Bài tổng quan
Luận Ngữ – Lý Nhân: Sống Gần Điều Nhân, Nghĩa Lợi Và Đạo Một Mà Suốt
Đức nhân được Lý Nhân soi qua những câu ngắn, mỗi câu là một châm ngôn có thể đứng riêng. Người không có đức nhân thì không ở lâu được trong cảnh nghèo, cũng không ở lâu được trong cảnh sướng, trong khi chỉ người nhân mới biết yêu người và ghét người cho đúng. Giàu sang ai cũng muốn, nhưng không được bằng đạo thì không nhận; sáng nghe được đạo, chiều chết cũng cam. Câu nổi tiếng về đạo "một mà suốt" được Tăng Tử giải thích bằng hai chữ trung và thứ, kéo theo phép phân biệt quân tử hiểu nghĩa, tiểu nhân hiểu lợi. Mạch bàn sau đó trở về đạo thờ cha mẹ, lời nói chậm việc làm nhanh. Câu đức không cô độc lại là lời an ủi cho những ai sống tử tế mà thấy mình lẻ loi.
Tiết 1–9: Chọn nơi có nhân, sáng nghe đạo chiều chết cũng cam
1. Khổng Tử nói: "Cư trú ở nơi có nhân đức mới tốt. Chọn nơi không có nhân đức để ở, làm sao có thể nói là người có đức trí được?".
Lời bình
Bàn về ảnh hưởng tốt xấu của môi trường đối với con người, Khổng Tử nói rằng: "Muốn làm người quân tử có nhân có đức cần phải chọn môi trường có bầu không khí nhân đức". Môi trường ảnh hưởng đến con người, có tác dụng đào tạo cải biến con người. Nơi ở tốt là nơi có phong tục tập quán làm điều nhân. Ở trong bầu không khí nhân đức, người ta sẽ được truyền cảm, tiếp thụ được điều nhân đức, nhân đức được bồi dưỡng sẽ trở thành người có nhân đức.
2. Khổng Tử nói: "Người không có đức nhân, không thể ở lâu trong cảnh cùng khốn, cũng không thể ở mãi trong môi trường an nhàn sung sướng. Người có đức nhân luôn luôn yên tâm làm điều nhân. Người có đức trí ham muốn làm được điều nhân".
Lời bình
Ở đây Khổng Tử luận về điều nhân. Theo Khổng Tử, người bất nhân không thể mãi mãi giữ đúng được lòng mình, lời hứa của mình, khi gặp cảnh khốn cùng không thể chịu đựng lâu dài. Bởi vì kẻ bất nhân gặp cảnh bần cùng lâu dài sẽ cảm thấy cùng đường, trở thành liều lĩnh, quên mất lời hay lễ phải, quên cả lễ nghĩa mà làm điều xằng bậy. Và dù cho kẻ bất nhân có ở trong hoàn cảnh sung sướng thì cũng không giữ mãi được như vậy, vì cuộc sống an nhàn có địa vị tôn quý, đời sống quá dư dật, trong óc lại không có chí lớn, không có việc gì làm, lâu dần say đắm rồi cũng biến thành kẻ phóng túng.
Người có đức nhân, lúc nào cũng giúp cho mọi người biết yêu người, yêu đời, lòng dạ luôn thanh thản; không kể ở đâu, lúc nào, làm việc gì cũng đều tự giác tôn trọng nguyên tắc của nhân. Đây gọi là người có đức nhân luôn yên tâm làm điều nhân.
Người có đức trí biết rất rõ làm điều nhân đức đưa lại cho mình nhiều điều tốt lành, đưa lại niềm vui tinh thần cuộc sống trở nên hòa thuận, thân ái, cho nên rất muốn làm được điều nhân. Người có đức trí, theo Khổng Tử là người có đức nhân hoặc hướng theo mục tiêu trở thành người có đức nhân.
3. Khổng Tử nói: "Chỉ có người có đức nhân mới có thể hay yêu người và hay ghét người".
Lời bình
Khổng Tử cho rằng nhất cử nhất động của người có đức nhân đều rất tự nhiên và rất phù hợp với nguyên tắc của nhân; yêu hay ghét đều dựa vào tiêu chuẩn đức nhân rất đúng đắn. Vì vậy, người có đức nhân mỗi khi gặp những trường hợp cụ thể đều căn cứ vào tiêu chuẩn của nhân thể hiện thái độ yêu ghét rất rõ ràng.
Người không có đức nhân thì tự thân cũng không có tiêu chuẩn để đánh giá; vui buồn, hờn giận, yêu ghét có hiện ra thì cũng rất phiến diện, sai lầm. Cho nên người không có đức nhân không thể biết là nên ghét hay nên yêu ai cho đúng; rất có thể ghét người tốt, yêu người xấu.
4. Khổng Tử nói: "Người lập chí thực hành điều nhân thì không thể làm được điều gì xấu".
Lời bình
Theo Khổng Tử thì đạo nhân toát ra tinh thần thực sự thương yêu người, lấy cống hiến cho đời làm niềm vui, là thăng hoa của linh hồn, là chuẩn tắc, mục tiêu cao nhất để làm người. Bất kể đối với ai, bất kể làm điều gì, có lòng nhân sẽ không bao giờ để xảy ra điều bất nhân. Làm điều gì đều có nhân, như vậy cả đời sẽ không bao giờ làm điều xấu.
5. Khổng Tử nói: "Giàu và sang, điều này ai cũng thích. Nếu không dùng phương pháp hợp đạo lý để giành được giàu sang, người quân tử không bao giờ làm. Nghèo và đề hèn, điều này ai cũng ghét. Nhưng nếu không dùng biện pháp hợp đạo lý để thoát khỏi nghèo hèn, người quân tử không bao giờ muốn. Người quân tử xa rời đạo nhân làm sao có thể xứng với danh được. Người quân tử không bao giờ xa rời đạo nhân, dù chỉ trong khoảng thời gian một bữa ăn. Dù cho ở hoàn cảnh bức bách khốn cùng, phải phiêu bạt nơi đất khách quê người, cũng không bao giờ xa rời đạo nhân".
Lời bình
Học thuyết của Khổng Tử là đạo nhân. Khổng Tử suy tôn nhất là đức nhân, cho rằng đức nhân là nguyên tắc cao nhất của lòng người. Ai mà chẳng thích giàu sang phú quý, nhưng nếu phải dùng phương pháp bất nhân để có được, thì người quân tử không bao giờ làm. Không ai thích bần tiện và nghèo hèn, nhưng nếu phải dùng phương pháp bất nhân để thoát khỏi nó, thì người quân tử không bao giờ làm. Người quân tử nhờ điều nhân mà có thanh danh, có vinh dự; xa rời nguyên tắc của đạo nhân thì không còn cách nào có được thanh danh. Người quân tử xem nhân là gốc của lập thân, là sinh mệnh của mình, không một phút nào xa rời nguyên tắc của nhân. Không chỉ riêng gì lúc bình thường trong cảnh lựa chọn giàu sang hay nghèo hèn, mà ngay cả lúc quẫn bách tan cửa nát nhà cũng hết sức mình giữ vững đạo nhân. Nhân và mạng sống của người quân tử tuy hai nhưng chỉ là một.
6. Khổng Tử nói: "Ta chưa thấy người thích điều nhân và ghét điều bất nhân. Người thích điều nhân là người coi điều nhân trên hết. Người biết ghét điều bất nhân, trong thực tế sẽ luôn làm điều nhân, không bao giờ chịu ảnh hưởng xấu của điều bất nhân. Có ai trọn ngày dốc toàn tâm toàn lực cho điều nhân chẳng? Ta chưa thấy người nào đạt đến nhân mà không tốn sức tốn công rèn dũa. Người không mất sức mà đạt đến nhân, đại khái cũng có thể có, nhưng ta chưa gặp bao giờ".
Lời bình
Khổng Tử tiếp tục bàn về đạo nhân. Nếu con người cảm nhận được điều nhân là điều đáng quý nhất, thì sẽ không giờ phút nào không theo đuổi làm điều nhân, tôn trọng điều nhân, yêu thích điều nhân. Nếu con người nhận thức được bất nhân có nguy hại lớn đối với bản thân mình, thì có thể kiên quyết loại trừ điều bất nhân.
Khổng Tử nói chưa gặp ai thật thích điều nhân mà còn biết ghét bất nhân. Đây là muốn nói do chưa có nhận thức sâu sắc đối với điều nhân, thích điều nhân phải ghét bất nhân. Làm điều nhân là tốt, nhưng phải biết chống kẻ làm điều bất nhân. Một con người muốn làm tốt điều nhân, từ tâm can cũng phải ghét điều bất nhân. Được như vậy mới không bị ảnh hưởng xấu của bất nhân.
Một con người không lúc nào không theo đuổi điều nhân, đây là vấn đề phẩm chất tư tưởng, ý thức tư tưởng, chứ không phải là vấn đề năng lực. Nhân là tiêu chuẩn đạo đức cao nhất. Chỉ có suốt ngày theo đuổi, nỗ lực không ngừng làm điều nhân, chống điều bất nhân, mới có thể dần dần đạt đến đạo nhân.
7. Khổng Tử nói: "Sai lầm mà người ta mắc phải có quan hệ đến loại người. Loại người như thế nào, thì sẽ phạm sai lầm như thế ấy. Xem sai lầm của một người đã phạm, có thể biết người đó có đức nhân hay không?".
Lời bình
Vật tụ lại theo loài, người phân theo quần thể. Một hạng người bao giờ cũng có đặc điểm giống nhau. Thuộc tính chung bao giờ cũng nằm trong cái biệt, tính cộng đồng bao giờ cũng có ở trong mỗi con người. Hiểu đặc trưng giống nhau của một hạng người, trên một chừng mực nào đó có thể hiểu được đặc trưng của một người thuộc hạng đó. Khổng Tử cho rằng sai lầm của một người thuộc hạng người nào đó thì cũng là sai lầm của hạng người đó. Trình Tử nói rõ thêm: "Lỗi của người ta thuộc về từng loại. Người quân tử thường có lỗi vì quá thận, kẻ tiểu nhân thường có lỗi vì khắc bạc. Người quân tử có lỗi vì yêu thương, kẻ tiểu nhân có lỗi vì nhẫn tâm".
Vì vậy, từ sai lầm của một người, có thể nhìn thấy người đó bất nhân ở điểm nào, ở điểm nào xa rời đạo nhân. Nhìn thấy sai lầm của một người có thể nhìn thấy sai lầm của hạng thuộc người ấy. Đây là phương pháp của Khổng Tử để quan sát, đánh giá con người.
8. Khổng Tử nói: "Buổi sáng biết được chân lý, thì dù cho buổi chiều có chết cũng cam tâm".
Lời bình
Câu nói của Khổng Tử đã trở thành danh ngôn trong lịch sử văn hóa Trung Quốc. Ông đã nêu ra mục tiêu cao nhất của mình. Vì sự nghiệp và lý tưởng đạo nhân, với tinh thần quên mình, Khổng Tử đã phấn đấu suốt cả một đời đi đến khắp mọi nơi để tìm cho ra chân lý đạo nhân. "Buổi sáng biết được chân lý, buổi chiều chết cũng cam tâm", câu ấy đã diễn đạt được tinh thần hy sinh vĩ đại của Khổng Tử trong sự nghiệp lập chí vì đạo nhân.
9. Khổng Tử nói: "Kẻ sĩ lập chí vì đạo nhân mà cảm thấy nhục nhã khi ăn đói, mặc rách, người như vậy không đáng để cùng bàn luận đạo nhân".
Lời bình
Theo Khổng Tử, một người lòng muốn tìm đạo nhân mà hổ thẹn vì đồ ăn, thức mặc không bằng người, thì sự hiểu biết thấp kém, sao đủ để cùng bàn đạo nhân. Vậy, kẻ sĩ trong cuộc sống phải cần kiệm đơn giản, không chạy theo thỏa mãn nhu cầu vật chất mới có thể lập nên đại nghiệp.
Người ta trong sinh hoạt, cuộc sống thua kém một tí đã kêu ca phàn nàn, không chịu nổi, thì làm sao có chí lập nghiệp được.
Con người sống cần phải có hoài bão và lý tưởng cao đẹp. Trong sự nghiệp nên so sánh và học tập người đạt cao hơn mình, như vậy mới trở thành kẻ sĩ chân chính.
Tiết 10–18: Quân tử hiểu nghĩa, tiểu nhân hiểu lợi, đạo một mà suốt
10. Khổng Tử nói: "Người quân tử đối với mọi việc trên thế gian, không nhất định phải làm việc này hoặc không nhất định không làm việc kia, mà xem việc đó có hợp nghĩa hay không, nếu hợp nghĩa là làm".
Lời bình
Ở đây Khổng Tử nêu ra khái niệm nghĩa. Mặc Tử cũng giảng về nghĩa. Ông coi nghĩa tức là chỉ lợi ích của nhân dân lao động, xem sự chiếm đoạt thành quả lao động của người sản xuất nhỏ là bất nghĩa. Mặc Tử bảo vệ lợi ích của nhân dân lao động, nên phản đối kẻ không làm mà có ăn, kẻ làm điều bất nghĩa mà có thu nhập.
Khổng Tử nêu ra khái niệm nhân, người có nhân lúc nào cũng yêu người. Cho nên khái niệm nghĩa của Khổng Tử nêu ra là nghĩa của tự bản thân mỗi người. Theo Khổng Tử rất khó quy định việc nào nên làm, việc nào không nên làm, và nên làm như thế nào, không nên làm như thế nào. Mấu chốt là xem việc ấy có nghĩa hay bất nghĩa; xem tâm tư của mình có chính hay bất chính. Nếu tâm tư chính đáng, và việc ấy đối với người khác có lợi mới nên làm. Tâm tư bất chính, và việc ấy đối với người khác không có lợi là không làm.
11. Khổng Tử nói: "Người quân tử quan tâm đến đạo đức, kẻ tiểu nhân khao khát ruộng vườn nhà cửa. Người quân tử quan tâm đến phép tắc, kẻ tiểu nhân cầu mong ân huệ".
Lời bình
Ở đây Khổng Tử, từ độ cao của đạo nhân bàn về sự khác nhau giữa người quân tử và kẻ tiểu nhân, sự khác nhau giữa người có đạo đức với người không có đạo đức. Người có đạo đức phấn đấu vì sự nghiệp cao cả, hết mình thực hiện đạo nhân, tôn trọng xây dựng những giá trị văn hóa tinh thần. Khát vọng của họ là đại nghiệp thành công, lễ nghĩa pháp luật hoàn thiện, vươn tới chân - thiện - mỹ. Người quân tử không ham thích đòi hỏi thỏa mãn của cải vật chất, ăn ngon mặc đẹp, mưu cầu lợi ích cá nhân. Còn người chỉ biết chạy theo cuộc sống vật chất tầm thường, theo đuổi ân huệ của người khác ban cho mình mà quên mất tu dưỡng đạo đức, xem nhẹ đời sống tinh thần thì sẽ trở thành con người vì lợi quên nghĩa, suốt đời sẽ không thành công trong sự nghiệp.
12. Khổng Tử nói: "Chỉ biết làm việc vì lợi ích của mình, nhất định sẽ chuốc lấy nhiều oán hận".
Lời bình
Khổng Tử nêu ra nguyên tắc quan trọng để giải quyết quan hệ giữa quyền lợi cá nhân mình với người khác. Một người chỉ biết làm việc vì lợi ích của mình, lúc nào, ở đâu cũng tìm mọi cách thu vén cho mình, không hề nghĩ đến lợi ích của người khác, thì sẽ bị cô lập, bị nhiều người oán. Mọi người xung quanh mình đều oán hận mình, xa lánh mình, thì sống mà xem như đã chết. Cho nên, khi làm điều gì đều phải tự chất vấn mình, nếu chỉ có lợi cho mình mà hại đến người thì dứt khoát không làm. Thế gọi là đạo quân tử vậy.
13. Khổng Tử nói: "Có thể dùng lễ nhượng để trị quốc không? Nếu được thì trị quốc còn khó khăn nào nữa không? Nếu không thể dùng lễ nhượng để lãnh đạo quản lý nhà nước, như vậy lễ còn có tác dụng gì?".
Lời bình
Tư tưởng nhất quán của Khổng Tử là nhân chính. Lễ nhượng trị quốc là một quan điểm quan trọng của Khổng Tử. Trong điều kiện chính quyền ổn định, xã hội yên ổn, quan hệ giữa vua và tôi, giữa trên và dưới, giữa các địa phương, giữa muôn dân trăm họ, nên lấy lễ để nhường nhịn, hiểu biết tôn trọng lẫn nhau, quan tâm giúp đỡ lẫn nhau, sẽ hình thành nên một xã hội hài hòa, thống nhất. Đây là tác dụng của lễ, cũng chính là lễ trị.
14. Khổng Tử nói: "Không sợ buồn vì không có chức vụ địa vị, chỉ buồn vì không có đức tài để làm tròn chức vụ địa vị ấy. Không sợ người khác không biết mình, mà phải cầu mong làm sao có năng lực làm cho người khác hiểu mình".
Lời bình
Con người ta không nên buồn vì không có địa vị trong xã hội, chỉ nên buồn vì không có năng lực để đứng vững chân trong xã hội. Đừng sợ người khác không hiểu mình, mà sợ mình không có bản lĩnh làm cho người khác hiểu mình. Chúng ta thường thấy ở một số người không chú ý đến tu dưỡng bản thân, bồi dưỡng mình để nâng cao năng lực của mình, mà chỉ biết oán người không hiểu mình.
Người không thể tự lập, nếu không có đề xuất gì, không có đạo đức, không có học vấn, không có tài cán, không có bản lĩnh, mọi người biết người ấy để làm gì? Mà có biết thì đặt người ấy ở vị trí nào được?
Cơ hội là để cho con người có sự chuẩn bị. Người không có đức có tài, dù cho có cơ hội, có người hiểu cũng không thể làm nổi trò trống gì.
Cho nên người ta trước hết phải trau dồi đức tài, biết đợi chờ cơ hội tốt để ra đảm trách cương vị, thi thố tài năng phụng sự đất nước. Đây không phải là đạo lý dễ hiểu ư?
15. Khổng Tử nói: "Trò Sâm! Đạo của ta quán xuyên một quan điểm cơ bản". Tăng Tử thưa: "Đúng vậy". Sau khi Khổng Tử đi ra, một học trò khác hỏi Tăng Tử: "Lời của thầy có ý tứ như thế nào?". Tăng Tử nói: "Đạo của thầy khái quát mà nói chỉ trung thứ mà thôi".
Lời bình
Học thuyết của Khổng Tử là đạo nhân. Toàn bộ hệ thống tư tưởng đạo nhân của Khổng Tử xuyên suốt một tư tưởng chỉ đạo là trung thứ.
Trung là trung thành với đạo với đức nhân, tức là việc gì cũng tận tâm tận trung, cái gì mình đạt rồi cũng muốn cho người khác đạt (kỷ dục đạt nhi đạt nhân). Thứ là suy từ lòng mình ra, ý muốn nói cái gì mình không muốn thì cũng đừng bắt người khác làm (kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân). Đạo của Khổng Tử là đạo nhân, tức là đạo trung thứ.
Học đạo thánh hiền phải nghiên cứu kỹ từng câu từng chữ của thánh nhân là cần thiết, nhưng không được thiên lệch. Mấu chốt là phải nắm vững đạo nhân, đạo trung thứ. Nắm chắc được điểm này xem như nắm được cốt lõi của nhân học.
16. Khổng Tử nói: "Người quân tử chỉ biết điều nghĩa, kẻ tiểu nhân chỉ biết điều lợi".
Lời bình
Ở đây Khổng Tử nêu ra một điểm khác nhau giữa người quân tử và kẻ tiểu nhân.
Nghĩa tức là lợi ích vì người khác, lợi ích vì dân tộc, xã hội và quốc gia. Lợi tức là tư lợi, lợi nhỏ của cá nhân. Nghĩa tức là nói lợi ích trong phạm vi lớn, lợi tức là nói về tư dục trong nhân tình thế thái. Người có đạo đức cao thượng, suốt đời phấn đấu cho sự thành công của sự nghiệp chung, lợi ích của tập thể. Người không có đạo đức chỉ biết đến lợi ích cá nhân, theo đuổi những dục vọng thấp hèn. Người quân tử làm việc bao giờ cũng thủy chung. Kẻ tiểu nhân thấy lợi là tranh giành nhau, hết lợi thì hết tình nghĩa.
Quan sát thái độ đối với nghĩa và lợi, sẽ phân biệt rõ người quân tử và kẻ tiểu nhân.
17. Khổng Tử nói: "Nhìn thấy người hiền tài liền nghĩ đến noi gương phấn đấu kịp bằng họ, nhìn thấy người chẳng hiền tài thì phải tự kiểm tra lại mình (xem mình có sai sót như người ấy không)".
Lời bình
Khổng Tử nêu ra phương pháp tu thân. Tu thân chẳng những là mục tiêu quan trọng, mà còn là quá trình không bao giờ ngừng nghỉ trong cuộc đời mỗi con người. Tu thân không phải vì người khác, không phải là từng đợt gián đoạn mà là lúc nào cũng phải nghĩ tới. Nhìn thấy người có đạo đức cao thượng, phải suy nghĩ tìm cách học tập, noi gương họ, xem đây như là động lực thúc đẩy mình. Nhìn thấy người khiếm khuyết về đạo đức, phải tự hỏi mình, đối chiếu, kiểm tra lại mình, đây cũng xem như mình nhắc nhở mình, cảnh giác mình, tự quất vào sai trái của mình.
Lúc nào cũng tu luyện đạo đức, sẽ không xa đạo và dần dần sẽ đắc đạo, ngộ đạo.
18. Khổng Tử nói: "Phụng dưỡng cha mẹ phải nhẹ nhàng khuyên giải, can ngăn. Nếu cha mẹ không chịu nghe thì vẫn phải cung kính, không được trái ý nguyện của cha mẹ, đừng để cha mẹ bận tâm gây nên oán hận".
Lời bình
Ở đây Khổng Tử giảng về đạo hiếu. Câu này với câu "điều khó nhất đối với cha mẹ là có giữ được vẻ hòa vui hay không" đã nói ở phần Vi Chính là hoàn toàn giống nhau. Phụng dưỡng cha mẹ cái gì là khó nhất? Cho ăn cho uống không khó, làm việc thay cho cha mẹ không khó, dưỡng lão rồi lo việc mai táng không khó, khó nhất là giữ được nét mặt hòa vui trước cha mẹ, nhẹ nhàng khuyên giải, can ngăn cha mẹ.
Khổng Tử không cho rằng cái gì cha mẹ cũng đúng cả. Làm cha mẹ cũng có cái không đúng, có điều không hợp thời. Đối với điều chưa đầy đủ của cha mẹ, kẻ làm con không phải là không được có ý kiến, mà có thể khuyên giải can gián. Nhưng lời khuyên giải can gián này nên nhẫn nại nhẹ nhàng, giữ được nét mặt vui tươi. Làm được như vậy mới xem là có hiếu.
Tiết 19–26: Thờ cha mẹ, nói chậm làm nhanh, đức không cô độc
19. Khổng Tử nói: "Cha mẹ già còn sống, không được đi chơi xa, nếu có đi phải nói rõ nơi nào cụ thể".
20. Khổng Tử nói: "Ba năm không thay đổi truyền thống, quy phạm, quy tắc đối xử với cha mẹ, có thể xem là đã có hiếu".
21. Khổng Tử nói: "Tuổi tác của cha mẹ, không thể không nhớ kỹ ở trong lòng. Một là vì cha mẹ trường thọ mà vui mừng, hai là biết lo toan chuẩn bị hậu sự khi cha mẹ về già".
Lời bình
Ba câu này đều giảng về đạo hiếu, ý tứ rõ ràng không cần bình luận thêm. Chỉ nói rõ hai ý: Cha mẹ già yếu không nên đi xa là sợ cha mẹ ở nhà lo lắng, ăn không ngon ngủ không yên, có xảy ra chuyện gì không có ai lo toan. Nhớ kỹ tuổi cha mẹ là vì thông thường người tuổi quá bảy mươi, sống một năm không bằng một năm. Tuổi quá tám mươi thì một tháng không bằng một tháng. Tuổi quá chín mươi, một ngày không bằng một ngày. Cho nên làm người con không thể không biết mà chú ý lo toan kịp thời.
22. Khổng Tử nói: "Người xưa không để khinh suất khi nói ra, bởi sợ xấu hổ vì không thực hiện được lời mình đã nói".
Lời bình
Khổng Tử cho rằng con người đừng vội nhẹ dạ nói ra. Bởi vì người trọng danh dự đã nói là phải làm được, đã hứa với ai điều gì phải toàn tâm toàn ý thực hiện cho bằng được. Người xưa rất cẩn thận, luôn sợ nói ra không thực hiện được.
23. Khổng Tử nói: "Người biết ràng buộc gìn giữ mình mà phạm sai lầm là rất ít thấy".
Lời bình
Ràng buộc đây là lấy nhân đức để ràng buộc mình, quy phạm mình, có như vậy mới ít phạm sai lầm, không vi phạm điều nhân. Một người có đạo đức, nên tự giác tiếp thu sự giám sát của quần chúng nhân dân, xem đấy như một việc không thể thiếu được để giúp mình tránh được sai lầm. Không có gì ràng buộc mình, tự do phóng túng muốn làm gì thì làm, nhất định sẽ dẫn đến phạm sai lầm.
24. Khổng Tử nói: "Người quân tử nói năng phải chậm rãi, thận trọng; làm việc phải siêng năng, nhanh nhẹn".
Lời bình
Câu này đã nói ở phần trước, Khổng Tử nhấn mạnh giải quyết công việc cho người cần làm được hai điều: Nói năng phải suy nghĩ chín chắn, nói câu nào chắc câu đó, bởi vì nói ra thì dễ mà làm thì khó. Giải quyết công việc phải siêng năng nhanh nhẹn, có tính tích cực, có hiệu suất cao, bởi vì làm đã khó, mà làm đúng như đã nói thì lại càng khó hơn. Nói như vậy, để thực hiện được hai điều trên thật không dễ.
25. Khổng Tử nói: "Người có đạo đức không bao giờ bị cô lập, nhất định có bè bạn gần gũi thân thiết".
Lời bình
Một người có bạn bè hay không, có quan hệ tốt với người xung quanh hay không, mấu chốt ở chỗ có hay không có quan niệm đạo đức. Chúng ta thường thấy có người sống rất cô độc, không hợp với ai cả, nhưng cũng không bao giờ tự hỏi mình vì sao, không tự kiểm điểm hành vi đạo đức của mình. Người có đạo đức, có nhân cách cao thượng, không bao giờ bị cô lập, nhất định có nhiều bạn bè ở khắp nơi.
26. Tử Du nói: "Phụng thờ vua, nếu chỉ biết luôn luôn can gián vua thì sẽ chuốc lấy nhục nhã. Đối đãi với bè bạn, nếu cứ luôn luôn góp ý kiến cho bạn thì bạn sẽ xa mình".
Lời bình
Khổng Tử xử sự rất thực tế, rất có tình người. Câu nói của Tử Du được Khổng Tử chấp nhận, trở thành đại biểu cho quan điểm của Khổng Tử.
Con người ta không thể đánh giá người quá thấp, nghe một câu nói không đúng là chì chiết giảng đạo lý, thậm chí là không cùng chơi bời với nhau. Con người ta không thể đánh giá người quá cao, cho rằng họ nói gì cũng đúng, có thể mãi mãi chơi bời với nhau không thể xa nhau được.
Làm bề tôi thì chức phận can gián vua là cần thiết, nhưng nếu không xét đến hoàn cảnh, xét đến những điều đáng khuyên can, mà vấn đề gì cũng can gián, chỗ nào cũng đưa ra góp ý kiến của mình, cố chấp, đơn độc thì nhất định gặp phải tai họa. Góp ý cho bạn bè với sự chân thành là điều đáng quý, nhưng nếu một khi nhấn mạnh ý kiến của mình, cưỡng ép bạn bè, can thiệp thô bạo vào ý nghĩ riêng tư của bạn thì tất sẽ dẫn đến sự xa nhau.
Làm bề tôi cũng vậy, làm bạn bè cũng vậy, phải biết lời nào đáng nói, lời nào không đáng nói, nói đến mức độ nào. Bởi vì, phàm nói nhiều thì lời nói không quý mà người nghe cũng chán. Người ta nên nắm được điều đó, nhưng thực hiện thật không dễ dàng.
— Tứ Thư.
