Bài tổng quan
Ai viết Chu Dịch, viết khi nào và nó gồm những gì
Người ta kể rằng một vị vua ngửa mặt nhìn trời, cúi xuống nhìn đất, rồi vạch ra tám quẻ đầu tiên. Nhưng khi lật lại từng lớp chú giải, câu hỏi ai thật sự cầm bút lại chẳng dễ trả lời...
Dịch học, dòng sông trí tuệ chảy suốt mấy nghìn năm
Có những cuốn sách càng bị thời gian thử thách lại càng sống lâu, như nước chảy qua đá mà không cạn.
Tác giả bắt đầu bằng nhận định rằng thứ quý nhất của nhân loại là trí tuệ, và Dịch học chính là dòng sông trí tuệ dài mấy nghìn năm của dân tộc Trung Hoa. Kinh Dịch giữ vai trò trung tâm trong nền văn hóa Trung Hoa. Nó là một tác phẩm lớn trong các bộ kinh điển, là đầu nguồn của văn hóa tư tưởng cổ đại và là tác phẩm có ảnh hưởng lớn nhất của Trung Hoa thời xưa.
Theo ông, Kinh Dịch là một công trình lớn tổng hợp nhiều tri thức về triết học, ảnh hưởng rất sâu đến cả khoa học xã hội lẫn khoa học tự nhiên. Trong hơn ba nghìn năm qua, ảnh hưởng văn hóa của nó lên truyền thống Trung Hoa được xem là lớn nhất, chưa có tác phẩm nào sánh được. Nó đi tiên phong về tư tưởng triết học cổ đại, là thủy tổ của văn hóa âm dương, là gốc rễ của văn hóa dự đoán và trắc nghiệm. Nó còn là tác phẩm kinh điển của Nho gia và là khởi nguyên của Bách gia chư tử.
Kinh Dịch không chỉ diễn giải về dịch lý mà đặc biệt còn bàn đến tượng số. Những tri thức tượng số ấy thấm vào rất nhiều lĩnh vực và ứng dụng rất linh nghiệm, điều hiếm có. Tác giả cho rằng đó chính là lý do vì sao không tác phẩm nào sánh kịp. Những cống hiến của Chu Dịch cho văn hóa Trung Hoa và thế giới thật không kể xiết. Ông ví nó như một dòng máu tươi mới, đem lại sức hấp dẫn kỳ lạ đến ngây ngất.
Ông còn nêu một chân lý của đời sống hiện đại: càng được nhiều người yêu mến, càng trải qua nhiều thử thách của thời gian thì tuổi thọ càng dài. Chu Dịch là biểu hiện của quy luật ấy, nên dù đã đi qua ba nghìn năm lịch sử, giá trị của nó vẫn không hề giảm.
Ai làm nên Chu Dịch, làm vào lúc nào
Một cuốn sách mà mỗi bậc thánh nhân đều được nhắc tên, nhưng chẳng ai chắc tay ai là người đặt bút.
Theo tác giả, phần chính của Kinh Dịch được hoàn thành vào thời Thương Chu, phần còn lại hoàn thành vào hậu kỳ Tây Chu. Bát quái hình thành từ thời Phục Hy. Dịch truyện được viết vào thời Khổng Tử, tức khoảng Xuân Thu Chiến Quốc. Quái từ và hào từ được biên soạn vào thời Chu Công. Sáu mươi bốn quẻ ra đời thời Văn Vương. Nhưng ông nhấn mạnh Chu Dịch không do một người viết, cũng không phải tác phẩm của một thời kỳ nhất định, mà là kết tinh trí tuệ của nhân dân Trung Hoa qua mấy nghìn năm lịch sử.
Hai bộ phận và bảy cánh
Chu Dịch gồm hai bộ là Kinh Dịch và Dịch truyện. Kinh Dịch gồm quẻ vạch, quái từ và hào từ. Dịch truyện còn gọi là Thất dực, tức bảy cánh, gồm Thoán, Tượng, Hệ từ, Văn ngôn, Thuyết quái, Tự quái, Tạp quái, cũng gọi là thất văn. Về sau, các nhà Kinh Dịch học lấy thêm ba thiên trong Dịch vĩ bổ sung vào Dịch truyện, hợp với bảy cánh thành Thập dực, tức mười cánh.
Ba bộ Dịch thời thượng cổ
Nói về nguồn gốc và truyền thuyết, thời thượng cổ đã có ba bộ Dịch. Thứ nhất là Chu Dịch, được coi là Dịch của Bào Hy, tức Kinh Dịch. Trong sáu mươi bốn quẻ, quẻ Càn đứng đầu. Dù không có văn tự, thực ra nó là một loại chữ. Đó là nguồn gốc văn hóa Trung Hoa, là tôn chỉ của Bách gia chư tử, và là tài sản quý trong kho tàng văn hóa. Thứ hai là Liên Sơn Dịch, của Thần Nông, còn có tên là Hạ Dịch. Đặc điểm của nó là lấy quẻ Cấn kép làm đầu, có tám quẻ đơn phát triển thành sáu mươi bốn quẻ kép. Thần Nông là Viêm Đế, hiệu Liên Sơn thị, nên bộ Dịch ấy mang tên Liên Sơn, ứng dụng rất hiệu quả thời nhà Hạ, nay đã thất lạc. Thứ ba là Quy Tàng Dịch, được coi là Dịch của Hoàng Đế, là tôn chỉ của chính cương triều Ân.
Ký hiệu sớm nhất của Chu Dịch xuất hiện trước đời Chu, khắc trên mai rùa, đồ đỉnh, xương thú, vỏ trai. Những vật ấy rất khó giữ, nay thất lạc gần hết. Trên đồ đựng bằng gỗ, một số mảnh xương còn lại được khai quật ở Thanh Đôn, huyện Hải An, tỉnh Giang Tô vẫn được lưu giữ một phần. Đến năm 1973, bộ sách lụa khai quật ở ngôi mộ Hán số ba tại Mã Vương Đôi, Trường Sa, Hồ Nam, tuy cho thấy tên quẻ khác với các tên hiện còn, nhưng lại là một ghi nhận khác về sáu mươi bốn quẻ của Chu Dịch.
Chuyện người viết ra Chu Dịch
Tác giả của Chu Dịch đến nay vẫn chưa xác định rõ. Hệ từ là chỗ ghi nhận sớm nhất về người làm ra Kinh Dịch, kể rằng vua Bào Hy thuở xưa, khi làm vua thiên hạ, ngẩng lên thì quan sát tượng trên trời, cúi xuống thì quan sát phép tắc trên đất, gần thì lấy từ thân người, xa thì lấy từ vật, rồi bắt đầu làm ra bát quái.
Cổ giả Bào Hy thị chi vương thiên hạ dã, ngưỡng tắc quan tượng ư thiên, phủ tắc quan pháp ư địa, cận thủ chư thân, viễn thủ chư vật, ư thị thủy tác bát quái.
Thiên Nghệ văn chí trong Hán thư của Ban Cố nói đạo của Dịch sâu thay, người thì trải qua ba bậc thánh, đời thì trải ba thời cổ, cho rằng Chu Dịch do ba vị thánh soạn. Thiên Yếu lược trong Hoài Nam tử cũng cho rằng Phục Hy làm ra sáu mươi bốn quẻ, nên ai cũng tin Phục Hy là người sáng lập bát quái và truyền thuyết này lưu đến nay. Rồi về sau lại có truyền thuyết cho rằng Văn Vương diễn ra sáu mươi bốn quẻ và viết quái từ, Chu Công soạn hào từ, Khổng Tử viết Dịch truyện.
Sau phong trào Ngũ Tứ, lại có cách nói rằng Kinh Dịch được hoàn thành sách vào thời Ân Chu, không phải do Phục Hy hay Văn Vương soạn, và cách đánh giá này được coi là công bằng. Phân tích theo hào từ, tác phẩm từ lúc thai nghén đến lúc thành sách đã qua một thời gian khá dài, không do một người soạn mà là công sức của nhiều người.
Về tác giả Dịch truyện, ghi chép sớm nhất nằm trong Khổng Tử thế gia của Sử ký do Tư Mã Thiên viết, nói Khổng Tử khi về già thích Dịch, sắp xếp Thoán, Hệ, Tượng, Thuyết quái, Văn ngôn. Nhận định ấy ảnh hưởng sâu rộng và được chấp nhận hàng nghìn năm. Đến đời Tống mới có người nghi ngờ: Âu Dương Tu nghi Hệ từ không phải do Khổng Tử soạn. Khang Hữu Vi thì phủ nhận, cho rằng Thoán và Tượng là do Khổng Tử soạn, còn các thiên trong Dịch truyện không do một người biên soạn.
Về niên đại của Dịch truyện, vì nó tập hợp từ bảy cánh nên được tập hợp và hoàn chỉnh dần dần. Theo phân tích của các học giả, thời gian ghi lại hào từ cho thấy Thoán truyện là sản phẩm của thời Xuân Thu. Đồng thời, căn cứ vào phân tích Chu Dịch trong bộ sách lụa ở mộ Hán số ba Mã Vương Đôi khai quật năm 1973, một số truyện còn lại lần lượt ra đời từ Xuân Thu đến giữa Chiến Quốc. Vì thế thời đại hoàn thành Dịch truyện ở vào khoảng từ Xuân Thu đến giữa Chiến Quốc, theo tư liệu trích từ Chu Dịch tư tưởng nghiên cứu của Trương Lập Văn. Cuối cùng tác giả nhận xét rằng người xưa chỉ chú trọng học vấn mà không màng danh lợi, nên các tác phẩm đều trông chờ vào các bậc thánh nhân như Phục Hy, Thần Nông, Hoàng Đế, Khổng Tử, vì vậy mà không thể xác định được tác giả của những kinh điển nổi tiếng.
Cấu tạo của Chu Dịch và nội dung mười cánh
Sáu nét chồng lên nhau chỉ là bộ khung, còn xương thịt nằm ở những lời giải đi kèm.
Chu Dịch gồm hai phần là Kinh Dịch và Dịch truyện. Phần Kinh, tên cũ là phệ từ, gồm sáu mươi bốn quẻ, mỗi quẻ sáu hào, tổng cộng ba trăm tám mươi bốn hào, trong đó hai quẻ Càn và Khôn mỗi quẻ có thêm một hào đặc biệt. Mỗi quẻ lại chia ra hình quẻ, tên quẻ và quái từ. Mỗi hào chia ra hào đề và hào từ. Hào đề do hai chữ hợp thành: chữ đầu biểu thị thứ tự, chữ sau biểu thị tính chất của hào. Thứ tự hào tính từ dưới lên: hào thứ nhất dùng chữ sơ, hào thứ hai dùng chữ nhị, hào thứ ba dùng chữ tam, hào thứ tư dùng chữ tứ, hào thứ năm dùng chữ ngũ, hào thứ sáu dùng chữ thượng. Tính chất của hào gồm cửu là hào dương và lục là hào âm.
Quái từ và hào từ tất cả có bốn trăm năm mươi điều, hơn bốn nghìn chín trăm chữ, theo bản Chu Dịch cổ kinh kim chú. Phần này được hoàn thành vào khoảng đầu Tây Chu đến cuối thời Chu, không do một người soạn. Dịch truyện gồm bảy loại, tức Thoán, Tượng, Hệ từ, Văn ngôn, Thuyết quái, Tự quái, Tạp quái, trong đó Thoán, Tượng, Hệ từ mỗi loại có hai thiên thượng và hạ, tất cả là mười thiên, gọi là Thập dực. Nó được hoàn thành vào thời Đông Chu, truyền thuyết cho rằng do Khổng Tử biên soạn nhưng thực ra không do một người soạn.
Tác giả đánh giá rằng, dù nhìn từ góc độ sử học, triết học, xã hội học hay khoa học tự nhiên, Chu Dịch đều có giá trị vô cùng lớn. Nó ghi lại tình hình xã hội, kinh tế, tự nhiên của các thời kỳ từ đời Ân Chu đến cuối Tây Chu. Về kinh tế, nó liên quan đến nông nghiệp, chăn nuôi, ngư nghiệp. Về xã hội, nó chạm tới phong hầu kiến quốc, giai cấp, hôn nhân, gia đình, gia tộc. Nó có mặt trong tập quán sinh hoạt, phong tục, tín ngưỡng, thờ cúng, ăn uống, y phục, đồ dùng, kể cả việc chinh phạt trong quân sự và việc kiện tụng trong pháp chế. Phạm vi của Chu Dịch thực sự rộng lớn, bao trùm mọi ý thức tư tưởng, quan niệm đạo đức và quan điểm chính trị của con người.
Nội dung cơ bản của mười cánh
Kinh Dịch có sáu mươi bốn quái từ và ba trăm tám mươi sáu hào từ. Dịch truyện gồm các phần sau.
Thoán gồm hai thiên thượng và hạ. Nó chỉ giải thích quái tượng, tên quẻ và quái từ trong Kinh Dịch, không giải thích hào từ, nên là sự suy đoán về nghĩa của quẻ. Tượng cũng gồm hai thiên thượng và hạ, giải thích quẻ và hào, chia làm đại tượng và tiểu tượng: đại tượng giải thích quái từ, tiểu tượng giải thích hào từ. Văn ngôn giải thích hai quẻ Càn và Khôn.
Hệ từ chia thành hai thiên thượng và hạ, giải thích quái từ và hào từ, là một phần rất quan trọng của bảy cánh. Nó chứa nhiều tri thức triết lý quý báu và nêu ra những mệnh đề trọng yếu, như một âm một dương gọi là đạo, sinh sinh gọi là Dịch, và Dịch thì cùng tắc biến, biến tắc thông, thông tắc lâu dài. Theo tác giả, các luận điểm ấy đều là tinh hoa của Chu Dịch.
Thuyết quái giải thích quái tượng và quái văn. Tự quái nói về thứ tự sáu mươi bốn quẻ. Tạp quái giải thích rõ những nghĩa tương phản trong sáu mươi bốn quẻ.
Hơn ba nghìn bộ chú giải và hai dòng tư tưởng lớn
Một rừng sách mọc lên quanh một cây cổ thụ, và rừng ấy chia làm hai lối đi.
Chu Dịch, vì sâu rộng và tinh thâm, qua các thời đại đã thu hút sự chú ý của nhiều triết gia và nhà khoa học tự nhiên. Dịch truyện cuối Xuân Thu đã có nhiều chú thích và phát huy cho Kinh Dịch. Kinh Dịch và Dịch truyện hợp thành Chu Dịch, dịch lý tinh sâu, là nền tảng của triết học và khoa học tự nhiên Trung Hoa. Từ thời Tiên Tần đến cận đại, các tác phẩm chú thích và phát huy Chu Dịch đã lên đến hơn ba nghìn bộ, hình thành một rừng Dịch mênh mông và hệ thống lịch sử Dịch học của Trung Hoa. Các nhà triết học, văn sử học và khoa học tự nhiên qua các thời đều lấy đó làm chuẩn mực.
Kinh Dịch là bản Kinh của Chu Dịch, vì là kinh điển của Nho gia nên được gọi là kinh, và là đạo của sáu kinh. Nó có sáu mươi bốn quẻ, ba trăm tám mươi sáu hào, mỗi quẻ sáu hào, quẻ có tên và quái từ, hào có hào đề và hào từ. Tác giả lưu ý rằng vì Kinh Dịch hình thành dưới hình thức chiêm phệ bằng cỏ thi nên Tần Thủy Hoàng không thiêu hủy mà để lại. Sách chủ yếu nói về quẻ, hào và lời chiêm bốc lành dữ của người và vật. Nhưng xét khách quan, đó chính là sự phản ánh xã hội thời thượng cổ và mang hình thức ban đầu của triết học.
Dịch truyện là tác phẩm chói lọi nhất nối tiếp Kinh Dịch, là viên ngọc sáng giữa muôn vàn bộ Dịch, báu vật rực rỡ của văn hóa Trung Hoa. Phần lớn lời chú thích của Truyện vượt khỏi mức vốn có của Kinh, và Kinh với Truyện chiếu rọi nhau. Hơn ba nghìn sản phẩm thư tịch văn hiến ấy hợp thành những tác phẩm lớn giao thoa giữa khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và triết học, trở thành tài sản quý của văn hóa Viêm Hoàng.
Phái tượng số và phái nghĩa lý
Dịch học là một nội dung quan trọng của Kinh học. Từ đời Hán, nổi bật hai dòng tư tưởng nghiên cứu Chu Dịch: phái tượng số và phái dịch lý, hay nghĩa lý. Dịch truyện chủ yếu giải thích Kinh bằng tượng số. Còn Luận Ngữ, Lã thị xuân thu, Chiến quốc sách đều đứng về phía nghĩa lý, không bàn đến tượng số. Chịu ảnh hưởng của xu thế đó, việc nghiên cứu Chu Dịch qua các thời đã chia thành hai phái lớn. Triều Hán đặt hòn đá tảng cho phái tượng số, còn triều Ngụy Tấn là nơi khởi nguồn dòng nghĩa lý.
Gọi là phái tượng số vì phái này lấy tượng, tức vật mà bát quái tượng trưng, để thuật rõ quái từ và hào từ. Chẳng hạn quẻ Càn lấy tượng là trời, quẻ Khôn lấy tượng là đất. Thời Hán, Dịch vĩ là tác phẩm đại diện, còn Kinh thị dịch truyện, Chu Dịch chương cú, Tiêu thị Dịch lâm đều là mẫu điển hình.
Gọi là phái nghĩa lý vì phái này giải thích quái từ và hào từ qua ý nghĩa của quẻ. Ví dụ quẻ Khảm không lấy tượng là nước mà lấy nghĩa là hãm, chỗ trũng, hoặc nghĩa là hiểm trở: một dương rơi vào giữa hai âm. Quẻ Càn lấy nghĩa kiện, mạnh, và cương, cứng. Quẻ Khôn không lấy tượng là đất mà lấy nghĩa là nhu, mềm. Đại diện cho phái này là Chu Dịch chú của Vương Bật đời Ngụy Tấn.
Cả hai phái đều có nét đặc sắc riêng và vai trò tích cực. Đến đời Tống, đại nho Chu Hy làm cho nghĩa lý và tượng số bổ sung nhau trong nghiên cứu Dịch học. Trung y học tuy thiên về phái tượng số nhưng cũng sa vào quan điểm nghĩa lý, và bản Y Dịch nghĩa trong bộ Loại kinh đồ dực của Trương Cảnh Nhạc đời Minh là tác phẩm điển hình cho lập luận về mối liên hệ lẫn nhau giữa tượng số và nghĩa lý. Hai triều Hán và Tống là hai thời kỳ tiêu biểu: đời Hán thiên về giải nghĩa và chú thích mà ít phát huy, luôn bám sát nguyên văn, không dám vượt phạm vi vốn có. Đến đời Tống thì khác hẳn, người ta mạnh dạn phát huy, chú trọng cả tượng lẫn nghĩa. Từ khi Vương Bật đời Ngụy Tấn chọn nghĩa làm chủ, đời Tống có sự phân chia hai phái tượng và nghĩa. Từ Nguyên đến Minh, hai phái phát triển ngang nhau, và về mặt khách quan chính điều đó thúc đẩy Dịch học.
Nguồn: Kinh điển văn hóa 5000 năm Trung Hoa - Tập 1 (Dương Lực), thuật lại có lược bớt.
