Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Khuyên Thiện

Bài tổng quan

Khổng Dĩnh Đạt hợp tượng số với nghĩa lý trong Chính nghĩa

Đạo Học - Khuyên Thiện03/10/202610 phút đọc1 lượt đọc
Khổng Dĩnh Đạt hợp tượng số với nghĩa lý trong Chính nghĩa

Một vị tế tửu vâng chiếu soạn một trăm tám mươi quyển để cả thiên hạ có chung một bản kinh mà học. Trong đó, bộ Dịch của ông phải đứng giữa hai phái đã đi hai ngả từ thời Hán. Ông đã chọn đứng ở đâu?


Vị tế tửu soạn một trăm tám mươi quyển cho cả thiên hạ học

Khổng Dĩnh Đạt sống từ năm 574 đến năm 648, người đất Hoành Thủy, Đái Châu đời Đường, tự là Xung Viễn, cũng gọi là Trọng Đạt. Ông thông tuệ từ nhỏ, lớn lên học rộng, tinh thông Dịch, Tả truyện, Thượng Thư, Kinh Thi và Lễ ký. Ông từng làm học sĩ ở Văn học quán trong phủ Tần vương, rồi làm Tế tửu Quốc tử giám dưới thời Đường Thái Tông.

Vâng chiếu chỉ, ông soạn định bộ Ngũ kinh chính nghĩa gồm một trăm tám mươi quyển. Bộ sách này về sau trở thành sách chuẩn của kỳ thi, được ban bố khắp nước, ảnh hưởng rất lớn, và sau này được đưa vào Thập tam kinh chú sớ, giữ một địa vị cao trong văn hóa Trung Hoa. Trong đó, Chu Dịch chính nghĩa do chính ông biên soạn và chú giải. Trình độ lý luận của nó khá cao: đó là một tập đại thành kể từ đời Hán, và là tác phẩm có ảnh hưởng lớn nhất về Dịch ở đời Đường, đóng vai trò then chốt, kế tục cái trước và mở lối cho cái sau giữa Hán Dịch và Tống Dịch.

Âm dương khí hóa: hạt nhân của Dịch lý được nói đến tận gốc

Mọi thứ trong Dịch rốt cuộc quy về một câu hỏi: khí âm và khí dương hóa ra muôn vật bằng cách nào?

Lý luận âm dương là hạt nhân của Dịch lý, và Khổng Dĩnh Đạt đặc biệt coi trọng nó. Ông giảng giải một cách toàn diện, từ Càn Khôn, âm dương khí hóa, đến sáu mươi bốn quẻ, rồi nguyên hanh lợi trinh, đặt nền vững cho lý luận âm dương của Chu Dịch.

Trước hết ông xem Càn Khôn là cội nguồn của khí hóa. Ông viết rằng quẻ Càn vốn tượng trưng cho trời, trời là chỗ khí dương tích tụ mà thành, trời là Càn, quẻ này do sáu hào dương hợp lại. Vì Càn là một thể thuần dương nên nó có thể sinh ra vạn vật: xét về vật tượng, nó là thuần dương; đức của quẻ có tính thuần dương, nhờ khí dương của trời mà sinh muôn vật. Với quẻ Khôn, lời sớ nói Khôn là đạo âm. Nhưng ông không dừng ở thuần dương thuần âm; ông cho rằng Càn Khôn phải là thể hợp của âm dương, cứng mềm xen kẽ, và điều tốt lành thật sự là có cả âm lẫn dương. Đó là cái nhìn sâu về mối quan hệ vừa đối lập vừa thống nhất của hai khí.

Kế đó ông nối Càn Khôn với sáu mươi bốn quẻ: lúc khởi đầu, sáu mươi bốn quẻ đều sinh ra từ khí hóa của Càn Khôn. Lời sớ của ông nói Càn Khôn là cửa của Dịch, và sự biến hóa của Dịch bắt đầu từ Càn Khôn. Khi nhấn mạnh Càn Khôn là căn nguyên của trời đất và của khí hóa như thế, ông đã bộc lộ cái nhìn duy vật và đặt một nền móng quan trọng cho lý luận khí hóa.

Bốn đức nguyên hanh lợi trinh nhìn bằng khí âm dương

Ông còn dùng khí hóa của Càn Khôn để giải bốn đức nguyên, hanh, lợi, trinh. Ông viết: nguyên hanh lợi trinh là bốn đức của Càn. Rồi dẫn lời Tử Hạ rằng nguyên là bắt đầu, hanh là thông, lợi là hòa, trinh là chính. Ý là: đức của quẻ này thuần dương, tự nhiên khiến khí dương khởi sinh muôn vật mà đạt nguyên thủy hanh thông; khiến tính vật hài hòa và vật nào cũng có lợi; lại khiến vật được vững bền, ngay thẳng đến cùng. Ông nối thêm rằng trời lấy kiện làm dụng, vận hành không nghỉ, biến hóa vô cùng, nên hanh thông; còn đức rồng ẩn tàng khiến muôn vật vững bền và ngay thẳng đến cùng.

Với quẻ Khôn, ông bảo Khôn là thể đất, cũng có thể sinh muôn vật, vật nào vật ấy hanh thông, nên Khôn cũng nguyên hanh như Càn. Trinh của Khôn cũng là trinh lợi cho muôn vật, nhưng Khôn là đạo âm nên trinh của nó là trinh nhu thuận, vì thế thánh nhân nói về Khôn bằng chữ ngựa cái, nghĩa là thuần thuận. Lời sớ cho quẻ Càn trong Văn ngôn càng rõ: nguyên khí của Càn, đức lớn rộng, nên từ khởi đầu đã thông được với vạn vật. Quẻ khác có đức nguyên thì cũng sinh được vạn vật, nhưng đức ấy không lan tỏa mọi nơi bằng. Thật ra nguyên của Khôn cũng thông với vạn vật ngay từ đầu. Từ đó người đọc thấy ông qua hai quẻ Càn Khôn mà phơi bày ý khí hóa chứa trong nguyên hanh lợi trinh, nhất là cái động thái “vận hành không nghỉ” của khí và nguyên lý biến hóa “ứng hóa không cùng”.

Sáu mươi bốn quẻ, lúc dương lên, lúc âm xuống

Trong từng quẻ, ông đọc ra một cán cân khi nghiêng bên này, khi nghiêng bên kia.

Qua bàn về khí âm dương của sáu mươi bốn quẻ, ông đưa triết lý âm dương của kinh Dịch lên rất cao. Ngoài vấn đề căn nguyên khí hóa của Càn Khôn và quy luật vận động biến hóa của hai khí, ông còn bàn sâu về sự tiêu trưởng, chuyển hóa. Bàn về quẻ Quải, ông viết: Quải là quyết đoán, đó là quẻ âm giảm dương tăng; quẻ có năm hào dương lấn một hào âm nên gọi là Quải. Qua sự tăng giảm của cứng mềm ông cho thấy mối quan hệ âm dương: đạo thành thì cứng lớn mềm tiêu, đạo Quải thành vậy.

Ông còn dùng sự giao khí để cho thấy quy luật khí hóa. Giải thoán truyện quẻ Thái, ông viết: sở dĩ có tên quẻ Thái là vì khí của trời đất giao nhau mà nuôi dưỡng muôn vật, vật được hanh thông nên gọi là Thái. Qua sự thịnh suy của muôn vật, ông bàn sâu về tiến thoái, tiêu trưởng của hai khí. Với quẻ Bĩ, ông nói dương khí đi mà âm khí đến, dương chủ sinh trưởng, âm chủ tiêu hao. Từ nhiều góc độ như vậy, Chu Dịch chính nghĩa đã đưa lý luận âm dương khí hóa lên đến mức khó mà hơn được nữa của thời cổ.

Thái cực khí hóa trong số đại diễn

Ông còn lấy nguyên lý khí hóa thái cực để giảng số đại diễn. Số đại diễn là năm mươi nhưng dùng bốn mươi chín. Người xưa bói bằng cỏ thi dùng bốn mươi chín nhánh; khi các nhánh còn gộp chưa chia thì gọi là thái cực. Rồi dùng tay chia đôi bốn mươi chín nhánh, tượng trưng hai nghi; đếm theo từng bốn nhánh, tượng trưng bốn tượng. Ông xem sáu mươi bốn quẻ đều bắt nguồn từ thái cực khí hóa trong số đại diễn, và như thế làm trọn thêm lý luận âm dương của sáu mươi bốn quẻ.

Cầm chung hai cái cân: tượng số và nghĩa lý

Từ lâu hai phái đi hai ngả; ông chọn đi trên cả hai đường, nhưng vẫn biết chân mình đặt nặng ở đâu.

Đóng góp lớn nhất của ông là kế thừa ưu thế của Dịch truyện, nơi nghĩa lý và tượng số hòa làm một. Ở đời Hán, Kinh thị Dịch truyện và Dịch vĩ là đại diện của phái tượng số; đến Chu Dịch chú của Vương Bật thì phái nghĩa lý đứng đầu. Hai phái cùng một gốc nhưng khác đường. Khổng Dĩnh Đạt lấy Dịch truyện làm khuôn mẫu để dung hòa. Chu Dịch chính nghĩa là tập đại thành của tượng số trước đời Đường và của nghĩa lý, và nội dung giảng kinh của nó kiêm cả hai.

Giảng hai quẻ Càn Khôn, ông xuất phát từ Càn là trời, Khôn là đất, rồi đi sang mặt cương nhu và kiện thuận. Giảng quẻ Càn ông bàn nghĩa của “thiên”, rồi bàn dụng ý của “kiện”, coi “thiên” là thể, “kiện” là dụng. Ông viết Càn là kiện, nói về thể của trời, lấy kiện làm dụng. Như thế ông đưa ra mối quan hệ tượng số và nghĩa lý nương nhau làm thể và dụng, phản ánh tính thống nhất biện chứng giữa hai bên và làm cho việc nghiên cứu Dịch lý lên một độ cao mới. Với quẻ Khôn, ông nói Khôn thuộc đất, trinh của nó phải nhu thuận. Với quẻ Cấn, ông nói Cấn là dừng, nghĩa là dừng hẳn lại, và đó là quẻ có tượng núi.

Tuy hợp cả hai, ông thật ra là một nhà kinh học tôn Khổng Tử, nên lời giảng nghiêng về nghĩa lý. Bài tự mở đầu bằng câu Dịch là tượng, nhưng đến cuối bài ông lại nhắc đi nhắc lại rằng phải lấy Trọng Ni làm thầy, nghĩa lý là đúng lẽ.

“Đạo Dịch đầy đủ, không gì là không nói tới”

Giải thiên Thuyết quái, ông viết rằng đạo Dịch rất đầy đủ, không có điều gì mà Dịch không nói đến. Với bậc thánh nhân, trên thì hòa hợp thuận thành với đức của thánh, dưới thì trị lý, quyết đưa nhân luân đi theo con đường chính nghĩa, khiến vạn vật thấu hiểu tận cùng lẽ thần diệu, khiến sinh linh nắm được hết tính bẩm thụ. Lẽ của vạn vật đã hiểu tận cùng, tính của sinh linh đã nắm hết, đến lúc được trao mệnh thì ai cũng hiểu rõ sở trường sở đoản của mình mà định được cát hung của bản thân.

Ông còn nhấn mạnh Dịch lý có cả hữu và vô. Về hữu và vô trong Hệ từ, ông giảng trên cơ sở đạo và khí: cái ở trên hình gọi là đạo, đạo là vô; cái ở dưới hình gọi là khí, khí tức là hữu. Đạo là tên của sự không có hình thể, còn hình được coi là hiện thực. Ông thừa nhận quan điểm “có sinh từ không” của đạo gia, nhưng vẫn thiên về hữu, và nhấn mạnh rằng trong ba nghĩa của Dịch, duy chỉ có hữu. Thiên về hữu là cơ sở cho cái nhìn tích cực, nhập thế của Nho gia. Nhờ vậy ông mở ra con đường kết hợp ba dòng Dịch, Lão và Nho, liên hệ mật thiết với đạo Nho và mở rộng ảnh hưởng của Dịch học trong văn hóa Trung Hoa.

Dấu ấn còn lại

Chu Dịch chính nghĩa tổng kết thành tựu Dịch học từ đời Đường trở về trước. Nó hợp tượng số với nghĩa lý, thành tập đại thành của cả hai phái từ đời Hán trở lại. Vì ông nghiêng về nghĩa lý theo ý “lấy Trọng Ni làm thầy”, bộ sách ảnh hưởng sâu sắc tới hướng nặng nghĩa lý của lý học Tống Minh và Dịch học Minh Thanh, và làm quan hệ Nho với Dịch khắng khít hơn. Những lời giảng âm dương trong sách ảnh hưởng lớn tới sự phát triển Dịch lý. Còn việc ông tiếp nhận quan điểm hữu vô của Lão Tử rồi giữ lại phần tinh túy nhất, đồng thời kiên trì cái nhìn tích cực của Dịch học, đã mở thêm con đường dung hòa Nho và Đạo.

Vì bộ Ngũ kinh chính nghĩa trở thành sách chuẩn của kỳ thi và được ban bố khắp nước, những lời giảng ấy đến tay đông đảo người học, nên sức lan truyền của chúng càng lớn. Nhìn chung, Khổng Dĩnh Đạt và Chu Dịch chính nghĩa giữ vị trí quan trọng bậc nhất trong lịch sử Dịch học, làm cầu nối giữa Hán Dịch và Tống Dịch, kế thừa người trước và làm gương cho người sau.

Nguồn: Kinh điển văn hóa 5000 năm Trung Hoa - Tập 3 (Dương Lực), thuật lại có lược bớt.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Khuyên Thiện