Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Khuyên Thiện

Bài tổng quan

Ngu Phiên dựng thuyết quái biến và gom tượng số Hán Ngụy

Đạo Học - Khuyên Thiện03/10/20266 phút đọc3 lượt đọc
Ngu Phiên dựng thuyết quái biến và gom tượng số Hán Ngụy

Tôn Quyền nhờ ông bói về số phận Quan Công, ông gieo được hào năm của quẻ Tiết biến ra quẻ Lâm và đoán trong hai ngày Quan Công sẽ bị chém. Việc ấy ứng đúng. Người giỏi bói ấy cũng là người dựng cách đổi quẻ mà đời sau còn dùng mãi.


Ngu Phiên, sống từ năm 146 đến năm 233, tự Trọng Tường, người đất Cối Kê, Dư Diêu, nay thuộc Chiết Giang. Ông là người nước Ngô thời Tam Quốc, một Dịch học gia và nhà tượng số nổi tiếng. Ông đỗ Mậu tài, vua Hán triệu mời ra làm quan nhưng ông không nhận. Ông viết thư cho Khổng Dung, bày tỏ ý định soạn Dịch chú.

Người bói giỏi, người can gián thẳng

Tam quốc chí kể ông giỏi cả thuật bói phệ. Khi Lã Mông bày mưu bắt Quan Công và Quan Công thất bại, Tôn Quyền nhờ ông bói về việc ấy. Ông gieo được hào năm của quẻ Tiết, biến ra quẻ Lâm, và nói rằng trong hai ngày Quan Công ắt bị chém đầu. Sự việc về sau đúng như thế.

Vì hay nói thẳng can gián Tôn Quyền, ông bị đày đến Đan Dương. Dù bị biếm, ông vẫn miệt mài dạy học và học trò lên tới hàng trăm người.

Thầy Nhất Hàng đời Đường nhận xét rằng quẻ mười hai tháng xuất phát từ Mạnh Hỉ, phép phân quái trực nhật của Tiêu Kinh đều là học thuật của Mạnh, và Dịch của Ngu Phiên cũng từ Mạnh học mà ra, nhưng chặt chẽ hơn của Tiêu Kinh. Bộ Ngu Phiên Chu Dịch chú chín quyển đã mất, nhưng phần lớn được đưa vào Chu Dịch tập giải của Lý Đỉnh Tộ. Người đời Thanh như Tôn Đường, Huệ Đống, Trương Huệ Ngôn, Kỷ Lỗi, Lý Nhuệ đều có sưu tập và chỉnh lý riêng. Ngu Phiên cùng Tuân Sảng, Trịnh Huyền được gọi là ba đại Dịch gia.

Thuyết quái biến: một quẻ hóa nhiều quẻ

Từ phép đổi chỗ hai hào giữa của Càn Khôn, ông mở ra cả một bảng biến hóa.

Trên nền thuyết hào vị thăng giáng của Tuân Sảng, Ngu Phiên dựng nên thuyết quái biến. Cách làm của ông mở rộng phép hỗ dịch hào âm hào dương, gồm mấy lối.

Lối thứ nhất, đổi chỗ hào hai và hào năm của Càn và Khôn, được Khảm và Ly; Khảm Ly lại biến ra bốn quẻ Chấn, Đoài, Tốn, Cấn, theo ý Càn Khôn là tổ của mọi quẻ.

Lối thứ hai, từ mười hai quẻ tiêu tức, biến dần ra sáu mươi bốn quẻ theo bốn lượt. Lượt đầu từ quẻ Cấu, một âm một dương thăng giáng sinh ra một nhóm quẻ như Bác, Dự, Khiêm, Sư, Đại hữu, Tiểu súc, Đồng nhân. Lượt hai lấy hào hai của Lâm và Độn làm đại diện, lượt ba lấy hào ba của Thái và Bĩ, lượt bốn lấy hào bốn của Đại tráng và Quán. Cuối cùng thêm hai quẻ Tiểu quá và Trung phu vì không áp được quy luật ấy, đủ sáu mươi bốn quẻ.

Lối thứ ba, đổi cả sáu hào từ âm sang dương và ngược lại, được quẻ tương phản: sáu hào dương của Càn đổi thành sáu hào âm của Khôn, quẻ Ly đổi thành quẻ Khảm. Lối thứ tư, chỉ đổi hai hào âm dương của một quẻ để được quẻ khác, như hào đầu và hào trên của quẻ Phục hỗ biến thành quẻ Bác.

Ý nghĩa của quái biến là làm cho tượng quẻ linh hoạt, khiến sáu mươi bốn quẻ sống động tối đa. Một quẻ có thể biến ra nhiều quẻ, nên người giải quẻ có nhiều đường đi hơn. Điều này ảnh hưởng sâu sắc đến việc bói phệ, nhưng mục đích chính của Ngu Phiên không phải bói mà là giải kinh. Chẳng hạn, chú lời Thoán về chứa lớn, ông giải: cứng mạnh là tính của Càn, vững thực là tính của Cấn, hào hai đi đến hào năm thì lội qua sông lớn có lợi, hỗ thể là Ly và Khảm nên ánh sáng tỏa rạng, ngày ngày đổi mới. Quái biến ở đây là một công cụ mở rộng phạm vi giải Dịch.

Mặt trăng nạp giáp và tiếng nói của mười hai quẻ tiêu tức

Khi bát quái được gắn vào những đêm trăng, bảng quẻ khô khan bắt đầu có nhịp thở.

Nhìn ngược dòng lịch sử Dịch học, Ngu Phiên là người sáng tạo sớm nhất thuyết nguyệt thể nạp giáp; Ngụy Bá Dương với Chu Dịch tham đồng khế chỉ phát triển và ứng dụng trên cơ sở ấy. Chu Dịch tập giải dẫn lời ông giải Hệ từ: mặt trăng mặt trời treo trên trời thành tượng của bát quái; mùng ba tượng Chấn, ló ra ở Canh; mùng tám tượng Đoài, hiện ở Đinh; ngày rằm tượng Càn, đầy ở Giáp. Bao gồm đủ trăng non, thượng huyền, trăng tròn, hạ huyền và trăng tàn, nội dung nạp giáp theo mặt trăng gần như hoàn chỉnh.

Ông cũng rất coi trọng mười hai quẻ tiêu tức. Theo Huệ Đống: Thái, Đại tráng, Quải ứng với mùa xuân; Càn, Cấu, Độn với mùa hạ; Bĩ, Quán, Bác với mùa thu; Khôn, Phục, Lâm với mùa đông; mười hai quẻ ấy biến thông lẫn nhau suốt bốn mùa. Ông dùng chúng để giải kinh. Chẳng hạn khi giải câu quân tử chuộng tiêu tức doanh hư, đó là đạo vận hành của trời, ông viết rằng Càn là quân tử, Càn tăng là đầy, Khôn giảm là hư. Giải câu không cần gào khóc, cuối cùng không thể lâu dài, ông viết đạo âm tiêu diệt nên không thể kéo dài. Ông còn nhấn mạnh con người cũng phải tùy thời mà tiêu tức, tương ứng với đầy vơi của trời.

Thuyết quái khí bắt đầu ở Mạnh Hỉ, phát triển ở Kinh Phòng, được Ngu Phiên tổng kết và Ngụy Bá Dương đem ứng dụng.

Tập đại thành của tượng số Hán Ngụy

Tổng kết một thời không có nghĩa là khép lại, mà là trao lại một công cụ cho người sau.

Với hai thành tựu lớn của tượng số đời Hán là quái khí và quái biến, Ngu Phiên đã phát triển thêm và dùng chúng để giải Dịch, mở rộng phạm vi dùng tượng số. Từ quái biến suy ra điều lành dữ của việc người, thuyết ấy linh hoạt và dễ thích ứng hơn cách đoán cát hung của Kinh Phòng, nên ảnh hưởng lớn đến thuật bói phệ. Phép biến của ông trở thành gợi ý đoán biến cho người đời sau. Chính từ gợi ý của quái biến Ngu Phiên mà Thiệu Ung sáng ra Mai Hoa Dịch số, được gọi là một tuyệt kỹ của chiêm Dịch.

Thuyết của ông còn thúc đẩy tư duy tượng số, vốn là sự kết hợp giữa tư duy biện chứng với thuật số âm dương ngũ hành. Quái biến phản ánh mối quan hệ đối lập mà thống nhất của vạn vật, lại tiếp thu đầy đủ lẽ âm dương tiêu tức để giải Dịch, nên ảnh hưởng sâu sắc đến lối tư duy ấy.

Tóm lại, Ngu Phiên là Dịch học gia nổi tiếng thời Hán Ngụy, có tác dụng đẩy mạnh tích cực cho tượng số và Dịch học, giữ một vị trí quan trọng trong Hán Dịch.

Nguồn: Dương Lực, Kinh điển văn hóa 5000 năm Trung Hoa - Tập 3, thuật lại có lược bớt.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Khuyên Thiện