Bài tổng quan
Số dịch Hà Lạc, hoa mai, Hoàng cực và dịch học Thanh
Cùng một dãy số sinh thành, có người dùng nó để giải thích sự hóa sinh của trời đất, có người lại dùng nó để khởi một quẻ ngay giữa phố. Đến đời Thanh, một vị học giả ngồi nhặt từng mảnh sách Hán rơi rụng, chỉ sợ để mất thêm một chữ...
Số dịch Hà Lạc, cột mốc của số dịch đời Tống
Bên cạnh đồ dịch học, tác giả xem số dịch học là thành tựu nổi bật thứ hai của tượng số dịch Tống, có ảnh hưởng nhất định đến lịch sử phát triển ngành tượng số dịch học. Điểm đầu tiên ông nêu là số dịch Hà Lạc, cột mốc đánh dấu sự phát triển của số dịch. Số dịch Hà Lạc là tiêu biểu kiệt xuất của sự kết hợp giữa âm dương và ngũ hành trong số dịch, và là một thành tựu chủ yếu của Dịch Tống.
Ngũ hành vốn bắt nguồn từ âm dương, thuyết số sinh thành ngũ hành và các số chẵn lẻ của Hà Đồ Lạc thư có gốc từ số của âm dương trời đất trong Chu Dịch. Dịch truyện viết:
Thiên nhất, địa nhị, thiên tam, địa tứ, thiên ngũ, địa lục, thiên thất, địa bát, thiên cửu, địa thập. Thiên số ngũ, địa số ngũ, ngũ vị tương đắc nhi các hữu hợp. Thiên số nhị thập hữu ngũ, địa số tam thập, phàm thiên địa chi số ngũ thập hữu ngũ.
Trời một, đất hai; trời ba, đất bốn; trời năm, đất sáu; trời bảy, đất tám; trời chín, đất mười. Có năm số của trời và năm số của đất, mỗi số đứng vào một ngôi đều có sự phối hợp. Tổng số trời là hai mươi lăm, tổng số đất là ba mươi, cộng lại trời đất là năm mươi lăm. Dựa trên cơ sở đó, nhà dịch học đời Hán là Trịnh Huyền đưa ra địa số ứng với Thủy, Mộc, Thổ và thiên số ứng với Hỏa, Kim, rồi kết hợp số trời đất với số ngũ hành trong Kinh Dịch, như viết trong phần truyện về đại diễn chi số:
Thiên nhất sinh Thủy ư Bắc, địa nhị sinh Hỏa ư Nam, thiên tam sinh Mộc ư Đông, địa tứ sinh Kim ư Tây, thiên ngũ sinh Thổ ư Trung... Địa lục thành Thủy ư Bắc... Thiên thất thành Hỏa ư Nam... Địa bát thành Mộc ư Đông... Thiên cửu thành Kim ư Tây... Địa thập thành Thổ ư Trung. Đại diễn chi số ngũ thập hữu ngũ, ngũ hành các khí tính.
Nghĩa là trời một sinh Thủy ở phương Bắc, đất hai sinh Hỏa ở phương Nam, trời ba sinh Mộc ở phương Đông, đất bốn sinh Kim ở phương Tây, trời năm sinh Thổ ở chính giữa; đất sáu thành Thủy ở phương Bắc, trời bảy thành Hỏa ở phương Nam, đất tám thành Mộc ở phương Đông, trời chín thành Kim ở phương Tây, đất mười thành Thổ ở chính giữa. Số đại diễn là năm mươi lăm, ngũ hành hợp các khí tính lại.
Đến thời Tống, trong Long đồ tam biến, Trần Đoàn lấy quan hệ đối ngẫu trong số sinh thành của ngũ hành để phản ánh Long đồ, và Long đồ tự đã miêu tả mối quan hệ ấy:
Hậu kí hợp dã, thiên nhất cư thượng vi đạo chi tông, địa lục cư hạ vi khí chi bản.
Nghĩa là về sau người ta tập hợp lại, trời một ở trên cao làm tâm của đạo, đất sáu ở phía dưới làm nền tảng của khí. Tuy Long đồ tự chỉ nói đến số sinh thành của Thủy, nhưng Long đồ nhị biến, hợp hai số thiên và địa, đã phản ánh rất rõ quan hệ đối ngẫu của số sinh thành ngũ hành. Cửu cung đồ và ngũ hành sinh thành đồ trong Long đồ tam biến của Trần Đoàn trở thành biểu tượng của số sinh thành ngũ hành.
Thời Bắc Tống, Lưu Mục tự đưa ra thuyết Hà Lạc: ông gọi ngũ hành sinh thành đồ của Trần Đoàn là Lạc thư, tức cái mà Chu Hy gọi là Hà Đồ, còn Cửu cung đồ thì gọi là Hà Đồ, cái mà Chu Hy gọi là Lạc thư. Ông cũng dựa trên sự kết hợp giữa số sinh thành ngũ hành và số đại diễn mà lập thuyết đồ chín Lạc mười, trình bày rõ thêm về số sinh thành ngũ hành. Sách của ông viết:
Thử nãi ngũ hành sinh thành chi số dã. Thiên nhất sinh Thủy, địa nhị sinh Hỏa, thiên tam sinh Mộc, địa tứ sinh Kim, thiên ngũ sinh Thổ, thử kỳ sinh số dã. Như thử, tắc dương vô phối, âm vô ngẫu, cố địa lục thành Thủy, thiên thất thành Hỏa, địa bát thành Mộc, thiên cửu thành Kim, địa thập thành Thổ. Ư thị âm dương các hữu phối ngẫu, nhi vật đắc thành yên, cố vi chi thành số dã.
Đó là số sinh thành của ngũ hành: trời một sinh Thủy, đất hai sinh Hỏa, trời ba sinh Mộc, đất bốn sinh Kim, trời năm sinh Thổ, ấy là các số sinh. Nếu chỉ như vậy thì dương không có đôi, âm không có cặp, nên đất sáu thành Thủy, trời bảy thành Hỏa, đất tám thành Mộc, trời chín thành Kim, đất mười thành Thổ. Thế là âm dương đều có cặp có đôi, vạn vật mới thành, cho nên gọi đó là số thành.
Điều đó chứng tỏ số sinh thành ngũ hành rất được coi trọng trong Dịch Tống. Lưu Mục đã kết hợp số sinh thành ngũ hành với số đại diễn của Kinh Dịch làm trung tâm của đồ chín Lạc mười, tức Hà Đồ và Lạc thư, dùng để giải thích nguyên lý sinh thành của vũ trụ, đưa số sinh thành ngũ hành lên mức cao của luận bản thể triết học. Ví dụ, sự kết hợp giữa Hà Đồ, Lạc thư với bát quái làm thành một mô thức giải thích sự sinh thành của vũ trụ. Ngoài ra còn có sự kết hợp số sinh thành Hà Lạc với cửu cung bát phong để giải thích quy luật sinh, thành, hóa, thu, tàng của vạn vật. Tác giả nhận xét điều này phản ánh sự thực là số dịch đời Tống đã đi từ chiêm phệ lên mức cao của triết học, nên số dịch Hà Lạc đánh dấu một cột mốc mới cho sự phát triển của số dịch.
Số dịch hoa mai và số dịch Hoàng cực
Cùng một dãy số sinh thành, người này dùng nó để giải thích sự hóa sinh của trời đất, người kia lại dùng nó để khởi một quẻ ngay giữa phố.
Điểm thứ hai là ảnh hưởng của số dịch hoa mai trong phép chiêm phệ cổ. Đời Tống, ngoài số dịch Hà Lạc, số dịch hoa mai cũng có ảnh hưởng rất lớn. Số dịch hoa mai căn cứ nguyên lý khởi quẻ rằng vạn vật đều là số, vạn vật đều có loại tượng, và tương truyền do Thiệu Ung sáng tạo. Sách Mai hoa dịch số gồm năm quyển, chuyên giải thích về chiêm bằng số. Đặc điểm của nó là lấy số làm cơ sở khởi quẻ, gồm số quẻ, số thời, số vật, số âm thanh, số can chi, số năm tháng ngày giờ, số chữ, số ngày sinh giờ sinh, số thước, số độ, số người, số phương vị cửu cung, số sinh thành ngũ hành và số mười hai con giáp. Ưu thế của số dịch hoa mai là kết hợp số với thời gian, không gian để chiêm về quẻ.
Vì số dịch hoa mai lấy số làm điểm khởi quẻ, nên tính linh hoạt của việc khởi quẻ và tính khả biến của việc giải quẻ tăng lên; phương pháp gọn mà biến hóa không lường trước được, do đó được dân gian hoan nghênh hưởng ứng. Sự hưng khởi của phép chiêm số dịch hoa mai giúp chiêm Dịch phát triển mạnh mẽ, và về khách quan, cũng có tác dụng truyền bá Chu Dịch.
Điểm thứ ba là số dịch Hoàng cực, bắt nguồn từ sách Hoàng cực kinh thế của Thiệu Ung. Đây là phương pháp suy đoán từng bước của ông, lấy số suy diễn để đoán lịch sử vũ trụ và nhân loại. Theo cách giải thích được dẫn lại, lớn nhất gọi là Hoàng, ở chính giữa gọi là cực, chân chính gọi là Kinh, biến hóa nhất gọi là Thế. Việc dùng các số đại, trung, chính, biến chính là phương pháp ứng với vạn biến. Số dịch này dùng các số nguyên, hội, vận, thế, kết hợp cụ thể với nhật, nguyệt, tinh, thần. Mặt trời là một chu kỳ vận động của ngày, lấy nhật kết hợp với nguyên. Một năm có mười hai lần giao hòa của trăng, lấy nguyệt kết hợp với hội. Mặt trời đi qua các tinh tú trong một năm là ba trăm sáu mươi, lấy tinh kết hợp với vận. Một ngày có mười hai giờ thần, lấy thần kết hợp với thế. Từ đó có một hệ mẫu số:
Nguyên chi nguyên nhất, nguyên chi hội thập nhị, nguyên chi vận tam bách lục thập, nguyên chi thế tứ thiên tam bách nhị thập... Thế chi thế nhất thiên bát bách lục thập lục vạn nhị thiên tứ bách.
Nghĩa là lấy nguyên làm chuẩn: một nguyên bằng mười hai hội, bằng ba trăm sáu mươi vận, bằng bốn nghìn ba trăm hai mươi thế; còn thế của thế là một nghìn tám trăm sáu mươi sáu vạn hai nghìn bốn trăm. Tính ra số năm thì một thế là ba mươi năm, một vận là mười hai thế tức ba trăm sáu mươi năm, một hội là ba mươi vận, một nguyên là mười hai hội, tổng cộng một trăm hai mươi chín nghìn sáu trăm năm. Từ đó suy ra, nguyên của hội là một triệu năm trăm năm mươi lăm nghìn hai trăm năm, nguyên của vận là bốn mươi sáu triệu sáu trăm năm mươi sáu nghìn năm, nguyên của thế là năm trăm năm mươi chín triệu tám trăm bảy mươi hai nghìn năm, và còn có thể suy đến thần của thần thì mới xong một chu kỳ lớn, suy nữa thì đến vô cùng.
Tác giả nhận xét rằng số dịch Hoàng cực dùng phương pháp cụ thể để suy chiêm lịch sử vũ trụ và xã hội loài người, lấy chu kỳ tăng giảm của âm dương để giải thích các hiện tượng tự nhiên, phù hợp với nguyên lý âm dương của Kinh Dịch, và là sự phát triển của lý luận âm dương Kinh Dịch. Nhưng dùng nó để suy chiêm sự thịnh suy của lịch sử xã hội loài người thì không tránh khỏi gượng ép, trái với lý luận của Kinh Dịch, không thể chấp nhận. Bởi Kinh Dịch nhấn mạnh tính năng động chủ quan, coi trọng năng lực của con người; đem sự tăng giảm cứng nhắc của âm dương trong giới tự nhiên áp vào việc xã hội là điều tiêu cực. Nói tóm lại, đồ dịch và số dịch là hai thành tựu lớn của Dịch Tống, đưa tượng số Dịch Tống đến đỉnh điểm phát triển và thúc đẩy ngành dịch học.
Dịch Thanh chỉnh lý Dịch Hán, Tứ khố toàn thư gom lại rừng sách
Sách đời Hán rơi rụng từng quyển, như những cánh cửa gỗ mục; đến đời Thanh có người quyết dựng lại cả ngôi nhà từ những mảnh còn sót.
Về tượng số Dịch Thanh, tác giả nêu trước hết việc Thanh Dịch chỉnh lý và kế thừa Dịch Hán. Thành tựu chủ yếu của tượng số Dịch Thanh là mở rộng ngành tượng số Dịch Hán. Tượng số Dịch Hán là thành tựu nổi trội của Dịch Hán, nhưng hầu hết các tác phẩm nổi tiếng đều bị thất lạc. Chu Dịch tập giải của Lý Đỉnh Tộ và Kinh điển thích văn của Lục Đức Minh đời Đường đã ghi lại được phần nào, nhưng vẫn mất mát nhiều.
Đời Thanh, có hai nhà dịch học có công chỉnh lý Dịch Hán là Huệ Đống và Trương Huệ Ngôn. Huệ Đống với sách Dịch Hán học đã gom dịch học của Mạnh Hỷ, Ngu Phiên, Tuân Sảng, Can Bảo, Trịnh Huyền, rồi trình bày và mở rộng thêm, làm sáng tư tưởng học thuật của năm nhà dịch đời Hán. Thời Hán là thời kỳ trọng đại của việc truyền bá Lục kinh, trong đó có Kinh Dịch. Trong lời tựa Dịch Hán học có nói đại ý: Lục kinh do Khổng Tử san định, bị hủy ở đời Tần, được truyền ở đời Hán; Hán học mất đã lâu, còn đọc được Thi, Lễ, Công Dương thì có ba nhà Mao, Trịnh, Hà; Xuân Thu bị họ Đỗ làm rối loạn, Thượng Thư bị họ Khổng làm rối loạn, Kinh Dịch bị họ Vương, tức Vương Bật, làm rối loạn. Vì sách nguyên bản thất lạc nên các đời sau trình bày không thống nhất. Huệ Đống cho rằng Kinh Dịch đã bị Vương Bật làm rối; ông lo người họ Vương lấy cái gọi là giả tượng để giải Dịch, lấy gốc từ Hoàng Lão, khiến nghĩa lý của các kinh sư đời Hán không còn gì lưu giữ. Vì thế Huệ Đống quyết khôi phục diện mạo của Dịch Hán, đó là mục đích ông chỉnh lý Dịch Hán.
Dịch Hán học tập trung ghi lại Quái khí đồ thuyết của Mạnh Hỷ, trong đó có mười hai quẻ. Ngu Phiên được chú trọng thu thập ở phần Giáp nạp bát quái, Kinh Phòng ở phần ngũ hành, Trịnh Huyền chủ yếu ở các hào, còn Tuân Sảng tập trung ở thuyết Càn thăng Khôn giáng. Về cơ bản sách đã phản ánh nét tinh hoa của tư tưởng học thuật Dịch Hán.
Kế tiếp Huệ Đống là Trương Huệ Ngôn, một nhà dịch học kiệt xuất của đời Thanh. Tác phẩm Dịch nghĩa biệt lục của ông dung nạp mười lăm thuyết của các tác giả nổi tiếng như Mạnh Hỷ, Kinh Phòng, Can Bảo, Mã Dung, Vương Túc, Tử Hạ, rồi chỉnh lý toàn diện Dịch Hán. Ông còn có Chu Dịch Ngu thị nghĩa và Ngu thị tiêu tức, nâng tư tưởng học thuật của Ngu Phiên lên rất nhiều. Ông cho rằng Ngu Phiên truyền cho Mạnh Hỷ, đạt được chính tông Dịch Hán, trở thành dòng chính trong lý dịch Hán, nên lấy việc chỉnh lý Ngu học làm chủ đạo. Sau Huệ Đống và Trương Huệ Ngôn là Đào Phối Trung với Chu Dịch Đào thị học, đi sâu trình bày và phát huy tư tưởng của Trịnh Huyền.
Về sau, việc chỉnh lý Dịch Hán được nhiều dịch học gia dốc sức hoàn thiện, như Hán Ngụy nhị thập nhất gia Dịch chú của Tôn Đường, Ngọc hàm sơn phòng tập dật thư của Mã Quốc Hàn, Hán học đường tùng thư của Hoàng Thích, Kinh học thông luận của Bì Thích. Từ đó Dịch Hán được mở rộng và phát huy trong thời Thanh, đồng thời phản ánh thành tựu lớn của ngành tượng số dịch học đời Thanh.
Đóng góp thứ hai là của Tứ khố toàn thư, đợt chỉnh lý cổ tịch với quy mô lớn nhất trong lịch sử Trung Quốc, do các quan lại triều vua Càn Long biên soạn. Bộ sách đặt Dịch lên hàng đầu và đánh giá cao ngành dịch học:
Dịch đạo quảng đại, vô sở bất bao. Bàng cập thiên văn, địa lý, nhạc luật, binh pháp, vận học, toán thuật, dĩ kiện phương ngoại chi lô hỏa, giai khả viện Dịch dĩ vi thuyết.
Đạo Dịch rộng lớn không có gì mà nó không chứa, trải đến cả thiên văn, địa lý, nhạc luật, binh pháp, vận học, toán thuật. Tứ khố toàn thư không chỉ thu được một khối đồ sộ hơn năm trăm loại tác phẩm về Dịch, tổng cộng ba trăm mười bảy bộ với hai nghìn ba trăm bảy mươi mốt quyển, mà còn có năm mươi loại sách con chép về tượng số chiêm phệ của Dịch, như Hoàng cực kinh thế, Độn giáp diễn nghĩa, Lục Nhâm đại toàn, Kinh thị Dịch truyện, Tam dịch động cơ, Dịch chiêm kinh vĩ. Về khách quan, nó có tác dụng bảo tồn tượng số dịch học và giúp dịch số học được lưu truyền, đó là một cống hiến lớn của dịch học triều Thanh.
Tóm lại, thành tựu chủ yếu của tượng số học đời Thanh có hai mặt: một là việc chỉnh lý, sưu tầm, biên soạn của các dịch gia như Huệ Đống, Trương Huệ Ngôn và của các kinh học gia như Tôn Đường, Mã Quốc Hàn, Hoàng Thích; hai là thành tựu của Tứ khố toàn thư trong việc biên soạn ghi chép toàn diện về dịch học và chỉnh lý lại dịch thuật số.
Phái nghi cổ và cách nhìn xã hội học về Chu Dịch
Có một thời, người ta nhìn Kinh Dịch bằng con mắt kẻ nghi ngờ mọi bức tượng cổ, và kéo cả tuổi của sách lùi lại mấy trăm năm.
Về dịch học hiện đại, tác giả điểm các thành tựu chủ yếu của phái nghĩa lý. Điểm đầu tiên là phái nghi cổ, lấy quan điểm xã hội học để giải thích Chu Dịch, đã có tác dụng tích cực đối với phái nghĩa lý. Phái nghi cổ chịu ảnh hưởng tư tưởng nghi cổ của những năm ba mươi, nên đã đẩy lịch sử văn minh Trung Quốc lùi lại mất vài thế kỷ. Họ cho rằng thời Hạ, Thương, Chu là thời khai sinh của công xã nguyên thủy.
Dưới ảnh hưởng của quan điểm phiến diện ấy, phái nghi cổ đẩy thời điểm hình thành Kinh Dịch lùi về thời Chiến Quốc, tức lùi hẳn năm thế kỷ. Họ cho rằng Kinh Dịch do học trò Khổng Tử là Tử Cống biên soạn, và Tử Cống được cho là cùng thời với Tử Tư. Họ cũng kéo niên đại hình thành Dịch truyện về thời Hán, cho rằng Dịch truyện do học trò của Tuân Tử soạn, và câu Tử viết là lời của Tuân Tử chứ không phải của Khổng Tử. Tác giả đánh giá quan điểm này là hoang đường. Họ còn phủ nhận quan hệ giữa Khổng Tử và Kinh Dịch, thậm chí bóp méo bản chất Kinh Dịch thành thứ bùa làm bằng thẻ và cho rằng đó là cảnh người nguyên thủy khiêu vũ khỏa thân. Quan điểm này của phái nghi cổ đã thống trị giới học thuật suốt khoảng ba mươi năm, từ những năm năm mươi đến những năm bảy mươi.
Tuy vậy, họ vẫn gây những ảnh hưởng quan trọng đến việc nghiên cứu Chu Dịch, bởi họ là những người đầu tiên đưa ra niên đại của Chu Dịch và đời sống xã hội của thời đại Chu Dịch. Nhìn từ góc độ xã hội học, dù họ đánh giá Chu Dịch tương đối thấp, họ đã có công gióng tiếng chuông mở màn cho việc nghiên cứu Chu Dịch theo hướng xã hội học và xã hội sử. Dù có những đánh giá lịch sử không đúng đối với Chu Dịch, họ cũng mở ra quan điểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử. Hướng nhìn mới từ góc độ xã hội sử ấy mở rộng tầm ảnh hưởng xã hội của Chu Dịch, và có vai trò quan trọng trong việc nghiên cứu Chu Dịch của phái nghĩa lý.
Nguồn: Kinh điển văn hóa 5000 năm Trung Hoa - Tập 1 (Dương Lực), thuật lại có lược bớt.
