Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Khuyên Thiện

Bài tổng quan

Sợi dây da đứt ba lần và chuyện Khổng Tử đọc Dịch

Đạo Học - Khuyên Thiện03/10/202610 phút đọc2 lượt đọc
Sợi dây da đứt ba lần và chuyện Khổng Tử đọc Dịch

Thẻ tre được xâu bằng dây da, và dây da ấy đã đứt tới ba lần vì một người đọc đi đọc lại cùng một quyển. Người ấy thở ra một lời mong thêm vài năm để hiểu trọn vẹn nó. Quyển ấy là gì, mà khiến cả một bậc thầy phải tiếc thời gian?


Người thầy đọc Dịch đến đứt dây buộc thẻ tre

Thời Khổng Tử chưa có giấy. Sách là những thẻ tre xếp song song rồi xâu lại bằng dây da. Người ta kể rằng về già ông mê kinh Dịch đến mức đọc đi đọc lại, dây da buộc thẻ tre đứt tới ba lần. Rồi ông thở ra một câu: nếu trời cho thêm vài năm nữa, ta sẽ hiểu trọn vẹn kinh Dịch.

Câu chuyện ấy được Sử ký ghi lại, và người đời sau tin nó đến nỗi có câu rằng biết Chu Dịch chỉ có Khổng Tử mà thôi. Khổng Khâu sinh năm 551, mất năm 479 trước Công nguyên, tự Trọng Ni, người nước Lỗ thời Xuân Thu, là nhà tư tưởng, nhà chính trị, nhà giáo dục và là người lập ra học phái Nho gia. Nhưng ông còn một danh hiệu ít người nhắc: cha đẻ của Dịch học. Công lao ấy chia làm ba mặt rõ rệt.

Mặt thứ nhất, ông là người đầu tiên nhìn ra giá trị của Chu Dịch và đưa nó vào hàng sáu kinh. Mặt thứ hai, ông chỉnh lý kinh Dịch và viết Dịch truyện, đưa vào đó những suy nghĩ mới, khiến quyển sách thoát khỏi vòng ràng buộc của bói toán để thành một tác phẩm đồ sộ về triết học và xã hội học. Mặt thứ ba, ông truyền kinh Dịch đi, để hào quang của nó chiếu sang cả văn hóa Trung Hoa lẫn thế giới. Người đời sau vì thế nói ông đã “chỉnh Xuân Thu, truyền Dịch kinh”.

Sáu bộ kinh và chỗ đứng mới của bộ Dịch vốn dùng để bói

Có những bộ cổ thư được cứu khỏi số phận của quyển bói chỉ vì có người chịu mở ra và đọc nghiêm túc.

Sau mười sáu năm rong ruổi qua sáu nước, hết hy vọng làm quan, Khổng Tử trở về quê mở trường dạy học. Trong lúc giảng dạy, ông chỉnh lý các văn bản cổ quan trọng của Trung Hoa, là Thi, Thư, Lễ, Nhạc, Dịch và Xuân Thu. Thiên Thiên vận của Trang Tử cũng nhắc đến sáu kinh ấy, và Sử ký chép rằng ba nghìn bài thơ xưa, ông gạt bớt, chỉ giữ lại những bài có giá trị về lễ nghĩa, cốt để chấn hưng vương đạo.

Lúc ấy Chu Dịch chỉ là một bộ sách bói. Khi được xếp vào hàng sáu kinh, nó thăng hoa thành sách kinh điển, rồi với tính chất độc đáo của mình, nó dần chiếm vị trí đầu trong sáu kinh và trở thành đại diện của văn hóa Trung Hoa. Ảnh hưởng của nó lên văn hóa xứ này không gì sánh nổi.

Khổng Tử còn đẩy Chu Dịch thêm một bước nữa: biến nó thành chuẩn tắc giáo hóa của Nho gia. Ông nhấn mạnh phần tích cực của sách, tính chủ động của con người và tính xã hội của nó. Hán thư nói rằng học phái Nho gia giúp bậc nhân quân thuận theo âm dương và sáng tỏ lễ giáo, dụng công trong sáu kinh, lưu tâm nơi lễ nghĩa, noi theo Nghiêu Thuấn, theo đường lối của Văn Vương, Võ Vương. Sử ký nói gọn: kinh Lễ để tiết chế người, kinh Nhạc để hòa dịu, kinh Thư để hướng dẫn việc làm, kinh Thi để đạt ý, kinh Dịch để giáo hóa, kinh Xuân Thu để dẫn dắt điều nghĩa.

Chữ “hóa” trong câu “Dịch dùng để giáo hóa” là chữ của luân lý và phong hóa. Dịch truyện viết: người quân tử vì thế mà tự cường không nghỉ; đạo lập nên người là nhân và nghĩa. Khi Chu Dịch đã vào đến trong Nho gia, ảnh hưởng của nó ngày một lớn, địa vị của nó ngày một cao. Hơn hai nghìn năm nay, Dịch với Nho bồi đắp nhau, trở thành xương sống của tư tưởng văn hóa Trung Hoa và in dấu sâu lên tinh thần và diện mạo của cả dân tộc.

Năm mươi tuổi học Dịch: một chữ gây cuộc tranh luận kéo dài

Trong Luận ngữ, thiên Thuật nhi, có một câu của Khổng Tử: cho ta thêm ít năm nữa, năm mươi tuổi học Dịch, thì có thể không mắc lỗi lớn. Đây là bằng chứng quan trọng nhất trong Luận ngữ về mối quan hệ giữa ông và Chu Dịch, khớp với đoạn trong Sử ký kể chuyện dây da đứt ba lần.

Chuyện bắt đầu rắc rối từ thời Đường. Lục Đức Minh, khi chú âm nghĩa cho Luận ngữ, ghi rằng người nước Lỗ đọc chữ “dịch” là “diệc”, và đề nghị chữ “học Dịch” nên đọc là “học, diệc”. Hiểu theo lối ấy, câu nói chỉ còn là: ta học thêm thì cũng có thể không lầm lỗi, và hoàn toàn không dính đến kinh Dịch. Một số học giả cận đại dựa vào đó phủ nhận mối quan hệ giữa Khổng Tử với Chu Dịch.

Học giả Lý Học Cần khảo cứu rất kỹ và đi đến kết luận ngược lại. Thời thượng cổ hai chữ “dịch” và “diệc” thuộc hai bộ vần khác nhau; mãi đến Tây Hán vẫn chưa thông nhau, chỉ về sau mới có hiện tượng đọc lẫn do âm gần giống nhau, lại qua miệng nhiều người nên sai khác. Bản chép là “dịch” mới có giá trị hơn. Ông còn cho thấy chương Thái Bá ngay sau là một chứng cứ phụ; Bạch Đình đời Nguyên cũng cho rằng hai đoạn ấy nên đọc liền nhau, đều là những lời thường ngày của thầy. Kim Cảnh Phương tán đồng. Kết quả là ta có thể yên tâm dùng câu “năm mươi tuổi học Dịch” trong Luận ngữ, và chuyện Sử ký chép Khổng Tử thích Dịch cũng có cơ sở chứ không phải bịa.

Cách chấm câu của Bạch Đình đáng để ý. Theo ông, hai đoạn Thuật nhi có thể thuộc cùng một chương nhưng chia làm hai tiết. Tiết thứ nhất là câu năm mươi tuổi học Dịch, đến lời “đó là điều thầy thường nói”. Tiết thứ hai là câu rằng Thi, Thư và việc giữ lễ, những điều ấy thầy đều thường nói đến. Nghĩa là Dịch đứng cạnh Thi, Thư, Lễ như những thứ thầy hay đem ra giảng, chứ không phải một chữ lạc loài. Với cách đọc ấy, câu nói của Khổng Tử trong Luận ngữ trở thành chứng cứ vững chắc cho việc ông học Dịch và dạy Dịch.

Những vết chân còn lại của Khổng Tử trong Dịch học

Một người thầy không chỉ học, mà còn đem điều mình học trao cho người khác; dòng truyền ấy kéo dài đến tận triều Hán.

Sử ký ghi lại dòng truyền kinh Dịch: Khổng Tử truyền cho Cù, Cù truyền cho Hãn Tí Tử Hoằng người nước Sở, Hoằng truyền cho Kiều Tử Dung Tì người Giang Đông, Tì truyền cho Chu Tử Gia Thụ người nước Yên, Thụ truyền cho Quang Tử Thừa Vũ, Vũ truyền cho Điền Tử Trang Hà người nước Tề, Hà truyền cho Vương Tử Trung Đồng, Đồng truyền cho Dương Hà. Dương Hà nhờ nghiên cứu Dịch mà đến niên hiệu Nguyên Sóc đời Hán Võ đế được phong làm Hán Trung đại phu. Tùy thư thì ghi rằng Khổng Tử viết Thoán, Hệ từ, Văn ngôn, Tự quái, Thuyết quái, Tạp quái rồi truyền cho Tử Hạ. Vì thế Hán thư xếp ông vào hàng “ba bậc thánh trị Dịch” cùng Phục Hy và Văn Vương.

Bảng sắp xếp công trình ấy có ba lớp. Phục Hy ngẩng xem tinh tú trên trời, cúi xem phép tắc dưới đất, xem vân trên mình chim thú, rồi đặt ra bát quái. Văn Vương theo mệnh trời mà hành đạo, dựa trên bát quái mà đặt sáu hào. Khổng Tử viết các thiên giải thích. Có thể nói Dịch qua tay ba thánh và ba thời cổ: Phục Hy là thượng cổ, Văn Vương là trung cổ, Khổng Tử là hạ cổ.

Ngoài sách vở, còn những lời nói rải rác. Hậu Hán thư chép chuyện Khổng Tử xem đến quẻ Ích và quẻ Tổn thì thở dài. Tử Hạ rời chỗ ngồi hỏi vì sao. Ông đáp: ta tự mình bớt thì sẽ được lợi, ta tự mình thêm vào thì sẽ mất, vì thế ta thở dài. Tử Hạ hỏi: vậy kẻ học không được lợi sao? Ông đáp: không phải thế, người có đạo đức không giành hết cho mình; kẻ học mà không vướng chuyện tự thêm cho mình, chỉ chuyên tâm trau dồi tri thức, thì lại thành người được tiếng khiêm nhường, nhờ khiêm cung mà giữ được địa vị. Luận ngữ, thiên Tử Lộ, chép ông trích một câu ở quẻ Hằng: không bền giữ đức đẹp thì có khi phải nhận điều xấu hổ. Lễ ký thì kể ông nói rằng mình rất thích đạo của nhà Ân nên đến nước Tống, nhưng không đủ chứng cứ, chỉ thấy điều ấy trong hai quẻ Càn và Khôn.

Những mẩu chuyện ấy chứng tỏ thời Khổng Tử, Chu Dịch đã lưu hành rộng rãi, và ông có nghiên cứu nó. Hồi đó người ta chỉ coi nó là sách bói, mà vương thất lẫn dân gian đều trọng việc bói, một nhà chính trị uyên bác như ông không có lý do gì để tránh nó. Vì thế ý kiến cho rằng Khổng Tử chưa hề tiếp xúc với Chu Dịch là một thiên kiến.

Cả chính sử cũng lặp lại điều ấy theo cách riêng của mình. Thái Sử Công trong Sử ký nhận xét rằng Khổng Tử về già thích Dịch, nhưng Dịch là thứ học thuật nghĩa lý sâu xa khó hiểu; nếu không phải người thông suốt việc người, thấu đạt tài năng của trời đất con người, thì ai đủ sức để ý đến nó? Hán thư, phần Nho lâm truyện, kể lại đúng chuyện đọc Dịch đến đứt dây ba lần rồi truyền lại cho môn đồ. Ba bộ sử Sử ký, Hán thư và Tùy thư đều nói Dịch truyện là do ông biên soạn: Sử ký nhắc các phần Thoán, Hệ, Tượng, Thuyết quái, Văn ngôn; Hán thư kể ông viết Thoán, Tượng, Hệ từ, Văn ngôn, Tự quái, cộng lại mười thiên; Tùy thư thêm Tạp quái rồi cho biết ông truyền chúng cho Tử Hạ.

Lời của người luôn mang Dịch bên mình

Có một tư liệu khai quật đáng chú ý: năm 1973, trong mộ nhà Hán ở Mã Vương Đôi, Trường Sa, Hồ Nam, người ta tìm được bản Chu Dịch chép trên lụa, trong đó có thiên Yếu. Thiên ấy kể Khổng Tử về già thích Dịch, ngồi thì để sách Dịch trên chiếu, đi thì bỏ vào túi mang theo bên mình. Ông nói trong đó có những lời để lại của người xưa, ông không yên tâm khi dùng nó để bói, nhưng thích lời lẽ của nó. Rồi ông nói thêm một câu như tự thú: những kẻ sĩ đời sau có nghi ngờ ta vì Dịch chăng?

Tử Cống, học trò ông, hỏi thẳng: thầy có tin bói cỏ thi không? Ông đáp: ta xem về đức, về nghĩa thôi; ta với các thầy cúng, thầy bói cùng đi một đường nhưng đến khác nơi.

Câu “đời sau có thể nghi ngờ ta vì Dịch” còn gợi nhớ lời Mạnh Tử kể về Xuân Thu. Thời suy, đạo mờ, tà thuyết bạo hành nổi lên, bề tôi giết vua, con giết cha, Khổng Tử sợ hãi nên viết Xuân Thu, và nói biết ta là ở sách Xuân Thu này, trách ta cũng ở sách Xuân Thu này. Cả hai cuốn, ông viết ra với một nỗi e dè: sợ hậu thế đàm tiếu. Điều này cho thấy mối quan hệ của ông với Dịch không phải của một độc giả thường.

Nguồn: Kinh điển văn hóa 5000 năm Trung Hoa - Tập 3 (Dương Lực), thuật lại có lược bớt.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Khuyên Thiện