Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Khuyên Thiện

Bài tổng quan

Sơn hải kinh, họ người Trung Hoa và mười hai con giáp

Đạo Học - Khuyên Thiện01/10/202614 phút đọc2 lượt đọc
Sơn hải kinh, họ người Trung Hoa và mười hai con giáp

Một người mẹ bỏ đứa con mới sinh ngoài ngõ hẹp, nhưng trâu ngựa đi qua đều tránh, rồi chim bay đến dang cánh che cho nó. Từ những câu chuyện như thế, cả họ của một người ngày nay cũng có thể dẫn về một con vật xa xưa...


Cây ý dĩ của nhà Hạ

Giữa những con vật đủ loại, có một hạt cây nhỏ cũng được coi là tổ tiên.

Tác giả cho biết thời cổ đại sùng bái thực vật cũng rất thịnh hành. Nhà Hạ đặc biệt sùng bái cây ý dĩ, tức hạt bo bo, đến mức người ta tin rằng mẹ của Hạ Vũ đã nuốt hạt ý dĩ mà sinh ra ông, và người Hạ lấy họ Tự cũng bởi cây ý dĩ. Ông dẫn nhiều nguồn: có sách chép mẹ Vũ nuốt ngọc mà sinh ông, Luận hành, thiên Kỳ quái, chép mẹ Vũ nuốt ý dĩ nên họ của người Hạ là Tự, và Sử ký, phần Hạ bản kỷ, chép vợ Cổn nuốt viên ngọc thần ý dĩ mà sinh Vũ.

Ý dĩ là tên một vị thuốc Đông y, có ghi trong Thần nông bản thảo kinh và Bản thảo cương mục của Lý Thời Trân. Đó là một loài cây dại sống ở vùng đồng cỏ, nhân hạt gọi là nhân ý dĩ, có tác dụng bổ tỳ phế nên được tôn sùng, còn bản thân hạt không có tác dụng thúc đẩy việc sinh sản. Theo khảo chứng của Tôn Tác Vân, việc nhà Hạ sùng bái cây ý dĩ là ví dụ điển hình của sùng bái thực vật ở Trung Quốc.

Sơn hải kinh: bộ sách chép biểu tượng của nhiều thị tộc

Một cuốn sách địa lý lại trở thành kho lưu giữ những gương mặt nửa người nửa thú.

Tác giả nhận xét Sơn hải kinh là bộ sách địa lý nổi tiếng của Trung Quốc, nhưng thực ra còn là cuốn sách tổng hợp về lịch sử, văn hóa, văn học, thần thoại, phong tục, y học. Sách ra đời từ thời Chiến Quốc, không rõ tác giả. Căn cứ đặc điểm các tác phẩm lớn thời cổ, ông cho rằng sách không do một người ở một thời viết ra. Phần lớn nội dung được viết từ thời Chiến Quốc, và bản còn lưu đến nay là bản có Quách Phác đời Tấn chú giải. Sách gồm hai phần lớn là Sơn kinh và Hải kinh, tổng cộng mười tám bài, là tài liệu tham khảo quan trọng cho việc nghiên cứu lịch sử văn hóa Trung Quốc.

Giá trị nổi bật của sách theo ông là ở phần ghi chép biểu tượng thời cổ. Những truyện thần thoại trong sách lên đến hàng trăm, ghi lại rất nhiều biểu tượng như rồng, rắn, rùa, cá, phượng, gấu, hổ. Ngoài ra còn nhiều vật có hình dạng quái lạ nửa người nửa thú. Ông cho đó có thể là giai đoạn thứ hai của sùng bái biểu tượng, tức giai đoạn biểu tượng nửa người nửa thú, tượng trưng cho sự sùng bái đã được nhân cách hóa. Ví dụ: ngoài biển Tây Bắc có vị thần đầu người mình rắn, màu đỏ, thân dài nghìn dặm, mắt nhìn thẳng, không ăn, không thở, không ngủ, mưa gió đều dừng, gọi là Chúc Long, theo phần Đại hoang bắc kinh. Phần Tây sơn kinh nói ở núi Trúc có nhiều người cá. Phần Bắc sơn kinh kể về những vật mình ngựa đầu người, và một con thú ở núi Thiếu Vũ hình dạng như trâu, mặt người, mắt đỏ, chân ngựa, giọng như trẻ con, ăn thịt người. Sách cũng nhắc rùa ba chân ở núi Đại Khổ.

Sơn hải kinh còn ghi sự sùng bái bầu trời và mối quan hệ huyết duyên giữa sùng bái biểu tượng với nguồn gốc thị tộc. Chẳng hạn chuyện Hoàng Đế sinh Lạc Minh, Lạc Minh sinh bạch mã, bạch mã chính là Cổn. Truyền thuyết kể thời nhà Hạ có nạn hồng thủy, thủ lĩnh nhà Hạ là Cổn chưa được lệnh của thiên đế đã lấy trộm tức nhưỡng, một loại đất có thể ngăn lũ, để đắp đê. Thượng đế tức giận, lệnh cho Chúc Dung, thần lửa, giết Cổn ở núi Vũ. Ba năm sau xác Cổn vẫn không thối rữa mà sinh ra Vũ, thủ lĩnh tộc Hạ, và về sau Thượng đế sai Vũ trị hồng thủy ở Cửu Châu. Thiên vấn của Khuất Nguyên cũng nhắc chuyện giữa Cổn và Vũ. Theo tác giả, Sơn hải kinh đã gom được nhiều tín ngưỡng biểu tượng của các thị tộc cổ và ghi lại những chuyện lịch sử liên quan đến biểu tượng, nên là một trong những bộ sách quan trọng để nghiên cứu văn hóa biểu tượng và lịch sử thời cổ.

Thủ lĩnh thị tộc và những lần cảm ứng kỳ lạ

Hầu như vị vua nào của thời xa xưa cũng có một câu chuyện về lúc mình chào đời, và câu chuyện ấy thường bắt đầu bằng một dấu hiệu từ trời hoặc từ vật thiêng.

Tác giả viết rằng biểu tượng cổ đại không chỉ ảnh hưởng sâu sắc đến văn hóa mà còn đến lịch sử Trung Quốc, liên quan mật thiết tới văn hóa văn nghệ, và hun đúc khí chất tinh thần của dân tộc. Ngay cả đến thế kỷ hai mươi, tín ngưỡng biểu tượng vẫn phản ánh linh hồn dân tộc, cho thấy tiềm lực vô hình của nó rất lớn.

Về nguồn gốc thị tộc, theo sử sách cổ, nguồn gốc các thị tộc Trung Quốc và biểu tượng động vật gắn rất chặt với nhau, và người ta xem thủ lĩnh thị tộc là hóa thân của biểu tượng. Việc thủ lĩnh sinh ra do cảm ứng với sao hay với động vật phản ánh địa vị của tín ngưỡng biểu tượng thời cổ. Phục Hy sinh ra do Hoa Tư dẫm phải vết chân người khổng lồ. Hoàng Phủ Mật, trong Đế vương thế kỷ, kể Thái Hạo, họ Bào Hy, mẹ họ Khương tên Hoa Tư, đời Toại Nhân thấy vết chân người khổng lồ ở Lôi Trạch, dẫm vào mà có thai sinh Phục Hy.

Viêm Đế theo một thuyết do Phục Hy và Nữ Oa, vị nữ thần đầu người mình rắn, sinh ra. Đế vương thế kỷ lại chép rằng Viêm Đế sinh từ Thần Nông và Nữ Đăng: Nữ Đăng là con gái họ Kiều, vợ chính của Thiếu Điển, đi qua vùng Hoa Sơn gặp Thần Nông mà sinh Viêm Đế. Hoàng Đế sinh từ Phụ Bảo và sao Bắc Đẩu: Phụ Bảo thấy ánh sáng chói lòa quấn quanh sao Bắc Đẩu rồi có thai, sinh Hoàng Đế ở Thọ Kỳ, lớn lên ở Cơ Thủy nên lấy họ Cơ, có tướng quý, nối ngôi nước Hùng Thị ở vùng Hiên Viên. Truyền rằng vua Nghiêu sinh ứng với con rồng đỏ ở Khánh Đô, vua Thuấn sinh ra vì mẹ trèo lên cao thấy cầu vồng, vua Vũ sinh ra do vợ Cổn mơ thấy sao rơi rồi nuốt hạt ý dĩ thần.

Với nhà Chu, tổ là Hậu Tắc, tên Khí. Mẹ là Khương Nguyên, nguyên phi của Đế Cốc, đi dạo ngoài bãi cỏ thấy vết chân người khổng lồ, dẫm vào, có thai rồi sinh Khí. Coi đó là điềm chẳng lành, bà bỏ đứa bé ngoài ngõ hẹp, nhưng trâu ngựa đi qua đều tránh không dẫm. Đem đặt giữa rừng thì gặp lúc có nhiều người qua lại. Đem đặt trên băng ở ngòi nước thì chim bay qua lấy cánh che cho. Khương Nguyên thấy tướng lạ, bèn đem về nuôi và đặt tên là Khí.

Họ của người Trung Hoa và mười hai con giáp

Ngay cả cái tên mà mỗi người mang trong giấy tờ hôm nay cũng có thể dẫn về một con vật hay một dòng nước ngày xưa.

Tác giả cho rằng họ của người Trung Quốc cũng có nguồn gốc liên quan đến việc sùng bái biểu tượng, vì họ là dấu hiệu của một tộc người. Có những họ tượng trưng cho động vật như Dương, Long, Ngư, Ngưu, Mã, Phượng. Có những họ mang nguồn gốc biểu tượng tự nhiên như Thủy, Kim, Giang, Điền, Thạch, Tỉnh, Khưu, Sơn, Cốc. Có họ liên quan đến thực vật như Mai, Liễu, và có họ liên quan đến kiến trúc cổ như Chung, Xa, Cung. Sách còn có một phụ lục liệt kê họ của người Trung Quốc.

Về mười hai con giáp, ông nói đây là một hiện tượng văn hóa có nguồn gốc từ sùng bái biểu tượng, và lịch sử tín ngưỡng ấy đã có từ rất lâu. Mỗi người từ khi sinh ra đã vô hình chung có mối liên hệ với mười hai con giáp, và mối liên hệ ấy theo suốt đời. Con người căn cứ vào con giáp của mình mà chọn lựa và bổ sung cho nhau, một bản năng tự nhiên và rất thú vị. Việc ai cầm tinh con gì là ngẫu nhiên, vì mười hai con giáp ứng với mười hai địa chi, cứ mười hai năm lặp lại, và theo chu kỳ can chi sáu mươi năm. Tý là chuột, Sửu là trâu, Dần là hổ, Mão là thỏ, Thìn là rồng, Tỵ là rắn, Ngọ là ngựa, Mùi là dê, Thân là khỉ, Dậu là gà, Tuất là chó, Hợi là lợn.

Hầu hết các con vật này từng là biểu tượng được sùng bái thời cổ. Ngay con chuột mà người đời vốn ghét, ở nhiều nơi lại là thực phẩm chính, và người ta còn khâm phục khả năng đào hang, nhanh nhạy của nó. Người tuổi trâu, dê, thỏ do ảnh hưởng của biểu tượng nên thường liên hệ với tính mềm mỏng nhẫn nại của con vật, còn người tuổi rồng, hổ, ngựa thường tự thấy mình có khí chất cương cường mạnh mẽ. Ông xem đó là bằng chứng tín ngưỡng biểu tượng gắn chặt với mười hai con giáp.

Biểu tượng trong nghệ thuật và văn học

Từ điệu múa đến câu thành ngữ, con vật thiêng đi vào mọi ngóc ngách của đời sống.

Tác giả viết rằng tín ngưỡng biểu tượng ảnh hưởng sâu sắc đến âm nhạc, vũ đạo, mỹ thuật, hội họa, điêu khắc và thư pháp. Về múa có múa rồng hào hùng, múa rắn yểu điệu, múa công uốn lượn, múa ngựa như hàng vạn con ngựa phi, múa thỏ trắng hoạt bát đáng yêu, múa sư tử hùng tráng, múa thiên nga đẹp, và điệu múa tìm bạn mang ý nghĩa sùng bái sự sinh sôi. Về mỹ thuật có tranh rồng muôn nghìn tư thế, tranh phượng, và thư pháp rồng bay phượng múa. Văn hóa nghệ thuật biểu tượng, theo ông, là một bông hoa lạ trong nền văn nghệ Trung Quốc, có sức hút say đắm lòng người và sức sống bền bỉ.

Với văn học, ông cho rằng tín ngưỡng biểu tượng không chỉ làm phong phú nền văn học mà còn qua tác phẩm văn học ảnh hưởng đến phong thái, diện mạo và khí chất luân lý của người Trung Quốc. Khí chất rồng phượng dương cương tượng trưng cho khí chất người Trung Quốc, cho vẻ đẹp dịu dàng và sự may mắn. Rùa và rắn tượng trưng cho linh thiêng trường thọ, thuộc khí âm. Trâu ngựa tượng trưng cho sự khó nhọc cần cù, dê thỏ tượng trưng cho sự nhẫn nại, sư tử và hổ tượng trưng cho sự dũng mãnh. Sự thật thà chất phác của lợn, nhanh nhẹn của chuột, hiểu lòng người của chó và gà, hàng nghìn năm nay đã góp phần xây dựng khí chất dân tộc. Nhìn theo chiều ngược lại, sự độc ác của rắn, hung bạo của hổ, tham lam của lợn, hèn nhát của chuột, thấp hèn của chó gà thường được con người dùng làm gương để răn dạy.

Ông nhấn mạnh việc nhân cách hóa và thần thánh hóa biểu tượng trong văn học, như Tây du ký với Tôn Ngộ Không, Trư Bát Giới, những nhân vật được khắc họa sinh động bằng tính cách con người. Ngoài ra còn có những truyện sâu sắc như Diệp Công thích rồng. Văn học biểu tượng cũng sinh ra nhiều thành ngữ như rồng cuộn hổ ngồi, hùng sư mãnh hổ, sói chạy chuột trốn, hiền hòa như dê, ngựa không dừng vó, mắt nhìn như hổ đói, rồng cá lẫn lộn, rồng bay phượng múa, độc ác như rắn rết, ngựa dê thành bầy. Tóm lại, theo ông, văn học biểu tượng là một viên ngọc trong kho tàng văn học truyền thống, có tác dụng tích cực trong việc xây dựng luân lý, khí chất và phong thái tinh thần của dân tộc Trung Hoa.

Biểu tượng và tư tưởng: từ Hoàng Hà đến chim bằng của Trang Tử

Càng về cuối, người viết càng muốn cho thấy dòng chảy ấy không dừng lại ở tế lễ, mà ngấm vào cả cách người ta nghĩ về trời đất.

Tác giả nói biểu tượng là một hiện tượng văn hóa ảnh hưởng lớn đến cúng tế, lễ hội, nghi lễ, tôn giáo tín ngưỡng, kiến trúc, binh phù, ấn, cờ, phục trang, thậm chí cả việc đặt tên và hôn nhân. Văn hóa biểu tượng nối liền nhiều nền văn hóa muôn vẻ của Trung Quốc và có thể làm đầu mối liên kết cả một quốc gia, một dân tộc. Sông Hoàng Hà cùng con rồng đã thành biểu tượng hồn dân tộc, và hình gấu mèo của Á vận hội đã thành dấu hiệu của tình hữu nghị và may mắn. Ông giải thích rằng con người sống trong vũ trụ có quan hệ cộng sinh với các loài vật khác, nên việc có tình cảm đặc biệt với một vùng sông núi hay một loài động vật nào đó là rất tự nhiên.

Trong lịch sử, qua một thời gian khá dài, biểu tượng thậm chí còn chi phối ý thức tư tưởng của con người. Việc sùng bái sự sinh sôi quyết định họ của các thị tộc, và sự hữu hảo thân thiện giữa các thị tộc có tác dụng tích cực trong việc xây dựng và duy trì quan hệ giữa các thị tộc và bộ lạc cổ. Sùng bái tự nhiên cũng liên quan nhất định đến việc hình thành tôn giáo. Ông dẫn lời Ăng-ghen rằng biểu hiện sớm nhất của tôn giáo là phản ánh hiện tượng tự nhiên, sự thay đổi tiết lệnh và các hoạt động chúc mừng, và cuộc sống trong điều kiện tự nhiên nhất định của một bộ lạc hay dân tộc đều được phản ánh trong tôn giáo của họ.

Ông cho rằng Lão Tử và Trang Tử đều là tín đồ của thiên nhiên vũ trụ. Lão Tử viết ở chương hai mươi lăm:

Nhân pháp địa, địa pháp thiên, thiên pháp đạo, đạo pháp tự nhiên.

Chữ "phác" của Lão Tử, như ở các chương mười bảy và hai mươi tám, có nghĩa là trở về sự giản dị và chân thật, và tư tưởng "tự nhiên quan" ấy theo tác giả cũng gắn với việc sùng bái sông núi, mặt trời, trăng sao, thiên thể. Trong Tiêu dao du, Trang Tử tự ví mình với chim bằng, thể hiện sự ngưỡng mộ vô hạn với tự nhiên. Ở biển Bắc có con cá tên là Côn, hóa thành chim lớn gọi là Bằng. Khi chim bằng bay về Nam Hải, cánh vỗ nước dậy sóng ba nghìn dặm, nương theo gió lốc lên chín vạn dặm, ngự sáu khí, rong chơi nơi cùng tận, tự mình tiêu dao, không cần gì nữa. Theo ông, điều đó chứng tỏ tư tưởng sùng bái thiên nhiên có căn nguyên từ sùng bái biểu tượng.

Ông cũng cho rằng nhà Phật đặc biệt sùng bái sự sinh sôi, điều này cũng gắn với sùng bái biểu tượng. Thời xưa sinh sôi nòi giống nhiều khó khăn nên con người sùng bái cơ quan sinh sản, quan điểm này không chỉ tồn tại trong các thị tộc cổ mà còn thâm nhập vào tôn giáo và trở thành một tín ngưỡng. Về sau tín ngưỡng ấy được thăng hoa, không còn coi trọng chính bộ phận ấy mà dùng hình thức chính là thờ nữ thần. Sùng bái biểu tượng còn ảnh hưởng rất lớn đến các dân tộc thiểu số, nơi hiện vẫn lưu giữ ý thức biểu tượng sâu sắc và các con số liên quan đến thờ cúng, hôn nhân, kiêng kỵ.

Ông kết luận rằng văn hóa biểu tượng Trung Quốc có nguồn gốc lâu đời, phát triển sâu rộng, thâm căn cố đế hàng nghìn năm, là một bông hoa lạ trong văn hóa truyền thống, có ảnh hưởng sâu sắc đến tư tưởng văn hóa, phong tục, tín ngưỡng, luân lý đạo đức và văn học nghệ thuật Trung Quốc.

Nguồn: Kinh điển văn hóa 5000 năm Trung Hoa - Tập 1 (Dương Lực), thuật lại có lược bớt.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Khuyên Thiện