Bài tổng quan
Chu Chấn dựng lại tượng số Hán trong Hán thượng dịch truyện
Có một thời, tượng số của Dịch Hán bị người ta quét khỏi sân chơi. Rồi một nhà Dịch học đời Nam Tống đến nhặt chúng lên, ghép lại và nối chúng vào Dịch học đời Tống. Ông còn chép lại từng chặng bức đồ đi qua tay ai...
Có một thời, tượng số của Dịch Hán gần như bị người ta quét khỏi sân chơi. Mười lăm cuốn Hán thượng dịch truyện của Chu Chấn, nhà Dịch học đời Nam Tống, đã nhặt chúng lên, giải thích và nối chúng vào Dịch học đời Tống. Bộ sách nhờ vậy được xem là một cầu nối quan trọng giữa Dịch Hán và Dịch Tống.
Chu Chấn tinh thông Dịch lý, đóng góp nổi bật của ông là gom Dịch Hán và Dịch Tống vào một mạch. Ông lấy tượng số làm cốt lõi, đứng trên nền đã được Dịch học đời Tống phát triển, rồi thu nhận thêm quan điểm của người đời Hán, Đường, của Trình Di và của Thiệu Ung. Bộ sách kế thừa quái khí, quái biến, thuyết nạp giáp ngũ hành của Dịch Hán, đồng thời khẳng định đồ thuyết đời Tống và khảo cứu cội nguồn của nó, nên về sau thành một căn cứ cho người nghiên cứu.
Nhặt lại tượng số sau cơn gió quét
Khi một lối đọc Dịch bị gạt đi, cũng phải có người đủ kiên nhẫn đem những mảnh vỡ của nó ra ghép lại.
Từ thời Ngụy Tấn, Hàn Khang Bá cùng Vương Bật quét tượng, nên Dịch tượng số đời Hán gặp trắc trở. Hán thượng dịch truyện bắt đầu khai thác lại kho tượng số ấy, nhờ đó nó còn được giữ đến ngày nay. Tư liệu mà nó đưa ra có bốn ý đáng nhớ, mà ý thứ tư là một lập trường chứ không chỉ là một kỹ thuật.
Quái biến: trong quẻ có biến, trong biến lại có biến
Một quẻ không đứng yên, vị trí các hào lên xuống làm nên cả một dòng chuyển hóa.
Chu Chấn coi trọng thuyết quái biến. Lời tựa nói rằng thánh nhân xem sự biến đổi của âm dương mà lập quẻ, theo chuyển động của trời đất mà lập sự khác biệt của hào. Quẻ có năm phần: động hào, quái biến, hỗ thể, ngũ hành và nạp giáp. Trong quẻ biến lại còn có biến. Một, ba, năm là dương; hai, bốn, sáu là âm; thể quẻ ba lần biến thành hào, hào sáu lần biến thành vị thể. Biến là bất biến, còn dụng của bất biến lại là biến.
Tức là trong quẻ có biến, trong biến lại có tâm biến, và quẻ biến được quyết định bởi sự thăng giáng của các vị hào. Qua biến động ấy, người ta thấy được tình trạng của trời đất và vạn vật, cũng qua quái biến mà biết cát hung, hiểu sự lý.
Quái khí: mười hai quẻ chủ tháng, bốn quẻ chủ mùa
Tháng này quẻ nào thịnh, quẻ nào suy, cũng là cách nhìn bốn mùa chuyển đi như một chiếc đồng hồ.
Chu Chấn cũng nhấn mạnh thuyết quái khí. Từ quẻ Cấu đến quẻ Bác, Khôn giao với Càn; từ quẻ Phục đến các quẻ sau, tổng cộng mười hai quẻ. Khảm, Ly, Chấn, Đoài là bốn quẻ chính, mỗi quẻ giữ một mùa; mười hai quẻ kia chủ về các tháng. Càn bắt đầu từ giờ Tý đi sang bên trái, Khôn bắt đầu từ giờ Mùi đi sang bên phải, hai bên gặp nhau; sáu mươi quẻ xoay vòng, âm dương lên xuống, bốn mùa biến đổi, trời đất đầy vơi, vạn vật hưng suy đều từ đó mà ra.
Nói cách khác, qua mười hai quẻ tiêu tức và các quẻ khác, ông nêu bật mối liên hệ giữa quẻ và sự tiêu trưởng của âm dương trong tự nhiên, đúng với tinh thần của thuyết quái khí.
Nạp giáp: tám quẻ ghép với mười can
Tám quẻ mượn mười can để gọi tên các thời điểm, và mặt trời mặt trăng cũng hiện ra trên đó.
Theo thuyết nạp giáp, Càn nạp Giáp và Nhâm; Khôn nạp Ất và Quý; Chấn nạp Canh; Tốn nạp Tân; Khảm nạp Mậu; Ly nạp Kỷ; Cấn nạp Bính; Đoài nạp Đinh. Canh, Mậu, Bính thuộc dương như Càn; Tân, Kỷ, Đinh thuộc âm như Khôn. Khởi đầu từ Giáp Ất, kết thúc ở Nhâm Quý, ghép thành năm mươi lăm số của trời đất, giống như quẻ Cổ trong kinh nói "trước Giáp ba ngày, sau Giáp ba ngày".
Nhờ nạp giáp, quái khí và nhật nguyệt càng khớp nhau, như Hệ từ nói tượng treo sáng tỏ không gì lớn hơn mặt trời và mặt trăng. Cả phần giải rộng của sách đều xuyên suốt nét quái khí, quái biến và nạp giáp ấy. Khi giải quẻ Càn, ông viết: Dịch có bốn tượng là sáu, bảy, tám, chín; bảy và tám không biến, sáu và chín biến, ẩn đi thì dùng bảy, tám; biến đổi thì dùng sáu, chín nhưng vẫn thâu cả bảy, tám; biến lấy bất biến làm nền, bất biến lấy biến làm công dụng. Rồi đến quẻ Khôn: hào âm thứ nhất ứng tháng năm, quẻ Bác ứng tháng chín, hào âm thứ năm là sương giáng, còn quẻ Khôn ứng tháng mười.
Tượng đi trước, số theo sau
Số là đứa con của tượng, hay tượng là bóng của số? Câu hỏi nghe như chuyện chữ, nhưng nó đổi cả cách đọc quẻ.
Chu Chấn và Thiệu Ung cho rằng ý kiến "số có trước, tượng có sau" là hoàn toàn không đúng. Họ nhấn mạnh tượng, cho rằng có tượng trước rồi mới có số. Cách nghĩ ấy đưa tượng lên làm chính, đúng với tinh thần tượng số Hán mà ông muốn khôi phục.
Đường truyền của đồ thư qua ngòi bút Chu Chấn
Ai nhận bức đồ từ tay ai, và nó đi qua bao nhiêu đời, ông đều chép lại từng chặng.
Mục Tứ khố toàn thư hội yếu ghi nhận rằng Hán thượng dịch truyện có giá trị rất cao về tượng số Hán, nên trở thành tư liệu khảo cứu Dịch Hán quan trọng. Nó cũng có giá trị lớn trong việc truyền thụ đồ học đời Tống. Học thuyết của Chu Chấn lấy tượng số làm tông, tìm nguồn về tận Chu, Hán, thâu những chỗ dị đồng để bù cho các khiếm khuyết của đời Tấn, công lao ấy khá lớn.
Về sự truyền thừa đồ thư, ông ghi rằng:
- Tiên thiên đồ từ Trần Đoàn truyền cho Chủng Phóng, qua ba đời đến Thiệu Ung.
- Hà đồ Lạc thư từ Chủng Phóng truyền cho Lý Khái, qua ba đời đến Lưu Mục.
- Thái cực đồ từ Mục Tu truyền cho Chu Đôn Di, rồi đến Trình Hạo, Trình Di; Thiệu Ung cũng nhận được và thuật lại trong Hoàng cực kinh thế.
Những thuyết ấy về sau được nhiều nhà nho nối truyền, và tất cả đều bắt nguồn từ chỗ Chu Chấn đã chép ra.
Nguồn: Dương Lực, Kinh điển văn hóa 5000 năm Trung Hoa - Tập 3, thuật lại có lược bớt.
