khoa trương, như thế người ta khó tin cậy mình. Như vậy mục đích tham gia bàn luận công việc chính sự cũng không thể đạt được.
Nhường là khiêm tốn, nhường nhịn. Muốn tham gia bàn luận công việc chính sự thì không thể theo kiểu ngồi trên cao chỉ tay xuống, không thể trực tiếp nói thẳng, càng không thể một lúc thao thao bất tuyệt, phô trương hết nhuệ khí, tài thao lược của mình, hoặc ngang nghạnh chỉ huy cho rằng không có mình là không xong việc; mà phải khiêm tốn, nhường nhịn, thành khẩn, tâm tư bình tĩnh, không nôn nóng, vội vàng, với tinh thần cùng mưu đại nghiệp, mới có tác dụng, có hiệu quả để đối phương chủ động mời mình tham gia vào công việc chính sự.
11. Khổng Tử nói: "Khi người cha còn sống thì quan sát chí hướng của người con, khi người cha chết thì quan sát hành vi của người con. Nếu ba năm sau khi cha mất, người con không thay đổi những quy tắc của đạo làm con đối với cha, như vậy được gọi là người con có hiếu vậy".
Lời bình
Xã hội tông pháp cổ đại đề xướng bề tôi phải trung với vua, con phải hiếu với cha mẹ. Khi tuyển dụng đề bạt nhân tài hay quan lại, người xưa đều rất coi trọng tiêu chuẩn hiếu và liêm chính. Người như vậy thường là bề tôi trung với vua. Cho nên xã hội cổ đại đặc biệt tôn trọng người có hiếu. Điều đó được thể hiện khi cha mẹ còn sống, người con không có quyền quyết định, nhưng có thể bộc lộ chí hướng của mình. Khi cha mẹ mất, người ta có thể thấy rõ nết cư xử của người con có giữ được đạo hiếu đối với cha mẹ đã chết hay không. Nếu người con không giữ vững mà dám thay đổi những quy tắc, quy phạm của xã hội đương thời quy định, thì việc làm dù thiện cũng không thể gọi là người có hiếu. Do đó có thể biết, người cổ đại chọn trung thần từ người có hiếu cũng có đạo lý riêng.
12. Hữu Tử nói: "Tác dụng của lễ đạt được sự thống nhất, hài hòa mới là đáng quý. Phương pháp trị nước của những bậc vua hiền thời cổ đại có đúng đắn là ở chỗ này: việc lớn việc nhỏ đều tuân thủ nguyên tắc hài hòa. Nhưng có điều không nên làm: chỉ biết hài hòa là quý, rồi trong mọi việc chỉ biết hài hòa, không lấy lễ nghĩa để tiết chế thì làm việc gì cũng không xong".
Lời bình
Ở đây Hữu Tử nêu lên tác dụng giáo hóa của lễ là ở chỗ khiến cho các mối quan hệ trong xã hội được thống nhất hài hòa, đạt mục đích thiên hạ ổn định, bốn phương yên bình.
Những thánh nhân cổ đại có được nhân dân suy tôn là ở chỗ làm việc gì đều lấy duy trì sự thống nhất hài hòa trong xã hội làm mục đích cao nhất. Xã hội thống nhất hài hòa, chính trị thông suốt, nước nhà ổn định, nhân dân đoàn kết đồng tâm cùng nhau sống hòa mục, hiệp lực khắc phục khó khăn để phát triển sản xuất là nguyên tắc cao nhất.
Nhưng hài hòa không thể đi theo một chiều. Bởi vì, lễ mà nghiêm quá thì khô khan và dễ chia lìa, nên lấy hòa làm quý. Nhưng nếu chỉ hòa thôi thì lễ lại mất nghiêm. Theo mức trung thì lấy nghiêm mà rộng rãi, hòa mà chừng mực là tốt nhất. Khi mặt nào đó mất cân đối, không hài hòa, vẫn phải dùng lễ nghĩa để tiết chế giáo hóa, phát huy tác dụng của giáo dục, công năng của cảm hóa, công năng của lãnh đạo, hướng dẫn, chỉ đạo, từng bước khiến cho xã hội đạt đến hài hòa. Không có giáo hóa của lễ nghĩa, không có sự thống nhất tư tưởng, không có văn minh tinh thần, thì không thể thống nhất hài hòa được.
13. Hữu Tử nói: "Giữ được chữ tín là đã tiếp cận với nghĩa, có như vậy lời hứa mới thực hiện được. Giữ được cung kính là đã tiếp cận với lễ, có như vậy mới tránh xa được điều sỉ nhục. Người đáng tin cậy là người mình có thể thân cận được. Được như vậy, sự nghiệp của mình thật sự có chỗ dựa vững chắc".
Lời bình
Đoạn này Hữu Tử nói về ba yếu tố cần có để sự nghiệp thành công:
Giữ chữ tín: Vì chữ tín phù hợp với lễ nghĩa, mà phù hợp với lễ nghĩa thì lời nói nhất định có tác dụng, có hiệu quả.
Phải cung kính tôn trọng người: Trong khi xử sự với người mà biết tôn trọng người thì sẽ không mang lại điều nhục nhã.
Dùng người phải đáng tin cậy: Dùng những người một lòng một dạ với mình, không dùng kẻ hai lòng.
Làm được ba điều đó thì sự nghiệp nhất định thành công. Còn nếu cẩu thả ba điều đó, sẽ phải hối hận nhiều.
14. Khổng Tử nói: "Người quân tử có chí học đạo, không theo đuổi việc ăn uống no say, không cầu ở thật thoải mái và sống cuộc đời an nhàn, làm việc với tinh thần mẫn cán, lời nói hết sức cẩn thận, luôn gần gũi người có đức để không ngừng sửa chữa khuyết điểm của mình. Làm được như vậy, có thể nói là người ham học và học đạt kết quả tốt".
Lời bình
Khổng Tử giải thích thế nào là người có đạo đức, người quân tử. Ông nêu ra năm điều, nếu ai làm được năm điều này thì xem như đã trở thành người có đạo đức, người quân tử. Năm điều đó là:
Không theo đuổi việc ăn uống no say: Đây là một tiêu chuẩn quan trọng để đo lường đạo đức của người quân tử. Nếu quá coi trọng ăn uống, đặt tiêu chuẩn ăn uống quá cao, những con người như vậy thường là không có chí khí, không có tiền đồ.
Không cầu ở thật thoải mái, sống cuộc đời an nhàn: Cuộc sống quá an nhàn sẽ không có chí khí phấn đấu, mà sẽ nuôi dưỡng tư tưởng cầu an, hưởng thụ, đẻ ra thư sinh yếu đuối, trái với đạo quân tử. Đây là tư tưởng nhất quán của Nho gia.
Làm việc phải mẫn cán: Cuộc sống đời người có hạn, thế sự lại vô cùng. Phải tranh thủ thời gian làm việc cho đời, làm việc có ích cho dân, cho nước. Lúc đó cuộc sống của con người ta mới thực sự có ý nghĩa.
Lời nói phải hết sức cẩn thận: Lời nói là công cụ giao lưu tư tưởng, diễn đạt tình cảm. Một lời nói hay thì làm ấm lòng người. Một lời nói đúng thì làm sáng lòng người. Một lời nói sai thì làm băng giá lòng người. Lời nói có thể dẫn đến mọi người hợp tác đoàn kết cùng chung sức phấn đấu, nhưng cũng có thể làm tan đàn sẻ nghé, tan tác phân ly, ai sống mặc ai không quan tâm, hơn thế còn gây nên thù hận tương tàn. Một lời có thể dựng nên sự nghiệp, một lời có thể làm tan một quốc gia. Thế mới biết việc giao lưu ngôn ngữ giữa mọi người với nhau cần có thái độ thận trọng biết chừng nào! Phàm những người học theo đạo quân tử đều cảm nhận được "lời nói phải hết sức cẩn thận" là một yêu cầu vô cùng quan trọng trong cuộc sống đời thường cũng như trong đời sống chính trị.
Gần gũi người có đức: Gần gũi và học tập người có đạo đức để không ngừng bổ sung điều chưa đủ của mình, sửa chữa sai lầm của mình; chỉnh hướng đi đúng đạo, để dần dần đắc đạo trở thành người có đạo đức, người quân tử.
Trong việc học, nếu làm được năm điều ấy thì có thể coi là đã dốc chí và ra sức thực hành rồi. Thế mới gọi là ham học.
15. Tử Cống hỏi: "Nghèo hèn mà không nịnh bợ người, giàu có mà không kiêu căng khinh miệt người, như vậy đã được chưa?".
Khổng Tử nói: "Có thể được, nhưng không bằng nghèo hèn mà vẫn lạc quan, giàu có mà lại chuộng lễ nghĩa".
Tử Cống hỏi: "Trong Kinh Thi có câu: "Giống như đối với xương, với sừng, với ngà voi, với ngọc thạch phải mài dũa nó, cắt gọt chạm trổ nó". Câu ấy có phải có ý như vậy không?".
Khổng Tử nói: "Đáng khen thay! Bây giờ ta có thể cùng bàn luận với ngươi về Kinh Thi rồi, bởi vì mới bảo cho ngươi biết chuyện quá khứ mà ngươi có thể đoán biết được chuyện tương lai rồi".
Lời bình
Đây là đoạn Khổng Tử và học trò là Tử Cống bàn luận về trau chuốt, mài dũa nhân cách.
Tử Cống cho rằng khi một người lâm vào thế bần cùng thì chỉ cần không nịnh bợ quỳ gối, một người giàu sang phú quý mà không kiêu ngạo, không khinh miệt người là được rồi. Đây là tiêu chuẩn nhân cách của Tử Cống đề ra.
Khổng Tử đề ra tiêu chuẩn nhân cách cao hơn. Khổng Tử cho rằng làm người trong xã hội, dù nghèo cũng phải có khí tiết, có ước mơ, lạc quan, phải phấn đấu để cho không còn nghèo nữa. Ở trong bất kỳ tình trạng nghèo hèn nào, cũng không để mất đi ý chí, tinh thần lạc quan và nhân cách. Giàu có rồi, phú quý vinh hoa rồi cũng không nên thỏa mãn với đời sống vật chất, mà nên tiếp tục bồi dưỡng đời sống tinh thần ngày một cao hơn, yêu quý tôn trọng thực hành lễ nghĩa, chú trọng văn minh tinh thần. Nếu làm được như vậy sẽ đạt nhân cách cao hơn.
Trong bàn luận, Tử Cống nêu ra yêu cầu nhân cách cá nhân, Khổng Tử thừa nhận và tiến thêm một bước, mở rộng cho Tử Cống hiểu được yêu cầu cao hơn về nhân cách cá nhân. Đây cũng ví như sự cắt gọt, mài dũa để chạm trổ tác phẩm mỹ thuật trên sừng, trên xương, trên ngà voi, trên ngọc thạch, làm cho phẩm đức ngày càng hoàn thiện.
16. Khổng Tử nói: "Không sợ người không hiểu ta mà chỉ sợ ta không hiểu người".
Lời bình
Trong đoạn đầu của phần này có câu: "Người không hiểu ta, ta vẫn bình thản, không lo sợ hoảng hốt, không giận dữ ai, như vậy không phải là người quân tử ư?". Còn câu: "Không sợ người không hiểu ta mà chỉ sợ ta không hiểu người" là câu cuối cùng của phần này, bổ sung thêm một ý: chỉ sợ mình không hiểu người. Không hiểu sở trường của người khác thì không thể biết được điều cần để học tập người. Không hiểu sở đoản của người khác sẽ không biết được điều cần để giữ mình. Không hiểu người sẽ không biết dùng người, sẽ xảy ra sai sót làm hỏng việc. Đây là điều đáng sợ nhất.
— Tứ Thư.
