Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Khuyên Thiện

Bài tổng quan

Nghiệp lực, luân hồi và năm thuyết duyên khởi của nhà Phật

Đạo Học - Khuyên Thiện04/10/202611 phút đọc2 lượt đọc
Nghiệp lực, luân hồi và năm thuyết duyên khởi của nhà Phật

Một sức mạnh không có mặt, không có tên thần, mà vẫn xoay chuyển đời người qua ba kiếp. Rồi cùng một câu hỏi về nơi muôn vật khởi đầu, năm dòng học thuật trả lời bằng năm cách khác nhau, người thấy nước, người thấy mạch ngầm, người thấy nguồn trên núi. Họ khác nhau ở đâu?


Nghiệp lực: một sức mạnh không mặt nhưng có luật

Trong tự nhiên, kể cả đời sống con người, có một nguồn lực mà người ta chưa làm rõ được, tạm gọi là thần dụng. Phật học nghiên cứu nguồn lực ấy, nhưng vì nhà Phật không tin vào thần nên gọi nó là nghiệp lực, tức sức của việc làm, tượng trưng cho một công năng. Nói ngắn, nghiệp lực là một lực siêu cường trong tự nhiên. Nó hiện ra ở hai mặt.

Luật nhân quả của nghiệp lực

Mọi sự vật từ lúc sinh ra đến lúc mất đi đều có một nguồn lực vô hình điều khiển và chế ngự. Nguồn lực của vật này lại có thể sinh ra nguồn lực của vật khác. Trong đó, năng lực riêng của từng vật gọi là biệt nghiệp, năng lực chung của nhiều vật gọi là cộng nghiệp, và giữa nghiệp lực, biệt nghiệp, cộng nghiệp có hàng trăm nghìn mối liên hệ.

Vì thế lý luận nghiệp lực nói rằng nghiệp lực có quan hệ nhân quả: nghiệp lực của vật này trở thành nhân của nghiệp lực vật khác, có nghiệp nhân và nghiệp quả; một nghiệp nhân có thể sinh nhiều nghiệp quả; thiện nghiệp sinh quả vui, ác nghiệp sinh quả ác; nhân nào quả nấy. Đó là luật nhân quả của nghiệp lực, và cũng chính là nguồn lực tự nhiên đẩy sự vật phát triển, tức mười hai nhân duyên. Nghiệp nhân quả bao gồm nhân quả báo ứng. Biệt nghiệp của một vật riêng lẻ sinh biệt báo; cộng nghiệp của nhiều vật hợp lại sinh cộng báo của cả cộng đồng. Biệt nghiệp của một người thì dễ sửa; cộng nghiệp của nhiều vật thì rất khó đổi. Nhưng có nhân tất có quả, và nguồn lực làm cho nhân quả chuyển hóa giữa vạn vật chính là luật nhân quả nghiệp lực.

Luân hồi theo nghiệp lực

Một người nhìn cảnh khổ hôm nay và hỏi: có phải gốc của nó nằm tận một đời nào đó đã đi qua?

Nghiệp lực luân hồi là đem luật nhân quả của nghiệp lực áp vào nhân quả báo ứng về đạo đức. Nghĩa là con người có tam thế luân chuyển, kiếp trước, kiếp này, kiếp sau, và nguồn lực thúc đẩy ba đời xoay vần ấy là một lực vô hình tạo nên số phận. Nhà Phật không nói thần linh chi phối vận mệnh con người mà nói đó là một nguồn lực vô hình trong tự nhiên. Đây cũng là chỗ khác của đạo Phật với các tôn giáo phương Tây.

Theo thuyết ba đời, nghiệp lực nhân quả của một người không chỉ gói trong một kiếp mà nối ba kiếp, thậm chí nhiều hơn. Nên tu Phật phải để ý quả báo của vận mệnh theo nghiệp: thiện có thiện báo, ác có ác báo, gọi là quả báo thiện nghiệp và quả báo ác nghiệp. Quả báo còn ảnh hưởng tới kiếp sau và xa hơn nữa, nên nhà Phật đề cao lòng từ bi và làm thiện.

Trong vận mệnh con người, mệnh là phần cố định, sinh ra đã có, còn vận thì có thể dời đổi. Đó là lý do nhà Phật nhấn mạnh quả báo của thiện nghiệp. Khi sống làm thiện thì được lên cõi lành, làm ác nhất định bị đày xuống cõi dữ. Phúc ở kiếp này là quả báo của thiện nghiệp kiếp trước, khổ ở kiếp này là quả báo của ác nghiệp kiếp trước. Quan niệm tam thế luân chuyển là một niềm tin, nhưng có ý nghĩa tích cực trong việc ngăn điều ác, khuyến khích điều thiện cho xã hội.

Giá trị và giới hạn

Lý luận nghiệp lực nhấn mạnh luật nhân quả, nêu lên mối gắn bó qua lại giữa vạn vật. Nhà Phật dùng biệt nghiệp và cộng nghiệp để phản ánh quy luật của những mối liên hệ giữa nhiều sự vật, nhất là mối liên hệ giữa nguyên nhân và kết quả. Lý luận không chỉ chú ý sự gắn bó giữa nhân và quả mà còn coi trọng nguồn lực ẩn vô hình giữa chúng, gọi là nghiệp lực tự nhiên. Đó là một thứ thần dụng nhưng không phải thần.

Khi đặt vào thế giới tự nhiên thì quả báo của nghiệp lực chính là cơ chế cân bằng của tự nhiên, là hiệu ứng của trạng thái tự ổn định. Ví như thời tiết: xuân, hạ, thu, đông, mát, nóng, ấm, lạnh thay nhau, và nghiệp lực tự nhiên ấy không thể dùng ý muốn con người để dời đổi. Con người cần hiểu đầy đủ và học điều khiển quy luật này. Nhưng nhà Phật lại đề cao quá mức quy luật chuyển hóa nhân quả, nhất là khi đem nó áp vào báo ứng đạo đức, làm cho luật nhân quả khoác thêm màu ý chí và bị giới hạn trong phạm vi tín ngưỡng thần linh.

Dù vậy, quả báo đạo đức của nghiệp lực vẫn có ý nghĩa xã hội rất lớn. Nó để lại ấn tượng sâu trong lòng mỗi người, tạo nên một sức ép tâm lý vô hình. Thiện có thiện báo, ác có ác báo, răn ác tích thiện, đã trở thành tiêu chuẩn đạo đức, về khách quan có tác dụng tích cực trong giữ gìn đạo đức chung của xã hội.

Duyên khởi: lý luận gốc và cũng khó nhất

Lý luận duyên khởi là lý luận quan trọng nhất, cũng khó nhất của Phật học. Duyên khởi nghĩa là mọi sự vật đều dựa vào một điều kiện nhất định mà sinh ra. Lý luận này gồm hai phần là duyên khởi và duyên sinh. Duyên sinh là do duyên mà sinh ra; duyên khởi chỉ khả năng sinh ra của sự vật. Nhân là năng sinh, quả là cái được sinh ra, nên duyên khởi là nhân, duyên sinh là quả. Có thể nói duyên khởi luận dựng trên quan hệ nhân quả của vạn vật, là nền của lý luận nhà Phật, và nội dung của nó là bàn về sự sinh thành của vũ trụ và bản thể của vũ trụ. Nhà Phật bất đồng với nhau về duyên khởi nên chia thành nhiều tông phái; điều ấy cho thấy lý luận này quan trọng đến mức nào.

Năm cách nói về chỗ khởi đầu của muôn vật

Cùng nhìn một dòng sông, người thấy nước, người thấy mạch ngầm, người thấy nguồn trên núi.

Thuyết duyên khởi chia làm bốn loại chính là vô tính duyên khởi, A lại da duyên khởi, nghiệp cảm duyên khởi và chân như duyên khởi, cộng thêm pháp giới duyên khởi của Hoa Nghiêm, từ đó thành các tông phái.

Vô tính duyên khởi, đường của Không tông

Vạn vật trên đời không thật có mà chỉ dựa vào điều kiện nhất định rồi sinh hoặc diệt, gọi là nhân duyên hòa hợp. Vô tính duyên khởi thuộc lý luận Trung Quán, do Tam luận tông truyền. Học phái Trung Quán phủ nhận sự sinh và diệt của sự vật, cho rằng các pháp không tự sinh, cũng không từ cái khác mà sinh, không cùng sinh, cũng không phải không có nhân, nên biết là vô sinh. Tức mọi sự vật đều không tồn tại độc lập, chỉ do một điều kiện nhân quả nhất định mà sinh hay diệt, nên cốt lõi của thuyết là tính không. Duyên khởi hữu và tự tính không là nền lý luận của Không tông.

A lại da duyên khởi, đường của Duy thức

Nền của thuyết này là xác định sự tồn tại của vạn vật có do cái biết của tâm hay không. Tâm lý là trung tâm, vừa là điểm xuất phát vừa là điểm kết thúc. A lại da thức là thức thứ tám, tức tàng thức, là nền của Duy thức học Đại thừa, truyền qua Duy thức tông với bộ Thành duy thức luận. Sự tồn tại của cảnh dựa vào hoạt động của thức, tức cái biết của con người. Tinh hoa của thuyết là thuyết hạt giống.

Nghiệp cảm duyên khởi, đường của Tiểu thừa

Thuyết này bắt nguồn từ Tiểu thừa, về sau các phái đều phát triển thêm. Then chốt là quả báo của nghiệp nhân: sự tồn tại của mọi vật đều nằm trong quan hệ nhân quả, rời quan hệ ấy thì sự vật không còn. Cụ thể là sự phát triển và chuyển hóa của hoặc, nghiệp, khổ, nhân quả nối nhau. Nhà Phật nói phiền não là bệnh của tâm, nghiệp là cái ác của thân, khổ là quả báo của sinh tử; bệnh trong tâm do duyên mà tạo ra cái ác của thân, cái ác ấy là nhân sinh ra quả sống chết, nên gọi là nghiệp cảm duyên khởi. Đó là căn cứ lý luận cho thuyết ba đời luân chuyển, thiện ác báo ứng.

Chân như duyên khởi, đường của Thiên Thai

Còn gọi là Như Lai tạng duyên khởi, bắt nguồn từ Đại thừa khởi tín luận. Ý chính là vạn vật trên đời đều bắt nguồn từ chân như. Chân như chỉ chân tâm, là chân chính như thực, là tâm trong sạch không vướng bụi. Kinh nói tâm ấy là tâm thanh tịnh của tự tính, cũng gọi là chân như, cũng gọi là Phật tính, pháp thân, Như Lai tạng, pháp giới, pháp tính. Nhà Phật xem chân như là tâm của vũ trụ, và là cội nguồn của muôn vật. Có thể nói chân như là một đấng tạo hóa không đổi, nguồn gốc của mọi sự vật do chân như tâm quyết định, đó là chân như duyên khởi luận. Thiên Thai tông nhấn mạnh tính cụ thực tướng: thực tướng chỉ mọi hiện tượng trong tự nhiên đều tồn tại tự nhiên, không tự sinh, cũng không từ cái khác sinh, và có quan hệ qua lại. Nhất niệm tam thiên là trong một ý niệm bao gồm mọi hiện tượng của vũ trụ. Thực tướng tức là chân như; vô tướng là chân không, không gì không là tướng là diệu hữu. Kinh Bát nhã nói tâm tính vốn trong, bị khách bụi làm nhiễm, tức phải rũ bụi mới thấy tính.

Pháp giới duyên khởi, đường của Hoa Nghiêm

Pháp là sự vật, giới là sự phân loại. Pháp giới duyên khởi cũng thuộc chân như duyên khởi, tức mọi hiện tượng đều từ chân như pháp tính mà khởi. Thuyết này bắt nguồn từ Hoa Nghiêm kinh: chân như vốn có Phật tính và pháp tính; Phật tính sinh ra mọi chúng sinh, pháp tính sinh ra mọi sự vật. Người lập tông là Pháp Tạng. Hoa Nghiêm kinh có câu ba đời là hư vọng, chỉ do một tâm làm ra, tức hiện thực bên ngoài là không, là giả, còn bản thể pháp tính mới là thật. Hiện thực bên ngoài với bản thể và hiện tượng của thế giới trong tâm là viên dung vô ngại, thực ra không có ranh giới.

Điều chung của các thuyết duyên khởi

Duyên khởi A lại da của Duy thức tông, duyên khởi chân như của Thiên Thai tông, duyên khởi pháp giới của Hoa Nghiêm tông đều cho rằng thế giới bên ngoài là không, chỉ có tâm, và bản thể là chân như tâm mới là chân thực. Cho nên ba phái đều xem nhẹ thế giới bên ngoài, tập trung nghiên cứu tâm thức và Như Lai tạng tâm, cùng hướng với Hữu tông. Còn Không tông thì nói nhân duyên hòa hợp, duyên khởi tính không, cho rằng cả thế giới trong lẫn ngoài đều là không.

Về mặt triết lý, duyên khởi nhấn mạnh sự liên hệ giữa các sự vật, nhất là quan hệ nhân quả. Qua bốn duyên sáu nhân, nó nhấn mạnh quan hệ khăng khít nhân quả giữa vạn vật, thậm chí đề cao việc dựa vào nhau để tồn tại đến mức cho rằng nhân duyên hòa hợp mới làm nên sự vật, từ đó thành nền của chữ không. Trừ Không tông, các thuyết duyên khởi còn lại đều lấy một thực thể sinh ra vạn vật như chân như, pháp giới, tâm thức để phủ nhận sự tồn tại thật của sự vật bên ngoài, và thành lý luận gốc của cả tư tưởng Phật học. Chính vì các thuyết này khác nhau mà đạo Phật chia thành nhiều tông phái, cho thấy duyên khởi giữ vị trí cốt lõi trong Phật học.

Nguồn: Dương Lực, Kinh điển văn hóa 5000 năm Trung Hoa - Tập 4, thuật lại có lược bớt.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Khuyên Thiện