Bài tổng quan
Đồ sáu mươi bốn quẻ Thiệu Ung và đường cong thái cực
Ngoài tròn trong vuông, một vòng quay từ bóng tối sang ánh sáng rồi quay ngược lại. Giữa vòng ấy, một nhà thơ ngồi viết rằng chỉ cần nhàn nhã đi lại giữa hai điểm là cả ba mươi sáu cung đều thành xuân...
Hai bức đồ sáu mươi bốn quẻ, vuông bên trong và tròn bên ngoài
Trong hệ thống đồ về sáu mươi bốn quẻ, tác giả nhắc đến phương vị đồ và viên đồ của sáu mươi bốn quẻ tiên thiên và hậu thiên, cũng gọi là phương vị đồ và viên đồ sáu mươi bốn quẻ của Phục Hy và của Văn Vương. Trong số đó, sơ đồ vị trí sáu mươi bốn quẻ tiên thiên có thể gọi là bát quái đệ nhất đồ. Đặc điểm của nó là một hình tròn hợp nhất, ngoài tròn trong vuông. Vòng ngoài chỉ rõ sự tiêu và trưởng của âm dương, sự dời đổi của thứ tự thời gian; hình vuông bên trong tượng trưng cho thứ bậc vị trí của âm dương và định hướng không gian. Vòng ngoài và hình vuông bên trong kết hợp với nhau, có nghĩa là sự thống nhất của thời gian và không gian, cùng quy luật thống nhất đối lập của âm dương trong vũ trụ.
Mục đích Thiệu Ung chế ra hình đồ này là mượn sự chuyển hóa tiêu trưởng của âm dương để giải thích sự thịnh suy của sự vật, sự bắt đầu của vũ trụ và sự hưng vong của xã hội. Hình đồ có ảnh hưởng lớn đối với các bộ môn trắc nghiệm, dưỡng sinh và y học, và được giữ lại trong Chu Dịch bản nghĩa của Chu Hy.
Hình vuông sáu mươi bốn quẻ ở bên trong
Hình vuông này được bày đặt rất khéo, theo kiểu khéo đến mức đoạt cả công của trời, gồm tám quẻ kinh là Khôn, Cấn, Khảm, Tốn, Chấn, Ly, Đoài, Càn xếp thành tám hàng ngang dọc ở bên trong. Trong đó, bốn góc bốn bên của các quẻ đều tương phản nhau; Càn, Khôn, Bĩ, Thái xếp ở bốn góc. Từ Càn đến Khôn gọi là tuyến tý ngọ, từ Bĩ đến Thái gọi là tuyến mão dậu, âm dương đối xứng, để một âm dương mà phân thành hai. Nhưng bốn tượng giao nhau, âm dương ở bốn góc lại thông qua tuyến tý ngọ mà dần dần hợp hai lại làm một; như tám quẻ kinh phân ở hai nửa của tuyến tý ngọ tập trung phản ánh sự thống nhất hòa hợp của âm dương. Cụ thể là Càn Khôn thiên địa hợp đức, Cấn Đoài núi đầm thông khí, Khảm Ly nước lửa cùng phun ra, Chấn Tốn gió và sấm thúc nhau.
Hình tròn sáu mươi bốn quẻ ở bên ngoài
Càn Khôn đặt ở hai cực âm dương. Cực âm của quẻ Khôn đều do hào dương sinh ra, nên từ Khôn đến Càn hào dương dần tăng nhiều, hào âm dần bớt ít, gọi là giai đoạn dương trưởng âm tiêu, cũng là thời kỳ dương khí sinh ra. Ngược lại, cực dương của quẻ Càn do hào âm sinh ra; từ Càn đến Khôn hào âm dần tăng, hào dương dần giảm, nên gọi là giai đoạn âm trưởng dương tiêu, cũng là thời kỳ âm khí tăng trưởng. Tác giả thấy rằng đồ hình bốn quẻ tượng trưng cho sự tiêu trưởng của âm dương và sự chuyển hóa của sự vật: từ phát triển tinh vi đến hưng thịnh, rồi từ thịnh đến suy bằng chuyển hóa tiêu trưởng. Các nhà dịch học biết lấy sự kết hợp giữa tiết khí với sự chuyển hóa tiêu trưởng để giải thích biến hóa tự nhiên, sự dời đổi của thứ tự thời gian, và dựa vào đó nghiên cứu sự hưng suy của sự vật cùng việc trị loạn trong xã hội.
Về sau, cả hình tròn lẫn hình vuông của sáu mươi bốn quẻ đều được suy diễn trên cơ sở hình đồ này, nên phương vị đồ sáu mươi bốn quẻ tiên thiên của Thiệu Ung được gọi là hình đồ thứ nhất của sáu mươi bốn quẻ, còn có tên là thiên căn nguyệt quật. Hình đồ ấy do Du Viêm sáng chế, được chép trong hình đồ của sách Dịch ngoại biệt truyền. Thiệu Ung đã giải ý của thiên căn nguyệt quật thành bài thơ Quan vật ngâm, chép trong Y Xuyên kích nhưỡng tập, quyển mười sáu:
Nhĩ mục thông minh nam tử thân, hồng quân phú dữ bất vi bần. Tu tham nguyệt quật phương tri vật, vị nhiếp thiên căn khởi thức nhân. Càn ngộ Tốn thời quan nguyệt quật, Địa phùng Lôi xứ khán thiên căn. Thiên căn nguyệt quật nhàn vãng lai, tam thập lục cung đô thị xuân.
Thân nam nhi tai mắt thông minh, trời ban cho thì chẳng nghèo; phải tìm tới nguyệt quật mới biết vật, chưa đặt chân tới thiên căn sao hiểu được người. Khi Càn gặp Tốn thì xem nguyệt quật, khi Đất gặp Sấm thì xem thiên căn; thiên căn nguyệt quật nhàn nhã đi lại, ba mươi sáu cung đều là mùa xuân.
Theo lời giải của sách, thiên căn là chỗ giữa Khôn và Chấn: cực âm của quẻ Khôn, ở quẻ Phục dương sinh ra, nên có câu đất gặp sấm thì xem thiên căn; thiên căn biểu thị dương sinh âm lui. Còn nguyệt quật chỉ chỗ Càn và Tốn giao tiếp: cực dương của quẻ Càn, ở quẻ Cấu âm thịnh lên, nên có câu Càn gặp Tốn thì xem nguyệt quật. Đồ thiên căn nguyệt quật dùng màu đen và trắng thay cho hào âm và hào dương. Từ bất cứ góc độ nào cũng thấy hiện ra một nửa phần âm dương, âm dương đối xứng, hình tượng rất cường tráng mạnh mẽ, phản ánh đầy đủ quy luật chuyển hóa tiêu trưởng của âm dương, cho nên đến nay được xem là một danh đồ nổi tiếng.
Hệ liệt thái cực bát quái, từ cổ thái cực đồ đến hai nghi sinh quẻ
Từ một vòng tròn không có gì ở trong, người xưa kéo ra hai nghi, rồi bốn tượng, rồi tám quẻ, như một sợi chỉ quay ra khỏi cuộn.
Thái cực bát quái hệ liệt đồ là tên chung cho rất nhiều đồ thị về quan hệ giữa bát quái và thái cực, mà cơ sở lý luận đều căn cứ vào câu Hệ từ rằng Dịch có thái cực, sinh ra hai nghi, hai nghi sinh bốn tượng, bốn tượng sinh bát quái. Đó chính là ý nghĩa giải thích thái cực là bản thể sinh thành của vũ trụ.
Cổ thái cực đồ
Hình tiêu biểu nhất của hệ này là cổ thái cực đồ. Hình đồ này thể hiện đồ thị mang tính tượng trưng nhất của hệ liệt thái cực bát quái; nó còn gọi là Phục Hy bát quái phương vị thái cực đồ, hoặc Tham đồng khế thái cực đồ, và được thấy sớm nhất trong quyển Đạo học chính tông của Triệu Trọng Toàn đời Minh. Một mặt, hình đồ này dung hòa quan hệ giữa thái cực và bát quái, phản ánh thế giới quan lấy thái cực làm bản thể vũ trụ; mặt khác nó bao quát nguyệt thể nạp giáp và phản ánh phương vị bát quái cùng sự tiêu trưởng của âm dương, cô đọng đầy đủ triết lý về quy luật mở rộng của thái cực bát quái. Vì vậy ngày nay nó được nêu lên làm hình đồ đại biểu của hệ liệt thái cực bát quái.
Hai đồ sáu mươi bốn quẻ nối tiếp nhau
Đồ thứ hai là tiên thiên sáu mươi bốn quẻ thứ tự đồ, còn gọi là Phục Hy sáu mươi bốn quẻ thứ tự đồ, do Thiệu Ung thời Bắc Tống chế tác, và hình đồ được giữ trong Chu Dịch bản nghĩa của Chu Hy. Đặc điểm của hình đồ này là thể hiện đầy đủ thái cực sinh hai nghi, hai nghi sinh bát quái, bát quái sinh vạn tượng; bao hàm triết lý cao siêu của vũ trụ sinh thành luận một phân làm hai, và khái quát ở tầm cao sự cân bằng của hai hào đen trắng đối với âm dương cùng những nguyên lý về đối lập và bổ trợ.
Đồ thứ ba là sáu mươi bốn quẻ sinh từ hai nghi đồ, thấy rõ trong sách Dịch kinh lai chú đồ giải của Lai Tri Đức. Đồ này là vòng tròn xếp theo thứ tự sáu mươi bốn quẻ tiên thiên, đen trắng rõ ràng, âm dương đối xứng, phản ánh rõ ràng chính xác quy luật phát triển của thái cực và bát quái trong Chu Dịch, thể hiện quan hệ sinh thành giữa sáu mươi bốn quẻ với thái cực âm dương, đồng thời theo quy luật diễn sinh phát triển ấy tiến tới nêu lên quan điểm sinh thành luận về vũ trụ của thái cực bản thể. Tóm lại, hình đồ bát quái và đồ hệ liệt sáu mươi bốn quẻ bao hàm một triết lý sâu sắc, là hình thức biểu hiện quan trọng của dịch lý; ngày nay các nhà dịch học còn sáng chế thêm nhiều loại hình đồ bát quái phong phú, quý giá, có tác dụng thúc đẩy tích cực đối với sự phát triển và ứng dụng của dịch học.
Thái cực đồ hiện đại, đường cong chữ S và điểm cân bằng duy nhất
Tác giả nói về hệ thống hình đồ thái cực và sự ảnh hưởng của nó. Hình đồ tiêu chuẩn hiện đại của thái cực đồ lấy hình con cá đổi sang màu hồng và trắng; hai màu hồng trắng càng phản ánh rõ quy luật tiêu trưởng của âm dương. Nguồn gốc của thái cực đồ là vô cực sinh thái cực, là sự ôm bọc lấy nhau của hai nghi âm dương trong thái cực, đúng như Chu Dịch dẫn: Dịch có thái cực.
Thái cực đồ có đầy đủ ý nghĩa của bức đồ đệ nhất thiên hạ, cô đọng sâu sắc quy luật mâu thuẫn của sự vật, tức những nguyên lý thống nhất của sự đối lập. Hai nghi âm dương thành hình con cá trắng đen ôm bao lấy nhau và đối lập nhau, phản ánh sự đối lập và thống nhất của âm dương. Đường trung tuyến không dùng đường thẳng mà dùng đường cong chữ S, hay như chữ số tám, tiêu biểu cho sự chuyển hóa tiêu trưởng của âm dương. Điều ấy có nghĩa rằng cân bằng của âm dương là cân bằng ở trạng thái động, nhất là tượng trưng cho cân bằng động tuyệt đối giữa âm và dương, do vô số những yếu tố không cân bằng đối lập nhau tạo thành. Vì vậy điểm cân bằng của thái cực đồ thực ra chỉ có một điểm; các điểm khác đều là điểm không cân bằng và đường không cân bằng. Trong hình minh họa, chỉ đường đi qua điểm A là đường cân bằng, các đường khác đều không cân bằng. Ngoài ra thái cực đồ còn phản ánh quy luật phát triển theo hình xoắn ốc của sự vật, làm rõ thêm ý nghĩa sâu xa của việc dùng đường chữ tám để biểu thị.
Vì thái cực đồ hiện đại bao hàm triết lý cao sâu mà lại cực kỳ sáng tỏ, hợp với những quy tắc giản đơn dễ hiểu, nên nó lưu truyền rất rộng, hiện đã vượt cả hình đồ tiêu biểu của hệ thống thái cực đồ và chiếm địa vị quan trọng trong dịch học cũng như đạo học vô cực.
Thái cực đồ của Chu Đôn Di
Thái cực đồ có ảnh hưởng rất lớn trong lịch sử dịch học còn có đồ của họ Chu. Hình đồ này do Chu Đôn Di thời Bắc Tống sáng tác, truyền về sau được Chu Hy giữ lại, in trong Chu Tử toàn thư với đề Thái cực đồ thuyết giải của Chu Hy. Hình đồ phát triển trên cơ sở đồ vô cực của Trần Đoàn, đặc điểm là sửa đồ luyện đan của Trần Đoàn thành hình đồ sinh thành vũ trụ dưới sự chỉ đạo của dịch lý. Ý nghĩa chủ yếu của nó là nhấn mạnh thái cực là bản thể của vũ trụ; âm dương và thái cực khí hóa, âm tĩnh dương động, sinh ra ngũ hành thủy hỏa thổ kim mộc; tác dụng qua lại của âm dương và ngũ hành sinh ra vạn vật, bao gồm đạo Khôn thành nữ, đạo Càn thành nam. Do là sự phát triển quan trọng của quan điểm sinh thành vũ trụ Dịch có thái cực, nên thái cực đồ của Chu Đôn Di, từ sự rèn luyện tu thân của đạo đan, thăng hoa thành vũ trụ quan triết lý; đó là sự thăng hoa của đồ vô cực của Trần Đoàn, một cống hiến lớn cho dịch lý. Vì thế ảnh hưởng của nó sâu rộng trong lịch sử triết học dịch học, trong đó thuyết âm tĩnh dương động ảnh hưởng rất lớn đến bộ môn dưỡng sinh.
Đồ sáu mươi bốn quẻ thái cực của Phục Hy
Hình đồ Phục Hy sáu mươi bốn quẻ thái cực xem trong sách Dịch kinh lai chú đồ giải của Lai Tri Đức đời Minh. Hình đồ nối tiếp đường đen đường trắng của thái cực âm dương với sáu mươi bốn quẻ, làm sáng thêm sự tiêu trưởng của thái cực âm dương, phản ánh sự tiến thoái của âm dương, từ đó xem xét tính mệnh con người; hình đồ này có ảnh hưởng nhất định đối với khoa học giải thích sinh mệnh của đời sau, đến đạo lý và bộ môn dưỡng sinh của tính mệnh con người.
Tóm lại, thái cực đồ khái quát đầy đủ những quy luật quan trọng của biểu hiện hình thức giữa hai màu đen trắng, những quy luật thống nhất đối lập của âm dương và sự cân bằng sống động bổ trợ nhau của âm dương. Đặc biệt nó tượng trưng cho mô thức sinh thành vũ trụ và quy luật sinh ra vạn vật, ẩn chứa một triết lý cao sâu, nên có đóng góp lớn đối với sự phát triển của dịch học và chiếm vị trí quan trọng trong bộ môn dịch đồ.
Thái cực bát quái diễn sinh đồ
Thái cực bát quái diễn sinh đồ phản ánh mối quan hệ mật thiết của thái cực với bát quái, đúng như Hệ từ thể hiện: Dịch có thái cực, thái cực sinh hai nghi, hai nghi sinh bốn tượng, bốn tượng sinh bát quái. Sự phát triển của dịch đồ thúc đẩy việc nâng cao trình độ dịch lý và ảnh hưởng sâu xa đến dịch học. Dịch đồ tuy luôn luôn gặp sự hủy hoại, nhưng ngược lại sức sống mãnh liệt của bộ môn này không những ngày càng phong phú mà còn được nâng cao địa vị trong dịch học, và ngày càng đi sâu vào dân chúng, chứng tỏ đầy đủ giá trị vô biên của dịch đồ và dịch tượng. Được bổ sung và phát triển không ngừng qua bao nhiêu năm, nó đã có tác dụng thúc đẩy quan trọng giúp cho dịch học phát triển.
Nguồn: Kinh điển văn hóa 5000 năm Trung Hoa - Tập 1 (Dương Lực), thuật lại có lược bớt.
