Bài tổng quan
Trời đất giao cảm và bước đường của lý luận âm dương
Mặt trời đi thì mặt trăng đến, rét lui thì nóng tới, và cứ thế một năm tròn lên. Người xưa nhìn vòng đổi ngôi ấy mà tin rằng trời đất chỉ sinh ra muôn vật khi chịu gặp nhau. Còn niềm tin ấy đã đi vào khí công, thuốc men và cả những điều người ta gọi là linh cảm ra sao...
Mục lục · 6 phần
- 01Trời đất giao nhau thì muôn vật mới sinh ra
- 02Muôn vật cảm nhau, và cảm thì thông
- 03Động tĩnh phát triển thành đạo luyện đan và khí công
- 04Cương nhu nặn nên khí chất và triết lý nhân sinh
- 05Hư thực đi vào lịch pháp, y học, nhạc luật và chiêm bốc
- 06Giao cảm trong văn hóa dự đoán và thuyết thiên nhân cảm ứng
Trời đất giao nhau thì muôn vật mới sinh ra
Mặt trời khuất thì trăng lên, rét lui thì nóng tới, và chính trong những cuộc đổi ngôi lặng lẽ ấy mà một năm được dệt nên.
Tác giả mở phần này bằng nguyên lý giao cảm, một mảng lớn của lý luận âm dương trong Chu Dịch và cũng là mảng có sức ảnh hưởng rất rộng lên văn hóa Trung Hoa. Theo ông, nguyên lý này hiện ra trước hết ở chỗ trời đất giao nhau. Chu Dịch nhấn mạnh rằng cội nguồn của sự giao cảm âm dương nằm ở việc trời và đất gặp nhau, và từ cuộc gặp ấy vạn vật mới hóa sinh.
Thiên địa cảm, nhi vạn vật hóa sinh.
Câu trong Thoán truyện của quẻ Hàm ấy nghĩa là trời đất cảm nhau mà muôn vật sinh ra. Hệ từ cũng nói theo hướng đó khi bảo hai khí âm dương cảm ứng để cùng trao cho nhau. Chính tên quẻ Hàm đã mang nghĩa này, vì Hàm là cảm, là giao cảm. Còn quẻ Thái và quẻ Bĩ thì đều do Càn và Khôn hợp thành, và cả hai đều tượng trưng cho việc trời đất có gặp nhau hay không.
Thiên địa giao nhi vạn vật thông dã. Thiên địa bất giao, nhi vạn vật bất thông dã.
Trời đất giao nhau thì muôn vật hanh thông, trời đất chẳng giao nhau thì muôn vật chẳng hanh thông. Quẻ Quy muội còn nói rõ hơn rằng trời đất không giao thì vạn vật không dấy lên được. Tác giả giải thích rằng khi nói trời đất giao nhau, người xưa muốn chỉ ra sự vận động của trời đất không bao giờ là cô lập. Hai bên luôn qua lại, liên hệ với nhau. Trời đất giao nhau thì âm dương chuyển hóa, bốn mùa luân phiên đến đi, vạn vật hưng thịnh. Trời đất không giao thì bốn mùa ngừng chuyển, khí không hóa, và vạn vật không có cớ để sinh ra.
Để minh họa, tác giả dẫn một đoạn dài trong Hệ từ. Mặt trời đi thì mặt trăng đến, mặt trăng đi thì mặt trời đến, hai vầng sáng đẩy nhau mà ánh sáng sinh ra. Lạnh qua thì nóng tới, nóng qua thì lạnh tới, nóng lạnh đẩy nhau mà thành năm. Cái đi là co lại, cái đến là duỗi ra, co duỗi tác động lên nhau mà lợi ích sinh ra. Ý của đoạn này, theo tác giả, là chỉ sự vận động tương hỗ của mặt trời, mặt trăng và các thiên thể, từ đó nảy sinh giao cảm.
Muôn vật cảm nhau, và cảm thì thông
Nhìn lên trời thấy hai khí gặp nhau, nhìn xuống đất lại thấy mọi vật đều có cách tìm đến nhau.
Từ trời đất, Chu Dịch mở rộng ra mọi sự vật. Sách cho rằng giữa các vật đều có giao cảm âm dương, và đó là quy luật phổ biến. Quẻ Hàm nói rằng xem cái chỗ họ cảm nhau thì thấy được cái tình của trời đất và vạn vật. Hiểu theo tác giả, giao cảm là mối liên hệ tự nhiên và tất yếu giữa những vật trong vũ trụ.
Những cặp giao cảm trong Chu Dịch
Giao cảm của vạn vật trong Chu Dịch gồm nhiều cặp. Có trời đất hợp đức, có nam nữ quan hệ với nhau, có mặt trăng và mặt trời luân chuyển cho nhau, có nước và lửa giao nhau, có sự điều hòa giữa khô và ướt. Mỗi cặp được gắn với một cặp quẻ: nước lửa giao nhau ở quẻ Ly và quẻ Khảm, khô ướt điều hòa ở quẻ Tốn và quẻ Đoài, khí âm khí dương giao nhau ở quẻ Càn và quẻ Khôn. Tất cả đều phản ánh quan hệ giao cảm giữa các hiện tượng, và qua đó thể hiện nguyên lý cơ bản về giao cảm âm dương của sách.
Cảm tức là thông
Tác giả tách ý này thành ba tầng. Tầng thứ nhất là cảm tức là thông. Đích đến của giao cảm âm dương là để đạt tới sự hanh thông, nên Hệ từ mới nói cảm mà liền thông được cái cớ của thiên hạ. Ông dẫn thêm lời Trương Tải, nhà triết học đời Bắc Tống, rằng không có vật nào không cảm, vì cảm chính là hợp. Lý do là vạn vật trong vũ trụ cùng thống nhất ở khí, nên sự cảm chính là sự tương cảm của khí âm và khí dương.
Cảm còn có nghĩa là động, mà động thì tất có ứng. Ông dẫn Trình Di đời Bắc Tống: phàm có động đều là cảm, đã cảm thì tất có ứng.
Hình cảm và thần ứng
Tầng thứ hai là hình cảm. Cảm là ứng, ứng thì thông, và sự thông ấy có cả dạng nhìn thấy được lẫn dạng không nhìn thấy. Vì vạn vật đều do khí hóa sinh, nên vật nào cũng có thể thông ứng với nhau. Đây là nền cho thuyết đồng loại hình cảm, tức cùng loại thì cảm nhau.
Đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu, thủy lưu thấp, hỏa tựu táo. Vân tòng long, phong tòng hổ.
Cùng tiếng thì ứng nhau, cùng hơi thì tìm nhau, nước chảy về chỗ ướt, lửa tới chỗ ráo, mây theo rồng, gió theo hổ, mỗi loài theo về loài của mình.
Tầng thứ ba là thần ứng. Những vật khác loại vẫn có thể cảm ứng với nhau, đó là cái gọi là dị loại thần ứng. Tác giả viện câu trong Hệ từ rằng cái không lường được của âm dương thì gọi là thần. Ba nguyên lý trời đất giao nhau, vạn vật tương cảm và cảm mà thông hợp lại làm nên nguyên lý âm dương giao cảm, một nguyên lý có ý nghĩa đặc biệt trong lý luận âm dương của Chu Dịch.
Động tĩnh phát triển thành đạo luyện đan và khí công
Từ lúc người ta thấy trời đất vận hành, người ta cũng bắt đầu học cách để hơi thở của mình đi theo nhịp ấy.
Sang phần nói về sự phát triển và ảnh hưởng của các nguyên lý, tác giả bắt đầu từ động tĩnh. Lý luận động tĩnh của Chu Dịch được Chu Đôn Di đời Bắc Tống nâng thành câu động sinh dương, tĩnh sinh âm. Theo tác giả, điều này không chỉ đóng góp cho tư tưởng biện chứng về sự hình thành vũ trụ, mà còn ảnh hưởng rất sâu đến đạo luyện đan và thuật khí công của Trung Hoa.
Trong Thái cực đồ thuyết, Chu Đôn Di viết rằng Thái cực động mà sinh dương, động đến cùng cực thì tĩnh, tĩnh mà sinh âm, tĩnh đến cùng cực lại trở về động. Một động một tĩnh làm gốc cho nhau, chia ra âm dương, và hai nghi từ đó lập nên. Tác giả đối chiếu với câu trong Chu Dịch rằng Dịch có Thái cực, Thái cực sinh hai nghi. Ở đây Thái cực là thể thống nhất của động tĩnh âm dương, còn hai nghi là biểu hiện của sự biến hóa động tĩnh. Âm dương vận động rồi sinh ra bát quái, nên Hệ từ mới nói động tĩnh chứa nhau mà làm nên biến hóa.
Trên nền tảng ấy, Chu Đôn Di xác nhận động sinh dương, tĩnh sinh âm, và đặt cơ sở cho đạo luyện đan. Trong cuốn Chu Dịch tham đồng khế thông chân nghĩa của Bành Hiểu đời Hậu Thục có ghi lại Thủy hỏa khuông quách đồ, Vô cực đồ của Trần Đoàn và Thái cực đồ của Chu Đôn Di. Tác giả nhận xét rằng Thủy hỏa khuông quách, Khảm Ly tương giao và âm dương hợp bao đều thể hiện nguyên lý động thì sinh dương, tĩnh thì sinh âm.
Về sau thuật khí công chia làm hai nhánh là động khí công và tĩnh khí công, cũng đứng trên nguyên lý ấy. Hai quan điểm quen thuộc, một bên cho rằng tuổi thọ nhờ ở vận động, một bên cho rằng tuổi thọ nhờ ở tĩnh nghỉ, đều có liên hệ với nó. Từ đó tác giả kết luận rằng nguyên lý âm dương động tĩnh trong Chu Dịch đã tạo ảnh hưởng rất sâu đến thuật khí công, thuật dưỡng sinh và đạo luyện đan của Trung Hoa.
Cương nhu nặn nên khí chất và triết lý nhân sinh
Cái cứng cái mềm không chỉ nằm trong các hào của quẻ, mà còn nằm trong cách một người đứng thẳng giữa đời.
Tác giả gọi lý luận cương nhu là hạt nhân của văn hóa âm dương Trung Hoa, và nêu ba điểm ảnh hưởng.
Khí chất luân lý của dân tộc
Điểm thứ nhất, lý luận cương nhu tạo nên khí chất luân lý Trung Hoa. Chu Dịch có sức ảnh hưởng lớn vì đã đem cái nghĩa dương cứng âm mềm vào đời sống tinh thần và luân lý. Dịch truyện buộc cứng mềm, mạnh thuận vào việc hun đúc khí chất con người.
Thiên hành kiện, quân tử dĩ tự cường bất tức. Địa thế khôn, quân tử dĩ hậu đức tải vật.
Trời đi mạnh mẽ, người quân tử theo đó mà tự cường không nghỉ. Thế đất là Khôn, người quân tử theo đó mà đem đức dày chở muôn vật. Thoán truyện của Càn còn khen đức nguyên của Càn lớn lao, vạn vật nhờ đó mà bắt đầu, và khen đức nguyên của Khôn là chân chính, hợp với cái vô cương, mềm thuận mà lợi ở nết trinh.
Nghệ thuật, thể thao và triết lý ứng xử
Điểm thứ hai, lý luận này thấm sâu vào văn học, nghệ thuật và thể thao Trung Hoa, tạo nên phong cách độc đáo và đặt nền cho những nét đặc sắc của văn hóa truyền thống. Điểm thứ ba, nó ảnh hưởng đến triết lý nhân sinh của người xưa, thống nhất ở cách lấy nhu thắng cương và lấy cương chế nhu. Thoán truyện quẻ Vị tế nói cương nhu tương ứng.
Tác giả nhận xét thêm rằng Dịch truyện có khuynh hướng coi trọng cứng hơn mềm. Nhiều câu cho thấy điều ấy: mềm thường thuận theo cứng, cứng quyết đoán mềm, cứng mạnh và dày đặc thì ngày một sáng mới, cứng mạnh nên không bị hãm vào chỗ hiểm. Những luận điểm này tạo ảnh hưởng lớn đến triết lý nhân sinh đề cao cái mạnh.
Lão Tử đẩy cái mềm lên cao
Lão Tử cũng chịu ảnh hưởng của nguyên lý âm dương tương ứng trong Dịch truyện mà coi trọng mối quan hệ giữa âm và dương, nhưng ông phát triển theo hướng riêng, đề cao cái mềm. Chương 43 nói cái mềm nhất thiên hạ chạy suốt cái cứng nhất thiên hạ, chương 78 nói yếu thắng mạnh, mềm thắng cứng. Quan điểm mềm yếu thắng cứng mạnh trong Lão Tử vô cùng phong phú. Tác giả cho rằng nó đã bổ sung cho triết lý cương nhu của Chu Dịch, đồng thời ảnh hưởng đến sự thống nhất giữa nhu và cương trong triết lý nhân sinh.
Hư thực đi vào lịch pháp, y học, nhạc luật và chiêm bốc
Trăng đầy rồi khuyết, nước vơi rồi đầy, và mọi nghề cần đến sự cân đo ấy đều tìm về cùng một lẽ.
Điểm tiếp theo là sự phát triển của lý luận âm dương hư thực, tức đầy và rỗng. Tác giả cho đây là nội dung quan trọng, có ảnh hưởng lớn tới việc các thế hệ sau phát triển và ứng dụng lý luận âm dương.
Lịch pháp và thiên văn
Thứ nhất là lĩnh vực lịch pháp và thiên văn cổ đại. Nguyên lý hư thực của Chu Dịch hiện ra ở chỗ vơi đầy, thêm bớt. Thiên Tạp quái nói tổn và ích là chỗ bắt đầu của thịnh suy. Sách đặc biệt chú ý đến quan hệ giữa thêm bớt và thời. Thoán truyện của quẻ Tổn nói bớt cương thêm nhu là tùy thời, tổn ích đầy vơi đều đi cùng với thời. Nguyên lý này ảnh hưởng sâu đến việc điều chỉnh và ứng dụng sự đầy khuyết của mặt trăng mặt trời trong lịch pháp và thiên văn.
Y học và nhạc luật
Thứ hai là y học và nhạc luật. Trong y học, người ta lấy nguyên lý âm dương hư thực làm cơ sở nghiên cứu bệnh lý và biện chứng bệnh, rồi lấy phép bổ chỗ hư, tả chỗ thực làm căn cứ chữa trị. Trong nhạc luật, người ta dựa vào trong đục, đầy rỗng để phân biệt dương luật và âm luật. Tác giả tổng kết rằng bốn nguyên lý lớn của Chu Dịch là động tĩnh, cương nhu, hư thực và giao cảm đều đã được phát triển và ứng dụng trong đời sống xã hội, và đó chính là dấu vết sâu sắc của lý luận âm dương trên văn hóa Trung Hoa.
Chiêm bốc và dự đoán
Thứ ba là chiêm bốc và dự trắc, tức bói toán. Nguyên lý đầy rỗng, thể hiện qua quan niệm ẩn hiện và đóng mở trong Chu Dịch, ảnh hưởng rất lớn đến việc xem mai rùa và dự đoán thời cổ. Phạm vi của nó gồm nhân sự, tai biến, đắp đê, quân sự, bệnh tật và khí tượng. Đây cũng là một hướng phát triển của lý luận âm dương đầy rỗng.
Giao cảm trong văn hóa dự đoán và thuyết thiên nhân cảm ứng
Có những điều con vật biết trước khi trời đổi, mà con người chỉ còn nhớ lờ mờ như một tiếng vọng xa.
Về nguyên lý giao cảm, tác giả nói rằng nó được ứng dụng rất rộng, dù xét theo mặt tích cực hay tiêu cực thì ảnh hưởng đều rất sâu. Trước hết là bộ môn văn hóa dự đoán. Lý luận giao cảm là cơ sở của cảm ứng và dự đoán, chủ yếu là cảm ứng sinh học và dự đoán dựa trên cảm ứng giữa sinh vật với các hiện tượng quanh nó.
Từ thời xa xưa, sinh vật vì yêu cầu sinh tồn mà phải biết tránh tai họa, nên buộc phải luyện khả năng cảm ứng, gồm cả cảm ứng giữa động vật với nhau và giữa thực vật với nhau. Khả năng cảm ứng sinh học của con người đến thời hiện đại đã mai một dần, và tác giả gọi đó là hiện tượng phản tổ của sự cảm ứng sinh. Tuy vậy, hiện tượng truyền cảm sinh học trong quan hệ thân duyên đây đó vẫn còn. Vì thế ông cho rằng việc ứng dụng nguyên lý giao cảm của Chu Dịch cho thấy rõ hiệu quả của sự truyền cảm sinh học, và nó có tương lai rộng, đưa nguyên lý giao cảm lên một bước phát triển mới.
Lý luận giao cảm từ xưa đã ăn sâu vào các nguyên lý chiêm bốc dự trắc và trở thành cơ sở cho môn này, đồng thời thúc đẩy nó phát triển. Kết hợp với chiêm bốc, nó nâng trình độ bói toán và dự đoán. Trong lịch sử có nhiều nhà chiêm bốc tài giỏi chính vì họ đã tiếp nhận và dùng nguyên lý này. Bởi vậy chiêm bốc trong Kinh Dịch trở thành bộ môn đi đầu của dự trắc học. Người xưa còn áp dụng nguyên lý giao cảm vào đắp đê, phòng thủy, kiến trúc và y học, và theo tác giả nó đã cấu thành nền văn hóa dự trắc, nơi văn hóa thần bí và phi thần bí giao nhau trong văn hóa phương Đông.
Mặt trái của thuyết thiên nhân cảm ứng
Điểm thứ hai là ảnh hưởng của thuyết thiên nhân cảm ứng. Chu Dịch nhấn mạnh âm dương giao cảm và xây dựng cơ sở lý luận cho hiện tượng cảm ứng sinh học, nhưng xét khách quan thì cũng gây nhiều ảnh hưởng không tốt cho sự hình thành thuật cảm ứng sinh học. Đổng Trọng Thư đời Tây Hán đã phát triển lý luận giao cảm này theo lối duy tâm. Khi nói đến thiên nhân cảm ứng, ông muốn nhân cách hóa và ý chí hóa trời đất, cho rằng con người là bản sao của trời và trời đất thường giao cảm với nhau.
Trong thiên Vi nhân giả thiên của Xuân thu phồn lộ có câu: người là gốc ở trời, và trời cũng là bậc tằng tổ của người. Từ đó họ cho rằng mọi hoạt động tinh thần của con người đều có thể làm trời cảm động, trời truyền ý chí xuống người, làm trái ý trời thì bị giáng họa, thuận ý trời thì được ban phước. Hệ quả, theo tác giả, là việc đánh giá và nhận định Chu Dịch bị lệch, vì tác phẩm bị khoác lên chiếc áo thần bí.
Kết lại, ông nói nguyên lý âm dương giao cảm làm phong phú thêm lý luận âm dương trong Chu Dịch, ảnh hưởng sâu sắc tới ngành dự đoán khoa học và thuyết cảm ứng của các thế hệ sau.
Nguồn: Kinh điển văn hóa 5000 năm Trung Hoa - Tập 1 (Dương Lực), thuật lại có lược bớt.
